Báo cáo thực tập thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án nơi thực tập - Pdf 48

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các giao dịch diễn ra trong cuộc sống
hàng ngày chứa đựng rất nhiều yếu tố phức tạp, diễn ra hết sức đa dạng, nhiều
chiều khiến cho chúng ta rất khó nắm bắt và lường được những khó khăn và hậu
quả của nó. Hình thức giao dịch thông qua hợp đồng là hình thức pháp lý được
ưa chuộng nhất. Bên cạnh đó hợp đồng cũng là cơ sở pháp lý đúng đắn nhất ghi
nhận sự giao kết giữa các bên, để bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp
xảy ra. Có thể nói rằng trong số các giao dịch bằng hợp đồng thì giao dịch trong
hợp đồng tín dụng là có nhiều vấn đề phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro
nhất. Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng được sử dụng nhiều trong các giao
dịch ở các tổ chức tín dụng, nhất là ở các ngân hàng. Đặc biệt là hợp đồng tín
dụng lại rất phức tạp và nhạy cảm nên nó rất dễ dẫn đến tranh chấp của các bên
trong hợp đồng. Chính vì yếu tố nhạy cảm trong việc thực hiện các hợp đồng tín
dụng nên tự nó đã tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, xung đột về lợi ích khó tránh khỏi.
Một khi lợi ích của một trong hai bên đã không đạt được sẽ dẫn đến mâu thuẫu,
hai bên không thể đi đến thoả thuận với nhau được thì lúc đó tranh chấp của các
bên trong hợp đồng tín dụng sẽ được đưa ra giải quyết ở toà án. Các vụ tranh
chấp hợp đồng tín dụng xảy ra nhiều và phức tạp. Là một sinh viên thực tập tại
toà án nhân dân huyên Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, tôi đã mạnh dạn chọn đề
tài:"Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án nơi thực
tập"để làm báo cáo thực tập. Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tôi đã hoàn
thành chuyên đề đúng theo quy định của nhà trường. Trong bài viết này với thời
gian có hạn và giới hạn của chuyên đề, chắc hẳn tôi không thể tránh khỏi những
thiếu sót, tôi mong nhận được sự góp ý từ phía thầy, cô để chuyên đề này được
hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin cám ơn!


PHẦN I: QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU,THU THẬP THÔNG TIN:
1. Thời gian thu thập thông tin:
Trong khoảng thời gian gần 3 tháng thực tập ở toà,dù là khoảng thời gian

Phương pháp thống kê: gồm 3 bước:


+ Bước thứ nhất: Thu thập các tài liệu cần thiết về các tranh chấp HĐTD xảy
ra theo thơi gian và lãnh thổ.
+ Bước thứ hai: Phân loại tài liệu: dựa vào mục đích, nguyên nhân của tranh
chấp; Dựa vào cách giải quyết tranh chấp…Phương pháp này giúp tôi có thể
nắm rõ tình tiết, diễn biến các vụ án.
+ Bước thứ ba: Phân tích, so sánh và tổng hợp các tài liêu, số liệu thống kê
thu nhận được.
Bằng việc vận dụng những phương pháp trên đã giúp em có thể nghiên cứu,
nắm rõ từng vụ án, đánh giá được các khía cạnh của vấn đề để xử lý thông tin
các vụ tranh chấp HĐTD một cách khách quan và chính xác nhất.
PHẦN II: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG Ở TOÀ ÁN HUYỆN HƯƠNG KHÊ- TỈNH HÀ TĨNH:
1 .Số liệu, thông tin các vụ án :
Trong thời gian 3 tháng thực tập tại toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh
Hà Tĩnh, tôi đã được tìm hiểu, nghiên cứu một số vụ án tranh chấp hợp đồng tín
dụng. Năm 2007 đã xảy ra 4 vụ tranh chấp HĐTD giữa ngân hàng và cá nhân;
kháng cáo có 2 vụ, trong 2 vụ kháng cáo thì có 1 vụ vẫn được giữ nguyên bản án
sơ thẩm, còn 1 vụ sửa đổi bản án sơ thẩm; năm 2008 xảy ra 5 vụ tranh chấp, số
vụ được kháng cáo là 2 vụ; trong đó có 1 vụ sửa đổi bản án sơ thẩm, 1 vụ y án;
số vụ được hoà giải là 1 vụ. Qua số liệu như trên có thể thấy rằng số vụ tranh
chấp HĐTD năm 2008 so với năm 2007 là có tăng nhưng cũng không đáng kể;
chỉ tăng 1 vụ. Do phân cấp thẩm quyền xét xử cho toà huyện; nên số vụ tranh
chấp giải quyết không nhiều, chủ yếu là tranh chấp HĐTD với giá trị không lớn
và cũng không phức tạp. Có nhiều vụ án khi ngân hàng khởi kiện ra toà thì các
bên thoả thuận được với nhau nên hoà giải thành. Ngoài ra có một số vụ có
kháng cáo là do HĐTD vay vốn với số tiền khá lớn, có tài sản thế chấp nên khi
có bản án của toà án, phía bị đơn lại không đồng tình với cách giải quyết của toà

