TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
*****
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 38 (2012-2014)
Đề tài:
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN
HÀNH CHÍNH – THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
------------
Giáo viên hướng dẫn:
Ts. PHAN TRUNG HIỀN
Bộ môn Luật Hành Chính
Sinh viên thực hiện:
VÕ THỊ THÚY NHÂN
Lớp: Luật VB2 Đồng Tháp
MSSV: S1200057
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
……….………...
………………………………………………………………………………………..
.….……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………..
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
đã có nhiều thay đổi tích cực, giải quyết tốt các loại án hình sự, dân sự, hôn nhân và
gia đình…, nhưng đặc biệt trong đó thì chỉ có riêng án hành chính thì đang được
quan tâm rất nhiều vì gặp phải một số vướng mắc. Theo quy định tại Điều 11 của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung
1998 và năm 2006), thì các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
được liệt kê từ 8 loại việc bổ sung lên thành 10 và 22 loại việc. Mặc dù, Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính qua ba lần sửa đổi, bổ sung và ngày
24/11/2010 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật tố tụng hành
chính 2010 gồm 18 chương, 265 điều. Có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 nhưng thực
tiễn xét xử án hành chính những năm qua cho thấy các quy định của Luật tố tụng
hành chính 2010, đã bộc lộ những hạn chế và bất cập, làm giảm hiệu quả giải quyết
các vụ án hành chính của Tòa án cũng như gây trở ngại cho cá nhân, cơ quan, tổ
chức khởi kiện vụ án hành chính. Để Tòa hành chính hoạt động có hiệu quả và đáp
ứng yêu cầu kịp thời, đầy đủ đúng nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách đến năm 2020. Đồng thời, để hiểu
rõ hơn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân Tỉnh trong việc giải quyết các vụ án
hành chính. Người viết lựa chọn đề tài “Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành
chính thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp” để làm luận văn kết thúc
khóa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Được làm việc và học hỏi thực tế tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong quá
trình xét xử các vụ án hành chính, thấy được những điểm chưa hợp lý, những vướng
mắc khi áp dụng quy định pháp luật vào thực tế, qua đó đưa ra những kiến nghị
nhằm hoàn thiện chế định thẩm quyền của Tòa án nhân dân Tỉnh trong quá trình
giải quyết vụ án hành chính.
3. Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề nghiên cứu của đề tài tập trung vào quy định của pháp luật về
Trong chương này, người viết làm rõ các quy định về thẩm quyền giải quyết
khiếu kiện của Tòa án trong Luật tố tụng hành chính năm 2010, trong quá trình giải
quyết vụ án hành chính sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết khiếu
kiện hành chính: thực tiễn, vướng mắc và một số kiến nghị.
Chương này người viết giới thiệu sơ lược về Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp,
tìm hiểu thực trạng giải quyết khiếu kiện vụ án hành chính, biết được những điểm
thuận lợi và những điểm còn vướng mắc khó khăn, từ những điểm vướng mắc khó
khăn đó, người viết đưa ra những hướng giải quyết, kiến nghị nhằm hoàn thiện chế
định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án.
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
2
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN HÀNH CHÍNH
Trong hoạt động quản lý, điều hành, các cơ quan hành chính nhà nước, cán
bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện công vụ, ban hành các
quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính có thể xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức làm phát sinh các khiếu kiện hành
chính tại Tòa án. Như vậy, các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
hợp pháp của mình. Với nghĩa này thì khái niệm khiếu kiện hành chính đồng nhất
với khái niệm khởi kiện hành chính.
