LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn mang tính mới và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thị Thu Hương
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế với đề tài “Thẩm quyền theo vụ
việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” là kết quả của quá trình cố gắng
không ngừng nghỉ của bản thân cùng sự nhiệt tình trợ giúp của các thầy/cô, đồng
nghiệp.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS. Bùi Thị Huyền đã trực tiếp hướng
dẫn, tận tình cung cấp các thông tin khoa học cần thiết và thực sự quý báu cho luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Viện Đại học Mở Hà Nội, khoa Sau
đào tạo đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của
mình.
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị tại
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu khoa học và thực hiện Luận văn.
TÁC GIẢ
̀ h thành và phát triể n của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa
án…….............................................................................................................................. 26
1.6.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án trên thế giới ................... 26
1.6.2. Lịch sử hình thành và phát triể n của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án... 28
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀ NH VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO LOẠI
VIỆC CỦ A TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI ................................................................................................................. 34
2.1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận .................. 34
2.2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận............................................................... 37
2.3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về
chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty .................................. 39
2.4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công
ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng
quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công
ty…… .............................................................................................................................. 40
2.5. Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật ............... 43
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ
THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HÀ NỘI VÀ HƯỚNG
HOÀN THIỆN................................................................................................................... 48
3.1. Thư ̣c tiễn áp du ̣ng quy đinh
GĐT
:
Giám đốc thẩm
HĐXX
:
Hội đồng xét xử
HĐTP
:
Hội đồng Thẩm phán
HĐTPTANDTC
:
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
HĐTT
:
Hội đồng trọng tài
TTDS
:
Tố tụng dân sự
TTTM
:
Trọng tài thương mại
VKS
:
Viện Kiểm sát
ST
:
Sơ thẩm
STTĐS
:
Sự thỏa thuận của đương sự
lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tại, giải quyết theo thủ tục tư pháp. Ở
Việt Nam, các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp KDTM
bằng Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình
khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giải. Một thực tế tại Việt
Nam là hơn 95% các tranh chấp về KDTM được tòa án các cấp xét xử.
Thực tế giải quyết các vụ án KDTM của các Tòa án cho thấy các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự hiện hành còn nhiều bất cập, các tranh chấp KDTM có nhiều
điểm khác với tranh chấp dân sự nhưng được giải quyết theo các quy định chung về
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung mà không có các quy định riêng là chưa
phù hợp.
Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của
pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM nhằm
góp phần làm sáng tỏ thêm về lý luận cung như thực tiễn, tìm ra những hạn chế,
vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp
1
hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế
theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và rất được quan tâm trong khoa
học pháp lý ở Việt Nam hiện này.
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân
trong việc giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội” để làm luận văn thạc sĩ Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước và sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã có rất nhiều khóa
luận tốt nghiệp, luận văn, luận án, bài viết về các vấn đề liên quan đến giải quyết
tranh chấp KDTM. Các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả đề cập các
vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Tòa án, thẩm quyền của Trọng tài; vấn đề tranh
chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh thương mại dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy
án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền
theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;
- Khảo sát, thu thập và tổng hợp thực tiễn thực hiện các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc
giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài gồm các vấn đề sau:
-
Những vấn đề lý luận về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong
việc giải quyết tranh chấp KDTM;
3
- Các quy định của pháp luật về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân
trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;
- Thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án nhân dân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Những vấn đề lý luận về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong
việc giải quyết tranh chấp KDTM;
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong
những năm gần đây;
- Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc
của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;
- Thực tiễn thực hiện thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân thành phố
5
Chương 1:
NHỮ NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN DÂN
SỰ THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI
1.1.
Khái niệm thẩm quyền thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án trong
việc giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại
Thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ
chức Toà án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự,
Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác. Qua đó, nội hàm của khái
niệm thẩm quyền của Tòa án được hiểu với những cấp độ và nội dung khác nhau. Cụ
thể: Thẩm quyền được hiểu là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định
đoạt, quyết định một bấn đề. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa nhán
nhân dân (Tòa án) là quyền thụ lý, xem xét và ban hành các quyết định khi giải quyết
vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự.