thôn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ: Khối 5- Thị trấn huyện Hương Khê- tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: bà Trần Thị Hiền Lê
Chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Hương Khê.


Bị đơn: Ông Phạm Văn Thuận
Địa chỉ: Khối 4-thị trấn huyện Hương Khê-tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyên nhân xảy ra vụ tranh chấp đó là ngày 18/12/1995 và ngày
10/1/1996, ông Phạm Văn Thuận và bà Nguyễn Thị Quế thực hiện 2 hợp đồng
vay vốn ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thônhuyện Hương Khê-tỉnh Hà Tĩnh, để đầu tư chăn nuôi, phát triển sản xuất. Món
vay thứ nhất là: 2.000.000đ (Hai triệu đồng chẵn); món vay thứ 2 là 2.000.000đ
(Hai triệu đồng chẵn). Tổng số tiền của 2 món vay là 4.000.000đ (Bốn triệu
đồng chẵn).Mỗi món vay thực hiện trong kỳ hạn là 10 tháng.
Theo cam kết thì đến ngày 18/9/1996 hộ gia đình ông Phạm Văn Thuận phải
thực hiện nghĩa vụ trả số tiền cả gốc và lãi cho ngân hàng đối với món vay thứ
nhất; ngày 10/10/1996 phải thực hiện trả nợ gốc và lãi cho món vay thứ 2. Tuy
nhiên đến hạn, hộ ông Phạm Văn Thuận đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo
đúng quy định. Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn đã cử
cán bộ phối hợp với UBND xã Gia Phố tiến hành xác minh sự việc và lập biên
bản người vay vốn là hộ gia đình ông Phạm Văn Thuận bỏ trốn khỏi địa phương.
Sau đó, ban hành các thông báo nợ đến hạn và thông báo chuyển nợ quá hạn.
Đến tháng 5 năm 2003 qua xác minh ngân hàng biết được hộ gia đình ông Phạm
Văn Thuận về sinh sống và làm ăn tại khối 4 Thị trấn Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh,
nên đã tiếp tục đòi nợ hằng năm bằng việc ra các văn bản. Trong quá trình Ngân
hàng cử cán bộ đến đòi nợ, hộ ông Phạm Văn Thuận đều từ chối ký vào biên bản
làm việc với lý do vì cho rằng số nợ trên đã được khoanh nợ. Dù rằng trên thực
tế ngân hàng đã xác định hộ ông Phạm Văn Thuận không thuộc diện khoanh nợ
theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn huyện Hương Khê yêu cầu ông Phạm Văn Thuận trả số tiền nợ
gốc và lãi cụ thể như sau:
* Khế ước vay ngày 18/12/1995:
- Nợ gốc: 2.000.000đ (Hai triệu đồng)
- Lãi suất trong hạn (2,4%/tháng) tính từ ngày 18/12/1995 đến ngày
31/12/1996 là: 603.200đ