Như vậy, khiếu kiện hành chính là để chỉ việc cá nhân, cơ quan, tổ chức phản
đối một quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước. Khi
cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó là trái pháp luật xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình và yêu cầu Tòa án phải xem xét, đánh
giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.1.3. Khái niệm quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định
kỷ luật buộc thôi việc
Theo quy định của Luật tố tụng hành chính 2010 thì quyết định hành chính,
hành vi hành chính,2 quyết định kỷ luật buộc thôi việc là đối tượng của khởi kiện vụ
án hành chính. Nhưng đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang
tính nội bộ của từng cơ quan, tổ chức để quản lý, điều hành chỉ đạo hoạt động của
các cơ quan, tổ chức này thì không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
1.1.3.1. Quyết định hành chính
Theo khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 đưa ra khái niệm:
“Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết
định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần
đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.3 Khái niệm trên cho thấy điều kiện để
được chấp nhận là một quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án thì phải thỏa mãn các đặc điểm sau:4
Thứ nhất, chủ thể ban hành quyết định hành chính là cơ quan hành chính nhà
bản, vừa được thực hiện thường xuyên và thể hiện rõ nhất chức năng quản lý hành
chính là việc cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chức khác hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp
luật, tức là văn bản cá biệt dưới dạng các quyết định hành chính. Các quyết định
này trực tiếp tác động đến quyền, lợi ích của các đối tượng có liên quan, đến các cá
nhân.
Nội dung quyết định hành chính luôn tồn tại những quy định có tính ràng buộc
pháp lý làm xuất hiện, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyền và nghĩa vụ của chủ thể
trong một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.
Cho nên, quyết định hành chính được ban hành trái pháp luật, gây thiệt hại đến
quyền, lợi ích của công dân thì nó sẽ bị phản ứng và làm phát sinh các khiếu kiện
hành chính. Đây là đặc điểm có ý nghĩa quan trọng thể hiện tính chất pháp lý của
một tranh chấp hành chính có thể xuất hiện nhu cầu bảo vệ trước Tòa án. Đồng thời,
đặc điểm trên cho phép xác định một quyết định xuất hiện mới sau thủ tục khiếu
nại, hoặc trong quá trình tố tụng, khi nào thì trở thành một quyết định hành chính
thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Một quyết định xuất hiện mới sau thủ
tục khiếu nại hoặc trong quá trình tố tụng chỉ nhắc lại nội dung của một quyết định
hành chính trước đó không xuất hiện những biện pháp hành chính mới không được
coi là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Nếu trong
quyết định giải quyết khiếu nại hoặc trong quyết định được ban hành trong quá trình
tố tụng có xuất hiện những biện pháp hành chính mới, thì quyết định đó được xác
định là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Thứ ba, quyết định được ban hành trong khuôn khổ thực hiện quyền lực hành
chính, thể hiện ý chí đơn phương trong mối quan hệ quyền lực giữa nhà nước với
công dân và được áp dụng đối với một hoặc một số trường hợp cụ thể, cho một cá
nhân, tổ chức hoặc một nhóm người nhất định thường được gọi là quyết định hành
chính cá biệt. Đặc điểm này giúp phân biệt quyết định hành chính thuộc đối tượng
khởi kiện vụ án hành chính với các loại hành chính mang tính chủ đạo, quyết định
hành chính mang tính quy phạm hay các quyết định hành chính trong nội bộ công
sở mang tính chỉ đạo, điều hành.
hành chính, Tòa án yêu cầu người khởi kiện phải làm rõ điều, khoản cụ thể làm căn
cứ để ra quyết định hành chính.5
1.1.3.2. Hành vi hành chính
Ngoài hình thức ra văn bản chứa đựng nội dung quyết định, thì một hình
thức quản lý hành chính nữa cũng được thực hiện phổ biến thường xuyên, liên tục,
đó là hành vi hành chính. Cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện các hành vi này trên cơ sở
các quy định của pháp luật hoặc trên cơ sở của các quyết định hành chính. Việc
5
Báo cáo chuyên đề rút kinh nghiệm về những sai sót trong quá trình giải quyết án hành chính của
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án tỉnh Đồng Tháp, tháng 8, năm 2014, tr.5.