Theo quy định của BLTTDS năm 2015, để xác định đúng thẩm quyền của Tòa
án khi thụ lý giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án và đương sự phải xem xét trên các
phương diện: thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, thẩm quyền của Tòa án theo cấp
quản lý hành chính, lãnh thổ và thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên
đơn, người yêu cầu.
Việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có ý nghĩa quan
trọng trong việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án với các cơ quan Nhà nước
khác. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để Tòa án áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân
cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cung như trình
tự thủ tục trong quá trình giải quyết các vụ án KDTM.
Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là những bất đồng, mâu thuẫn về
quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng, mâu thuẫn
7
này phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh. Tranh chấp
dân sự được quy định tại Điều 26 BLTTDS năm 2015 là những bất đồng, mâu thuẫn,
xung đột lợi ích pháp lý giữa ít nhất hai bên trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa hẹp
(phân biệt với tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, KDTM, lao động) được
điều chỉnh bởi pháp luật dân sự.
Trong khi đó, tranh chấp trong kinh doanh hay tranh chấp thương mại là thuật
ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới. Khái niệm này
mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam trong mấy năm gần đây cùng với
sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong
cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Ở giai đoạn này, nền kinh tế được quản lý bằng mệnh
lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch do nhà nước giao. Hợp
đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt
động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế, mà còn được sử dụng như một
công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước. Do vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồng
kinh tế là một kỷ luật bắt buộc chứ không hoàn toàn từ lợi ích kinh tế của các bên
tham gia hợp đồng. Vì vậy, trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia
quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan chủ
quản. Trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế nhẹ về yếu tố vật chất mà
nặng về tính chất hành chính. Có thể nói, các tranh chấp kinh tế trong giai đoạn nà
không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp KDTM, tranh chấp phát sinh do xung đột
lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi
thiết thực của các bên mà còn chủ yếu vì sự ổn định, hài hòa chung cho cả nền kinh
Vấn đề này vừa có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể hoạt
động thương mại tham gia vào việc giải quyết tranh chấp, vừa mở rộng khả năng
được công nhận và thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Sự đột phá của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 trong việc đưa khái niệm
1
UNCITRAL (1985), Model Law on International Commercial Arbitration, with
amendments as adopted in 2006.
9
“hoạt động thương mại” tiếp cận với chuẩn mực chung của thông lệ và pháp luật
quốc tế đã mở màn cho việc xem xét tiếp theo của các văn bản pháp luật khi đề cập
đến lĩnh vực thương mại (hay kinh doanh) - một lĩnh vực đầy sôi động và phức tạp
trong thực tiễn.
Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm khá đơn giản về hoạt động thương
mại nhưng cũng khắc họa đủ nội hàm của khái niệm. Theo khoản 1 Điều 3 Luật này,
hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác. Cũng theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng
đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này
của Luật Thương mại năm 2005 cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã
được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm
1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Theo khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, kinh doanh là việc thực
hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
Từ nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay
tranh chấp thương mại) là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát
sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên
quan đến hoạt động kinh doanh”.
Các tranh chấp KDTM có đặc điểm sau: (i) Tranh chấp về KDTM nảy sinh trực
tiếp từ các quan hệ kinh doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh. Đó là hệ
quả phát sinh từ quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên
liên quan với chủ thể kinh doanh trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi; (ii) Vấn đề giải quyết tranh chấp trong KDTM do các bên tranh chấp
tự định đoạt (có thể giải quyết bằng nhiều cách khác nhau như thương lượng, hòa
giải, trọng tài và tòa án); (iii) Các bên tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh
doanh có tư cách tương nhân; (iv) Tranh chấp KDTM là những tranh chấp mang yếu
tố vật chất và thường có giá trị lớn.
11
Qua đó, thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM được
hiểu là: Quyền của một Tòa án hoặc các Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dân được
tiến hành những thủ tục giải quyết một tranh chấp KDTM cụ thể theo quy định của
pháp luật tố tụng. Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM xác
định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tranh chấp nào
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác. Một tranh chấp thuộc thẩm
quyền của Tòa án thì tranh chấp đó do Tòa án nào giải quyết. Thẩm quyền của Tòa
án trong giải quyết tranh chấp KDTM dựa trên quy định của pháp luật. Pháp luật quy
định những TCKDTM nào thuộc thẩm quyền của Tòa án. Những tranh chấp KDTM
thuộc thẩm quyền của Tòa án được xác định căn cứ vào các yếu tố: tính chất riêng
biệt của các quan hệ pháp luật về KDTM; thành phần chủ thể của quan hệ pháp luật
về KDTM; mục đích của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật về KDTM.