- Lãi suất quá hạn (3,6%/tháng) tính từ ngày 01/01/1997 đến ngày
28/5/2007 là 9.112.800đ
* Khế ước vay ngày 10/01/1996:
-Nợ gốc: 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
- Lãi suất trong hạn (1.85%/tháng) tính từ ngày 10/01/1996 đến ngày
31/12/1996 là 461.000đ.
- Lãi suất quá hạn (2.92%/tháng) tính từ ngày 01/01/1997 đến ngày
28/05/2007 là 7.406.000đ.
* Tổng cộng 2 khế ước vay:
- Nợ gốc: 4.000.000đ. (Bốn triệu đồng)
-Nợ lãi : 17.584.000đ (Mười bảy triệu năm trăm tám mươi tư nghìn đồng)
- Tổng số : 21.584.000 (hai mươi mốt triệu năm trăm tám tư nghìn
đồng).
Toà xét việc yêu cầu trả nợ của chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn huyện Hương Khê buộc ông Phạm Văn Thuận phải trả nợ tiền
gốc và lãi như trên là phù hợp, đúng quy định tai điều 474 và điều 476 của Bộ
luật tố tụng dân sự 2005.

Toà án Huyện đã quyết định:
1. Áp dụng điều 471; khoản 1 và 5điều 474; khoản 1 điều 476 của Bộ luật
Dân sự 2005;

làm việc với gia đình bà Lan, ông Hùng yêu cầu trả nợ hoặc bàn giao tài sản thế
chấp cho ngân hàng để xử lý như đã cam kết trong hồ sơ vay vốn, nhưng gia
đình bà Lan, ông Hùng không thực hiện. Vì vậy, ngân hàng làm đơn khởi kiện
yêu cầu bà Lan, ông Hùng phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tính
đến ngày khởi kiện là 170.040.000 (Một trăm bảy mươi triệu, không trăm bốn
mươi nghìn đồng). Nếu như bà Lan, ông Hùng không trả nợ thì yêu cầu Toà án
phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ cho Nhà nước.
Bị đơn là bà Võ Thị Lan đã thừa nhận là bà đã làm thủ tục vay vốn ở ngân
hàng, tài sản thế chấp là một ngôi nhà 3 gian trên diện tích đất 150m 2 của vợ
chồng bà có tại khối 10, Thị trấn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Số tiền vay là
50.000.000 đồng, thời hạn vay 6 tháng. Mục đích vay của 2 vợ chồng bà Lan là
cho bà Hương vay lai bằng hình thức đảo nợ, nên bà mới làm toàn bộ thủ tục
vay vốn cũng như khế ước nhận nợ, nhưng trên thực tế bà không cầm tiền.


Kể từ khi vay cho đến nay bà Lan chưa thanh toán cho ngân hàng đồng nào
kể cả gốc và lãi. Do bà bị bà Hương lừa nên bà xin ngân hàng cho được trả nợ
gốc còn lãi thì xin miễn cho bà.
Toà án Huyện nhận định:
Vào ngày 20 tháng 3 năm 1996, bà Võ Thị Lan làm thủ tục vay vốn Chi
nhánh ngân hàng Nông nghiệp huyện Hương Khê, Hà Tĩnh với số tiền là
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
-Thời hạn vay: 06 tháng
- Lãi suất :1,75%/tháng
- Lãi suất quá hạn: 2,92%/tháng.
Tài sản thế chấp là ngôi nhà 3 gian trên diện tích đất 150m 2 có tại Khối 10,
Thị trấn huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Tổng trị giá tài sản thế chấp là
200.000.000 đồng có xác nhận của công chứng nhà nước.
Xét thấy việc bà Lan khai đã làm đầy đủ thủ tục để nhận tiền vay từ ngân
hàng nhưng bà không nhận được tiền là không có căn cứ. Qua xem xét hồ sơ, bà

PHẦN III: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT VÀ KHÓ KHĂN TRONG
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HĐTD Ở TAND HUYỆN
HƯƠNG KHÊ:

1. Thuận lợi:
Các vụ án tranh chấp tín dụng xảy ra trên địa bàn huyện Hương Khê chủ yếu
là giữa ngân hàng với cá nhân, có giá trị vay vốn cam kết trong hợp đồng không
lớn, ít vụ có tình tiêt phức tạp nên đã tạo thuận lợi cho các thẩm phán ở cấp
huyện với trình độ chuyên môn chưa cao trong việc giải quyết các vụ án về hợp
đồng tín dụng. Điều đó giúp cho các thẩm phán dễ dàng giải quyết các tranh
chấp cũng như tìm ra các cơ sở pháp lý trong việc đưa ra các bản án đúng pháp
luật.
Không chỉ thế, việc giải quyết tranh chấp về HĐTD hiện nay cũng rất thuận
lợi khi hệ thống pháp luật để giải quyết tranh chấp được quy định trong các luật
và văn bản dưới luật một các cụ thể, rõ ràng trong hoạt động cho vay tín dụng
ngân hàng. Đó là Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2004, Luật
ngân hàng nhà nước, Bộ Luật dân sự 2005; cùng các văn bản dưới luật: quy định


về điều kiện cho vay, quy chế bảo đảm tiền vay, pháp luật đăng kí giao dịch bảo
đảm. Như vậy, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ tín dụng ngân hàng quy
định khá đầy đủ đã tạo nên nền tảng pháp vững chắc cho thẩm phán ở toà huyện
nhanh chóng tìm ra được hướng giải quyết cũng như đưa ra quyết định một cách
thấu đáo.
Trên đây là một số thuận lợi mà tôi nhận thấy nó đã góp phần thúc đẩy quá
trình giải quyết quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD được nhanh chóng và
thuận tiện hơn. Tuy nhiên, trong việc giải quyết các tranh chấp HĐTD còn một
số vấn đề bất cập, khó khăn cần phải sửa đổi, khắc phục về phần pháp luật cũng
như năng lực xét xử của thẳm phán; ý thức của các bên trong tranh chấp làm sao
cho việc giải quyết tranh chấp HĐTD có hiệu quả hơn.

lực thường xuyên. Tuy nhiên các thẩm phán ở toà huyện còn một số khó khăn
trong việc cập nhật kiến thức mới, trình độ giải quyết tranh chấp HĐTD còn hạn
chế. Các thẩm phán chưa có kinh nghiệm nhiều trong giải quyết tranh chấp
HĐTD. Nhiều khi các thẩm phán chưa nắm bắt được hết các quy định trong
Luật ngân hàng, Luật Các tổ chức tín dụng, các thẩm phán xét xử các tranh chấp
chủ yếu dựa vào Bộ Luật dân sự 2005. Do thẩm phán ở toà huyện còn hạn chế
vốn kiến thức về tín dụng ngân hàng nên cũng là một khó khăn cho việc giải
quyết tranh chấp HĐTD.
2.2 Pháp luật phục vụ giải quyết tranh chấp chưa hoàn thiện :
Việc giải quyết các tranh chấp về HĐTD hiện nay được quy định khá nhiều
trong các văn bản pháp luật khác nhau : Luật ngân hàng nhà nước, Luật các tổ
chức tín dụng, Bộ Luật dân sự và được hướng dẫn cụ thể trong các văn bản dưới
luật. Chính vì pháp luật điều chỉnh trong nhiều các văn bản pháp luật như vậy
nên nó đã có phần nào không được thống nhất, gây nên sự chồng chéo và chưa
rõ ràng. Vì thế gây nên khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay
vốn giữa ngân hàng với cá nhân và tổ chức.
Bên cạnh đó, pháp luật các quy định cho vay, quy chế bảo đảm tiền vay và
pháp luật đăng kí giao dịch bảo đảm còn chưa phù hợp. Do pháp luật quy định :
ngân hàng có thể định giá tài sản khi 2 bên không thoả thuận được, tại điều 25
Quy chế cho vay quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống
đốc Ngân hàng nhà nước về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng quy
định:"Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có


thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay
theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật",
pháp luật quy định không rõ, chưa cụ thể nên đã làm mất nhiều thời gian xác
định quyền hạn của ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Một số quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay và pháp luật đăng kí giao dịch
bảo đảm cũng cần được hoàn thiện. Trên thực tế, Nghị định 163/2006/CP ban