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
6
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của công
dân cũng sẽ làm phát sinh các khiếu kiện hành chính.6
Theo khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010 đưa ra khái niệm:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác hoặc của người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc
không thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.7
Xem khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
7
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
pháp luật về thẩm quyền, thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó và phân
biệt như sau:
Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự
phân công hoặc uỷ quyền, uỷ nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành
chính của người đã thực hiện hành vi hành chính đó;
Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể đó là hành vi hành chính của
người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân
công, uỷ quyền, uỷ nhiệm cho người khác thực hiện;
Ví dụ: Theo quy đinh của pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là
người có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông D, nhưng đã ủy nhiệm cho Phó Chủ
tịch ủy ban nhân dân xã H trực tiếp tổ chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này,
việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là
hành vi hànhchính của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã H mà không phải là hành vi
này mới là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Đối với các hình thức còn lại thì
công dân không được quyền kiện ra Tòa mà có quyền khiếu nại, vì công chức
không phải bị mất việc làm và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống.8
Theo khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc
thẩm quyền quản lý của mình. 9
Như vậy, quyết định kỷ luật buộc thôi việc phải thể hiện dưới hình thức quyết
định, người bị kỷ luật phải là công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương
đương trở xuống. Cho nên phạm vi quyết định kỷ luật buộc thôi việc thuộc đối
tượng bị khởi kiện chỉ giới hạn về chủ thể bị kỷ luật mà không phụ thuộc vào cơ
quan làm việc của chủ thể đó, mới là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính.
1.1.4. Khái niệm vụ án hành chính
Vụ án hành chính là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính có thẩm quyền do có
cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức khởi kiện ra trước Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình.10
Như vậy, vụ án hành chính phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện
yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước.
8
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc cũng đối tượng khởi kiện vụ án hành là chính, Minh Tâm,
http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1376:quytnh-k-lut-buc-thoi-vic-cng-la-i-tng-khi-kin-v-an-hanh-chinh&catid=118:k-nng-tranh-tng-trong-v-anhanh-chinh&Itemid=121, [truy cập ngày 26/8/2014].
Xem tại khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
Diệp Thành Nguyên: Giáo trình pháp luật về khiếu nại và khiếu kiện hành chính, Khoa Luật,
Trường Đại học Cần Thơ, tháng 5 năm 2012, tr.25.
9
1.1.5. Khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án
Để phân biệt phạm vi hoạt động thì mỗi cơ quan nhà nước đều có chức năng,
nhiệm vụ mà luật đã quy định, để thực hiện quyền hoạt động trong một lĩnh vực
nhất định. Sự phân biệt thẩm quyền là điều kiện cần thiết cho cơ quan nhà nước đặc
biệt là Tòa án hoạt động xét xử không chồng chéo thẩm quyền lên nhau. Thẩm
quyền của Tòa án theo Luật tố tụng hành chính năm 2010 là thẩm quyền bắt buộc, ý
bắt buộc ở đây là khác với Luật tố tụng dân sự, trong Luật tố tụng hành chính năm
2010 không có thẩm quyền theo sự lựa chọn hay sự thỏa thuận giữa các đương sự
với nhau.Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án là quyền hạn,
trách nhiệm của Tòa án được nhân danh quyền lực nhà nước trong phạm vi chức
năng của mình để tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp
pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
10
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
thủ tục tố tụng do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực hành pháp.11
1.2. Vị trí, vai trò của Tòa hành chính và các loại thẩm quyền giải quyết khiếu
kiện hành chính của Tòa án
1.2.1. Vị trí, vai trò của Tòa hành chính
Tòa án là cơ quan tư pháp, thực hiện quyền tư pháp trong hệ thống Bộ máy
nhà nước có vai trò, chức năng quan trọng là cơ quan xét xử duy nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.12
13
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
11
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước,
cơ quan tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan tổ chức đó thì có
quyền khởi kiện ra Tòa hành chính. Tòa án có vai trò đặc biệt trong việc bảo đảm
tôn trọng quyền công dân, quyền con người và tạo ra cơ chế kiểm tra giám sát. Vai
trò của Tòa án được quyết định bởi chức năng của Tòa Hành chính là xét xử về án
hành chính. Khởi kiện vụ án hành chính là phương thức hiệu quả để cá nhân, tổ
chức tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án khi phát sinh tranh
chấp hành chính với cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Với
việc khởi kiện vụ án hành chính, các cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua hoạt động tố tụng
hành chính công khai. Ở đây, Tòa án có thẩm quyền thực hiện việc giải quyết tranh
chấp hành chính với tư cách như là sự kiểm tra của cơ quan tư pháp đối với quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành pháp trong những trường
hợp cụ thể. Thẩm quyền này được nhận định là sự kiểm tra từ bên ngoài đối với
quyết định hay hành vi hành chính của cơ quan hành chính, do Tòa án tiến hành.