1.2.
thuộc vào khả năng cũng như kỹ năng đàm phán thương lượng, ý chí của các bên
tranh chấp. Đối với phương thức giải quyết bằng hòa giải cũng có hạn chế bởi nền
tảng của hòa giải vẫn được quyết định trên cơ sở tự nguyện thi hành của các bên. Bởi
vậy, nếu một bên không trung thực, thiếu thiện chí hợp tác trong quá trình đàm phán
thì hòa giải cũng khó đạt được kết quả cao.
Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới hiện nay chủ yếu sử dụng
hai phương thức giải quyết tranh chấp KDTM là Trọng tài và Tòa án. Có thể thấy
phương thức Trọng tài có nhiều ưu điểm như thể thức giải quyết tranh chấp nhanh,
gọn, mềm dẻo, linh hoạt và đặc biệt có đội ngũ Trọng tài viên là những chuyên gia
trong các lĩnh vực KDTM. Ưu điểm này không thể tìm thấy ở phương thức giải quyết
tranh chấp bằng Tòa án với những trình tự thủ tục kéo dài. Tuy nhiên, ưu điểm nổi
bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là tính quyền lực nhà nước.
Trên thực tế, phương thức Trọng tài được ưu chuộng hơn đặc biệt ở các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và chậm phát
triển thì Tòa án vẫn là cơ quan giải quyết tranh chấp KDTM chủ yếu. Tòa án là cơ
quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nước khi xét xử các vụ
tranh chấp. Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật
phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân tôn trọng, chấp hành. Trong trường hợp bản án không
được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước. Có thể lấy ví
13
dụ ở Việt Nam, “trong khi mỗi Thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hà Nội phải xử
trên 50 vụ một năm, ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 70 vụ một năm,
thì mỗi Trọng tài viên của VIAC chỉ xử 4 vụ một năm”. 2 Giải thích cho việc các
doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự “mặn mà” với việc đem tranh chấp của mình ra
giải quyết tại Trọng tài. Rõ ràng các nhà kinh doanh của ta chưa đặt trọn niềm tin
vào các Trọng tài viên, cũng như chưa hoàn toàn coi trọng hiệu quả của việc giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài và hiệu lực thi hành của các quyết định Trọng tài.
trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết tốt các tranh chấp mà các bên đã tin tưởng
giao phó. Ví dụ, trong quá trình thành lập Hội đồng trọng tài (HĐTT), có trường hợp
bị đơn không chọn được Trọng tài viên cho mình, hay các bên không chọn được
Trọng tài viên duy nhất; nếu có một bên tranh chấp tẩu tán tài sản, làm thất thoát
khối tài sản của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên kia thì trọng tài
cũng không thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các hành vi đó,...
Từ đó đặt ra vấn đề cần phải có sự “hỗ trợ” của Tòa án cho hoạt động của trọng tài
để “lấp” khoảng trống này của trọng tài.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp
phát sinh trong thực tiễn kinh doanh ở nước ta ngày càng nhiều hơn và đa dạng hơn
về chủng loại, phức tạp về tính chất. Điều này đòi hỏi phải có nhiều phương thức giải
quyết tranh chấp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu khác nhau của chủ thể kinh doanh.
Ở nước ta, TTTM đã có lịch sử tồn tại khá lâu dài, tuy nhiên, chưa phải là hình thức
được các nhà kinh doanh ưa chuộng, căn bản là do thiếu sự hỗ trợ từ phía các cơ
quan nhà nước nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng. Chính sự hỗ trợ đó sẽ làm cho
hoạt động trọng tài được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đồng
thời không làm mất đi ưu thế của hình thức giải quyết tranh chấp tôn trọng tối đa
quyền tự định đoạt của các đương sự.