sang tên trước bạ quy định phải có sự đồng ý của chủ sở hữu. Một khi khách
hàng không thiện chí, cố tình không đồng ý ký tên làm sang tên trước bạ thì
ngân hàng phải đón nhận nguy cơ rủi ro rất cao, không thể hoàn thành thủ tục xử
lý tài sản để thu hồi nợ. Dẫn đến quá trình khởi kiện giải quyết ở toà án mất
nhiều thời gian và công sức hơn.
Theo quy định của pháp luật cho phép ngân hàng được xử lý tài sản bảo đảm
tiền vay để thu hồi nợ nhưng trên thực tế ngân hàng không thể chủ động xử lý
được số tài sản này. Liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp, Nghị định
163/2006/NĐ-CP ban hành ngày 29/12/2006 của Chính phủ cho phép các tổ
chức tín dụng được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp,
nhận các khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền
đòi nợ, phương thức khác do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không
thỏa thuận được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất thì các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được, các
bên lại phải ký hợp đồng ủy quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm quyền. Nhiều
trường hợp bên thế chấp không chấp nhận thì không thể bán đấu giá, khi đó
cũng không có cơ chế cho tổ chức tín dụng được tự bán đấu giá tài sản để thu
hồi nợ.
Ngoài ra, việc xử lý tài sản bảo đảm còn gây khó khăn cho quá trình giải
quyết tranh chấp khi một số đơn vị, cá nhân thực thi pháp luật còn chưa nghiêm
túc.Sau khi các khoản nợ đã đựoc cơ quan pháp luật xét xử, bản án đã có hiệu
lực pháp luật và được chuyển cho cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án
thì việc thu hồi nợ ở khâu này còn quá chậm. Người phải thi hành cố tình không
chấp hành án. Bên cạnh đó đơn vị thi hành án không thường xuyên theo dõi,
thúc nhắc người phải thi hành án và cơ quan thi hành án thực thi bản án. Nhiều
khi việc thi hành quyết định của toà án còn chậm và kém hiệu quả. Điển hình là


trường hợp người vay vốn có thế chấp bằng bất động sản và đất ở, do không trả
được nợ ngân hàng khởi kiện và được toà án quyết định phát mại tài sản để thu

gian tự nguyện, biên bản làm việc của 2 bên tại cơ quan thi hành án, quyết định
cưỡng chế về việc kê biên định giá phát mãi tài sản, … Rườm rà như vậy, nên cơ
quan thi hành án không bao giờ thi hành đúng thời hạn như quyết định của bản
án. Nhiều khi trường hợp ngôi nhà là tài sản của 2 vợ chồng, nhưng ông chồng
đưa đi thế chấp mà không được sự đồng ý của vợ hay trường hợp ngôi nhà được
đưa đi thế chấp có công sức đóng góp của người con 18 tuổi nhưng ông bố đưa
đi thế chấp ở ngân hàng mà không có chữ kí đồng thuận của người con. Chính
những thực tế này đã gây ra thủ tục giải quyết tranh chấp rắc rối hơn, mất nhiều
thời gian hơn.
2.6. Cơ chế giải quyết tranh chấp còn chưa phù hợp:
Một nguyên nhân xảy ra các tranh chấp HĐTD đó là coi nhẹ việc đăng ký ở
cơ quan đăng ký tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, một khó khăn nữa trong cơ chế
giải quyết tranh chấp là không có sự phối hợp giữa cơ quan cấp lại giấy đăng ký
quyền sở hữu và ngân hàng. Vì 2 cơ quan này hoạt động độc lập với nhau nên có
một thực tế xảy ra là nếu một người đã thế chấp ở ngân hàng quyền sử dụng đất,
nhưng lấy lý do làm mất giấy chứng nhận quyền sử dung đất để yêu cầu cơ quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lại.

Hành lang pháp lý cho hoạt

động giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, đồng bộ và thiếu thống nhất giữa các
văn bản, việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan
khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý. Đã có trường hợp xe ôtô được đăng ký tại
Phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố nhưng khi cầm cố lại được
đăng ký tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, chủ xe thế chấp ôtô để
vay tiền, sau đó lại báo mất đăng ký để xin cơ quan công an cấp lại rồi bán xe
cho người khác và làm thủ tục sang tên mà không bị phát hiện. Đây là một kẽ hở
của pháp luật làm cho quyền lợi của ngân hàng bị thiệt hại mà còn tạo cơ hội
cho người dân làm trái với quy định của pháp luật.


Trong việc định giá tài sản bảo đảm: Hiện nay pháp luật đang giành quyền
chủ động định giá cho ngân hàng trong trường hợp các bên không thoả thuận giá


của tài sản bảo đảm. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên
nên cần được pháp luật nhìn nhận lại để dung hoà được lợi ích của cả ngân hàng
và khách hàng. Ngân hàng do có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ nên
nhiều khi ngân hàng đã bán tài sản bảo đảm với giá thấp hơn giá trị tài sản theo
giá thị trường. Vấn đề đặt ra là pháp luật cần sửa đổi, bổ sung theo hướng:khi
ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo đảm thì việc định giá tài sản phải do tổ
chức định giá chuyên nghiệp thực hiện; có thể là một cơ quan chuyên môn hoặc
một tổ chức định giá hoạt động độc lập.
Các cơ quan hữu quan có thẩm quyền trong việc công chứng hợp đồng
chuyển nhượng cần có thiện chí, có trách nhiệm tạo điều kiện hỗ trợ khi có yêu
cầu của ngân hàng để xử lý tài sản bảo đảm nhanh chóng và đơn giản hoá thủ
tục vốn đã rườm rà hiện nay.
1.3. Cơ chế giải quyết tranh chấp cần sửa đổi để phù hợp với thực tiễn:
Để bảo đảm quyền lợi cho ngân hàng cũng như người đi vay đối với tài sản
thế chấp thì pháp luật cần quy định thống nhất, rõ ràng về nghĩa vụ đăng ký ở cơ
quan đăng ký bảo đảm.
Đồng thời trong việc thực hiện các HĐTD cần có sự phối hợp giữa cơ quan
cấp lại giấy và cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, để hạn chế được tình trạng
một tài sản được thế chấp ở cả 2 ngân hàng. Đối với tài sản thế chấp là phương
tiện giao thông như xe máy khi thế chấp cũng phải đăng ký ở cơ quan đăng ký
bảo đảm để phối hợp với ngân hàng dễ kiểm soát. Hệ thống đăng ký giao dịch
bảo đảm cần tập trung về một cơ quan để việc thực hiện đăng ký được thống
nhất. Mở kênh riêng hoặc lập trang web thông tin pháp lý về tài sản là quyền sử
dụng đất, nhà ở để các tổ chức tín dụng được quyền truy vấn các thông tin này
nhằm tiết kiệm thời gian. Có tạo nên một hệ thống chặt chẽ như vậy thì các tranh
chấp HĐTD mới được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả.

quan công an và cơ quan thi hành án để làm cơ sở pháp lý trọng việc cưỡng chế
thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm.


Đồng thời Nhà nước cần ban hành luật đăng ký giao dịch bảo đảm để nâng cao
giá trị pháp lý và ổn định. Tạo cơ sở pháp lý nhằm tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm hiện nay.

2.Các đề xuất đảm bảo thực hiện:
Nếu như việc hoàn thiện pháp luật góp phần tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc
thì các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện góp phần củng cố cơ chế giải quyết
tranh chấp HĐTD được hiệu quả và đúng đắn hơn.
2.1. Thẩm phán cần được bồi dưỡng kiến thức mới:
Thẩm phán là người có vai trò"cầm cân nảy mực" trong quá trình giải quyết
vụ án. Vì vậy, đội ngũ thẩm phán phải có năng lực, luôn cập nhật những kiến
thức mới và có kinh nghiệm dày dặn thì mới nắm bắt, giải quyết được các vấn
đề một cách tốt nhất. Do đội ngũ thẩm phán ở toà huyện còn hạn chế trong việc
bồi dưỡng kiến thức mới nên việc giải quyết các vụ án, Đặc biệt là các vụ án
tranh chấp HĐTD còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Chính vì thực tiễn như vậy đòi
hỏi cần tăng cường, bồi dưỡng kiến thức cho các thẩm phán, bồi dưỡng cho
những quy định mới về giải quyết tranh chấp HĐTD. Công việc đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ thẩm phán một cách thường xuyên, đầy đủ thì mới nâng cao chất
lượng và hiệu quả xét xử của họ ở các toà án huyện.
2.2. Phân công thẩm phán mới được đào tạo giải quyết các tranh chấp
HĐTD:
Cần phân công thẩm phán mới được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới để
họ có thể nhanh nhạy, linh hoạt xử lý các vấn đề trong vụ án một cách có hiệu
quả nhất. Không những thế, khi phân công thẩm phán có trình độ, có kiến thức
mới cập nhật, am hiểu sâu về HĐTD thì họ mới có cái nhìn đứng đắn về các vấn
đề cụ thể và mới phát sinh để từ đó thẩm phán có thể xét xử, đưa ra được phán

được bồi dưỡng thường xuyên để luôn cập nhật kiến thức mới cùng với ý thức
của người dân cần được nâng cao.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD ở toà huyện đã được giải quyết đúng
trình tự, giải quyết các vấn đề trong tranh chấp đúng đắn, đưa ra phán quyết hợp
lý. Tuy rằng, việc xét xử của toà án còn một số bất cập nhưng chúng ta không
thể phủ nhận sự nỗ lực lớn lao, không ngừng của đội ngũ thẩm phán ngành toà
án huyện Hương Khê-tỉnh Hà Tĩnh./.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Ngân hàng nhà nước.
2. Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004.
3. Bộ Luật Dân sự năm 2005.
4. Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy
chế cho vay của ổ chức tín dụng với khách hàng.
5. Quyết định số 127/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 về việc sửa đổi,bổ sung một
số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban
hành theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban
hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng.
6. Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.
7. Nghị định của Chính Phủ số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký
giao dịch bảo đảm.
8. Giáo trình Luật Ngân hàng Nhà nước Viêt Nam, trường Đại học Luật Hà
Nội,Nxb Công an Nhân dân, 2007.
9. Một số tạp chí Ngân hàng các năm 2007, 2008, 2009.
10. Các trang wep:
http://www.vntrades.com
http://vietnamnet.vn
11. Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2008/DSST ngày 18/9/2008.
12. Bản án Dân sự sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 28/5/2007.

http://vietnamnet.vn
29. Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2008/DSST ngày 18/9/2008.
30. Bản án Dân sự sơ thẩm số 03/2007/DSST ngày 28/5/2007.
31. Bản án Dân sự sơ thẩm số 09/2008/DSST ngày 31/12/2008.
32. Báo cáo tổng kết năm 2007, 2008, 2009 của Toà án nhân dân huyện
Hương Khê.
33. Sổ thụ lý án Dân sự từ năm 2005 – 2009 của Toà án nhân dân huyện
Hương Khê.
34. Sổ ra án Dân sự từ năm 2005 – 2009 của Toà án nhân dân huyện Hương
Khê.
35. Bảng thống kê hàng năm các loại án của Toà án nhân dân huyện Hương
Khê.
36. Một số tài liệu khác.


MỤC LỤC
Trang
A-LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………

1

B- NỘI DUNG: ………………………………………………….

2

PHẦN I: QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU, THU THẬP THÔNG TIN:
1.Thời gian thu thập thông tin:……………………………………. 2
2. Phương pháp thu thập thông tin:……………………………….. 2
PHẦN II: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HĐTD TẠI
TAND HUYỆN HƯƠNG KHÊ- TỈNH HÀ TĨNH:

2.4.Việc xử lý tài sản bảo đảm không đảm bảo quyền lợi các bên:

13

2.5. Thủ tục giải quyết tranh chấp rườm rà ,thời gian kéo dài:

15

2.6. Cơ chế giải quyết tranh chấp còn chưa phù hợp

16

PHẦN IV: NHỮNG ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ
1. Hoàn thiện pháp luật ……………………………..

17

1.1. Thời gian giải quyết tranh chấp cần được rút ngắn …..

17

1.2. Việc xử lý tài sản bảo đảm cần hoàn thiện để bảo vệ

17

quyền lợi các bên………………………………………..
1.3. Cơ chế giải quyết tranh chấp cần sửa đổi để phù hợp với

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status