Xuất phát từ thẩm quyền phán xét độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, không chịu các
áp lực xã hội (tôn giáo, đạo đức, hay ảnh hưởng của cá nhân), cho nên nếu so sánh
với việc khiếu nại hành chính thì có thể thấy việc khởi kiện vụ án hành chính có
1.2.3. Các loại thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án
Việc giải quyết một vụ án hành chính để đưa ra một phán quyết công bằng thì
phân loại thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án có ý nghĩa quan
trọng, góp phần nhận thức đúng đắn về phân định thẩm quyền của Tòa án. Hoàn
thành tốt nhiệm vụ mà thẩm quyền không bị chồng chéo lên nhau. Vì vậy mà Luật
tố tụng hành chính năm 2010 phân loại thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính
của Tòa án như sau:
Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án về quyết định hành
chính, hành vi hành chính;
Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án theo loại việc;
Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án theo lãnh thổ;
Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án theo cấp xét xử;
Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án trong các giai đoạn tố
tụng;
Thẩm quyền của Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc
xét xử các khiếu kiện hành chính;
Thẩm quyền của Tòa án trong việc ra bản án, quyết định giải quyết khiếu kiện
hành chính...14
Thẩm quyền của Tòa án được đề cập từ Điều 28 đến Điều 30 của Luật tố tụng
hành chính 2010. Ngoài ra, Điều 264 còn quy định thẩm quyền đặc biệt áp dụng đối
14
Nguyễn Thanh Bình: Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án, NXB Hà Nội 2004,
tr.92.
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
13
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
1.3.2. Giai đoạn từ ngày 05/01/1999 đến ngày 31/05/2006
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 được sửa đổi, bổ sung
năm 1998 có hiệu lực ngày 05/01/1999 quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân
trong giải quyết các vụ án hành chính có một số điểm thay đổi như sau:
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
14
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Thứ nhất, đối với các loại khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân được mở rộng từ 8 loại khiếu kiện tăng lên 10 loại khiếu kiện;15
Thứ hai, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án
nhân dân cấp tỉnh được bổ sung thêm khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc
của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản
lý của cơ quan, tổ chức đó;
Thứ ba, đối với thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm được tăng thêm thẩm
quyền đình chỉ việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm nếu việc xét xử phúc
thẩm cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. 16 Đối với trường hợp có nhiều
người kháng cáo thì Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm nhưng không xem xét nội dung
kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt.
Trong giai đoạn này, tuy có sửa đổi bổ sung một số thẩm quyền giải quyết
nhưng thẩm quyền giải quyết của Tòa án còn hạn chế, chưa nâng cao được vai trò
của Tòa án trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
1.3.3. Giai đoạn từ ngày 01/06/2006 đến ngày 30/06/2011
đối với khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội, danh sách bầu cử
Đại biểu Hội đồng nhân dân.18
Đối với thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong xét xử sơ thẩm đã
tăng thêm hai loại khiếu kiện là khiếu kiện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương trên cùng lãnh thổ với Tòa án giải quyết khiếu nại
đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn
luật sư và khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh.19
Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm
2006 đã bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính đối với Tòa án tối cao mà
chỉ quy định thẩm quyền xét xử phúc thẩm và thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tối cao,20 cụ thể là bỏ quy định thẩm quyền
giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với
những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa phúc thẩm,
Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao bị kháng nghị, bởi vì giai đoạn này Luật tổ
chức Tòa án nhân dân 2002 quy định tổ chức Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa
chuyên trách và bộ máy giúp việc mà không có Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao,21 thay vào đó là Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sẽ có thẩm
quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của các Tòa hành chính, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao bị kháng nghị.