Thứ ba, từ tình trạng quá nhiều án tồn đọng tại các Tòa án, cùng với sự phát
triển sôi động của các quan hệ kinh tế, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực KDTM
buộc phải đưa đến Tòa kinh tế ngày càng nhiều, đã tạo ra áp lực tăng, gây ra tình
trạng “quá tải”, án tồn đọng với số lượng khá lớn, đặc biệt là ở một số thành phố lớn
như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài
Nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản lý hoạt
15
động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài. Nhà nước thông qua
Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc
các bên tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết
định về việc thay đổi Trọng tài viên”. Như vậy, đối với trường hợp cần phải thay đổi
Trọng tài viên theo quy định của pháp luật (trong vụ tranh chấp do HĐTT vụ việc
giải quyết), nếu các thành viên còn lại của HĐTT không quyết định được hoặc nếu
các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì Tòa
án có thẩm quyền (Tòa án nơi HĐTT giải quyết tranh chấp) có thể hỗ trợ việc quyết
định thay đổi Trọng tài viên này. Cụ thể là Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ phân
công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên.
Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 43 Luật TTTM năm 2010 còn quy định: “Trường
hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc,
nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, thì các bên có thể
thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế; nếu không thỏa thuận được, thì
có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết”. Theo đó, Tòa án cũng có thể “hỗ
trợ” trong trường hợp Trọng tài viên được lựa chọn không thể tiếp tục tham gia giải
quyết tranh chấp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
1.3.
Đặc điể m thẩ m quyề n về dân sự theo vụ viêc̣ của Tòa án nhân dân trong
viêc̣ giải quyế t tranh chấ p kinh doanh thương ma ̣i
Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết tranh chấp trong KDTM được pháp luật
quy định phân theo vụ việc, theo cấp tòa xét xử, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn
của nguyên đơn. Việc phân định thẩm quyền như trên làm cho hoạt động xét xử của
Tòa án đạt hiệu quả, không “dẫm chân” lên nhau. Xác định thẩm quyền một cách
chính xác, khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo của Tòa án trong việc thực hiện
nhiệm vụ, góp phần làm cho Tòa án giải quyết vụ án đúng đắn và bảo vệ quyền, lợi
gắn liền với phạm vi hoạt động, mức độ thể hiện, quyền hạn trong các quan hệ pháp
luật. Vì có sự phân biệt các quan hệ pháp luật nên yếu tố chủ thể có địa vị pháp lý
khác nhau khi tham gia thiết lập các quan hệ pháp lý đó. Vì vậy, chủ thể của tranh
18
chấp KDTM được xác định là các thương nhân. Theo quy định tại Điều 2 Luật
Thương mại 2005 thì đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại là thương nhân có
hoạt động thương mại và tổ chức cá nhân khác hoạt động liên quan đến thương mại
(khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh”). Như vậy chiếu theo quy định này thì bất kỳ cá
nhân, tổ chức nào tham gia hoạt động thương mại đều được điểu chỉnh bằng Luật
thương mại (Hoạt động thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương
mại 2005 là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác”). Việc xác định chính xác và đầy đủ chủ thể của tranh chấp KDTM có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định quan hệ tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải
quyết dân sự theo vụ việc của Tòa án do BLTTDS quy định.
Thứ hai, xác định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết
tranh chấp KDTM căn cứ vào mục đích lợi nhuận của hoạt động KDTM. Mục đích
là mong muốn của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật. Đó là cái đích mà
một chủ thể nào đó nhắm đến khi thiết lập các quan hệ xã hội. Điều này liên quan
mật thiết đến thẩm quyền xét xử mà cụ thể là sự phân loại án trong hoạt động tố tụng
và cơ quan xét xử. Trong tố tụng dân sự, các loại vụ việc được phân chia thành bốn
loại khác nhau, trong đó các hoạt động kinh doanh tiêu chí mục đích được xác định
là chủ yếu. Đây là căn cứ để phân biệt với các vụ việc khác. Mục đích tìm kiếm lợi
nhuận không chỉ là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu trong
KDTM mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể trong kinh doanh. Hoạt động kinh
doanh giữa các chủ thể nảy sinh các quan hệ các công ty và các thành viên công ty