Thông qua việc sửa đổi, bổ sung hai lần đối với Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính 1996 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các khiếu kiện
hành chính được nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân. Nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc nên Luật tố tụng hành chính năm 2010
được ban hành sau nhiều lần sửa đổi bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính năm 1996.
18
Xem khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 được sửa đổi, bổ
tiến hành khởi kiện vụ án hành chính, bên cạnh việc xem xét các điều kiện về chủ
thể, đối tượng khởi kiện, vụ việc có thể kiện ở đâu, Tòa cấp nào sẽ thụ lý là vấn đề
người khởi kiện cần quan tâm.
Tòa án ở nước ta tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnh thổ và trùng với cơ
quan hành chính cả về lãnh thổ lẫn về cấp, vì thế việc nghiên cứu thẩm quyền theo
cấp và theo lãnh thổ không tách rời nhau.
2.1. Thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính theo loại việc bị khiếu kiện
2.1.1. Thẩm quyền theo loại việc được xác định bằng cách loại trừ
Tất cả các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước là đối tượng khiếu kiện vụ án hành chính.
Trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà
nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính
phủ quy định. Trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực
Quốc phòng như: “Chủ trương, kế hoạch công tác của cấp thuộc Bộ Quốc phòng;
các công trình Quốc phòng, khu quân sự; các chính sách chế độ liên quan đến Quốc
phòng chưa công bố”22 là căn cứ vào tính chất quan trọng của nội dung tin, mức độ
nguy hại nếu bị tiết lộ. Vì vậy, hoạt động xét xử của Tòa án không được cản trở, can
thiệp vào những hoạt động quản lý, điều hành này. Trừ các quyết định hành chính,
hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. Vì quyết định hành
chính và hành vi hành chính này chủ thể ra quyết định để chỉ đạo, điều hành hoạt
Trung tướng PGS.TS Trần Văn Độ, Một số vấn đề về thẩm quyền giải quyết các vụ án hành
chính trong quân đội, tạp chí Tòa án nhân dân, số 9, tháng 5 năm 2013, tr.4.
22
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
17
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Hoạt động tổ chức bầu cử của cơ quan quyền lực nhà nước khi khiếu kiện
được quy định như sau: Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai sót thì trong
Xem Điều 26 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010).
Xem Điều 27 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
25
Danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cũng là đối tượng khởi
kiện trong vụ án hành chính, Tùng Lưu,
http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1378:danhsach-c-tri-bu-c-i-biu-quc-hi-i-biu-hi-ng-nhan-dan-cng-la-i-tng-khi-kin-trong-v-an-hanhchinh&catid=118:k-nng-tranh-tng-trong-v-an-hanh-chinh&Itemid=121, [truy cập ngày 26/8/2014].
23
24
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
18
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
thời hạn hai mươi lăm ngày, kể từ ngày niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại
bằng miệng hoặc bằng văn bản với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh
sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn năm ngày, kể từ
ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo
cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết. Trường hợp người khiếu nại không
đồng ý về kết quả giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được
khiếu kiện, Toà án nhân dân phải giải quyết xong. Quyết định của Toà án nhân dân
là quyết định cuối cùng.26
Điểm cần lưu ý là nội dung quyền khởi kiện nói trên là quyền của cá nhân,
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
bộ khác.28 Do đó, Luật tố tụng hành chính năm 2010 xác định loại quyết định này là
đối tượng khiếu kiện thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án.
2.1.4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh
Đây là loại khiếu kiện đặc biệt vì đối tượng khiếu kiện là một quyết định giải
quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh hoặc của Bộ trưởng Bộ Công thương sau
khi có khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan
quản lý cạnh tranh hoặc của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
Thuật ngữ “cạnh tranh” được hiểu là cạnh tranh trong kinh doanh, là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, các thương nhân, các nhà kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm tranh dành các
điều kiện sản xuất, thị trường tiêu thụ có lợi nhất cho mình. Hoạt động cạnh tranh
này được điều chỉnh bởi pháp luật về cạnh tranh. Theo đó, Luật cạnh tranh quy định
về các nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật
cạnh tranh đã tạo ra một cơ chế kiểm soát và quản lý các hành vi cạnh tranh nhằm
xây dựng một thị trường cạnh tranh lành mạnh, chúng ta tạm gọi cơ chế ấy là “tố
tụng cạnh tranh”. Trong “tố tụng cạnh tranh”, cơ quan tiến hành tố tụng là Cơ quan
quản lý cạnh tranh; Hội đồng cạnh tranh.29
Một bên chủ thể kinh doanh khiếu nại một chủ thể kinh doanh khác lên cơ
quan quản lý cạnh tranh, vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại
do hành vi, vi phạm quy định Luật Cạnh tranh của chủ thể đó; hoặc cơ quan quản lý
cạnh tranh phát hiện dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh và tiến hành điều tra.
Cơ quan tiến hành “tố tụng cạnh tranh” dựa trên cơ sở đó để thực hiện trình tự
thủ tục điều tra, giải quyết vụ việc. Tương tự như các hoạt động tố tụng khác tại Tòa
tượng khởi kiện trong vụ án hành chính theo quy định tại Điều 115, Luật Cạnh tranh
năm 2014.
Khoản 2 Điều 103, Luật tố tụng hành chính năm 2010 cũng quy định “cá
nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với
quyết định đó”; và khoản 4, Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm 2010 cũng quy
định khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh thuộc thẩm quyền của giải quyết của Tòa án.
2.2. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo lãnh thổ và cấp xét xử
2.2.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính
Thẩm quyền theo cấp xét xử được quy định trong Luật tố tụng hành chính năm
2010, về nguyên tắc các Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh đều có thẩm quyền xét xử sơ
thẩm các khiếu kiện hành chính, hành vi hành chính.
Trước tiên ta tìm hiểu xét xử: Tòa án có chức năng xét xử, cho nên từ khi nhận
được đơn khiếu kiện thì Tòa án tuân theo Luật tố tụng hành chính năm 2010 nên có
rất nhiều giai đoạn từ thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, cho đến khi đưa vụ án ra xét
xử, thực tế cho thấy xét xử là hoạt động đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước do
đó xét xử là diễn biến tại phiên tòa của Tòa án.
Sơ thẩm theo từ điển luật học thì: “Sơ thẩm được hiểu là lần đầu tiên đưa một
vụ án ra xét xử tại Tòa án có thẩm quyền”.
Việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính là thủ tục bắt buộc trong
trình tự tố tụng hành chính, xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là việc Tòa án sau khi
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
21
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi
Xem khoản 1 Điều 163 Luật tố tụng hành chính năm 2010.
30
GVHD: Ts. Phan Trung Hiền
22
SVTH: Võ Thị Thúy Nhân
Đề tài: Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính - Thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
trái pháp luật gây ra;
Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền của cơ quan nhà nước.31
Để khắc phục những khó khăn trong việc thi hành bản án hành chính do Tòa
án chưa xác định cụ thể các biện pháp mà cơ quan hành chính phải thực hiện và để
khẳng định vai trò của Toà án trong việc đảm bảo sự tôn trọng các quy định pháp
luật của cơ quan nhà nước, bảo vệ các quyền của người dân, Luật tố tụng hành
chính năm 2010 đã hoàn thiện Điều 163 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét
xử. Theo đó, Hội đồng xét xử có những quyền hạn sau: “Hội đồng xét xử xem xét
tính hợp pháp của quyết định hành chímh, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan”
để bác yêu cầu, hoặc chấp nhận yêu cầu hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành