Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử tại việt nam - Pdf 50

HÀ CÔNG ANH BẢO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
HÀ CÔNG ANH BẢO

2015 - 2017

HÀ NỘI - 2017

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

TÁC GIẢ LUẬN VĂN: HÀ CÔNG ANH BẢO


dẫn trong những năm tôi học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học
không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn còn là hành trang quí báu để tôi
tiếp tục theo con đường nghề luật.
Cuối cùng Tôi xin kính chúc quí Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quí.
Trân trọng cám ơn

iv


Mục Lục
Mục Lục ........................................................................................................................i
Danh mục từ viết tắt ................................................................................................... iii
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ .... 8
1.1.

Về hợp đồng thương mại điện tử ...................................................................... 8

1.1.1.

Khái niệm thương mại điện tử ................................................................... 8

1.1.2.

Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử ................................................. 10

1.1.3.


1.3.1.

Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử .............. 27

1.3.2.

Các phương thức giải quyết tranh chấp ................................................... 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM............................................................ 41
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử .. 41
2.1.1 Khung pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam
……………………………………………………………………………………………..41

2.1.2 Thực trạng các qui định của pháp luật Việt nam về giải quyết tranh chấp
thông qua thương lượng và hòa giải ...............................................................................44

i


2.1.3. Thực trạng qui định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp tại Tòa án
……………………………………………………………………………………………..49

2.1.4. Thực trạng qui định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại ............................................................................................................52
2.2. Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử .................. 55
2.2.1 Những tranh chấp phổ biến về hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam
……………………………………………………………………………………………..55

2.2.2. Biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử thời gian vừa qua

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Business to Business

TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh

(electronic commerce)

nghiệp

Business

to

Consumer TMĐT giữa doanh nghiệp và người

(electronic commerce)

tiêu dùng

EDI

Electronic Data Interchange

Trao đổi dữ liệu điện tử

EU


Công nghệ thông tin

CNTT-TT

Công nghệ thông tin và truyền
thông

GQTC

Giải quyết tranh chấp

GDĐT

Giao dịch điện tử

HĐĐT

Hợp đồng điện tử

TAND

Tòa án Nhân dân

TMĐT

Thương mại điện tử

TTTM

Trọng tài thương mại

thì thị trường thương mại điện tử tại Việt Nam sẽ đạt khoảng 10 tỷ USD vào năm
2022. TMĐT được xem như là một hiện tượng trong cuộc sống hiện đại của thương
nhân, từ chỗ chỉ là công cụ để quảng cáo, hỗ trợ, xúc tiến thương mại cho doanh
nghiệp thì hiện nay thông qua thương mại điện tử các doanh nghiệp đã có thể thực
hiện các giao dịch trong kinh doanh, thương mại của mình.
Tuy nhiên, TMĐT phát triển cũng dẫn tới những tranh chấp TMĐT cũng gia
tăng về số lượng và giá trị, cụ thể ở đây là tranh chấp về hợp đồng TMĐT. Theo
Thomas Schultz dù không có số liệu thống kê chính thức nhưng số lượng tranh chấp
TMĐT là hàng trăm triệu vụ việc mỗi năm thậm chí con số này lên tới hàng tỉ vụ việc
[32, tr.135].
Tại Việt Nam, trong thời gian qua số lượng vụ tranh chấp về hợp đồng TMĐT
đang ngày gia tăng nhanh chóng, những tranh chấp này liên quan đến những vấn đề như
tranh chấp chủ thể, quy trình giao kết, thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, về chữ
ký trong hợp đồng v.v… Khác với tranh chấp về hợp đồng thương mại truyền thống,
tranh chấp về hợp đồng TMĐT có những đặc thù riêng dựa trên những đặc điểm của
TMĐT như tính không biên giới, giảm thiểu thời gian, trình tự giao dịch ... Trong mối
quan hệ đa chiều và đan xen với các yếu tố công nghệ cao làm cho tranh chấp về hợp
đồng TMĐT trở nên phức tạp và khó giải quyết. Các cơ chế giải quyết tranh chấp thương
mại truyền thống như thương lượng, trung gian hòa giải, trọng tài và tòa án có còn thích
ứng để giải quyết loại hình tranh chấp mới và khá phức tạp này không? Liệu rằng cần
phải bổ sung những gì cho các cơ chế giải quyết tranh chấp truyền thống này hay chúng
ta cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù và chuyên biệt cho tranh chấp về
hợp đồng TMĐT? Đó là lý do để chúng tôi chọn vấn đề: Giải quyết tranh chấp hợp
đồng TMĐT tại Việt Nam làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
1


2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp về


quyết tranh chấp trực tuyến dưới góc độ pháp luật và thực tiễn đối với người tiêu
dùng tại Liên Minh Châu Âu
- Năm 2012, tác giả Mohamed Abdel Wahab, Ethan Katsh & Daniel Rainey
biên tập cuốn sách có tên: “Online Dispute Resolution: Theory and Practice: A
Treatise on Technology and Dispute Resolution”, tổng hợp những vấn đề cơ bản nhất
về ODR và phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng ODR tại một số khu vực
tiêu biểu trên thế giới như Bắc Mỹ, châu Âu, Úc, châu Á, Mỹ La-tinh.
- Năm 2013, tác giả Hon. Richard S. Flier có bài viết với tựa đề: “Online
Dispute Resolution (ODR): Today and Tomorrow”, đăng tải trên trang Contra Costa
Lawyer, trong đó đưa ra ví dụ về một số nhà cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp
trực tuyến; phân tích các ưu nhược điểm của giải quyết tranh chấp trực tuyến và dự
đoán tầm ảnh hưởng của giải quyết tranh chấp trực tuyến trong tương lai.
Đây là những công trình đề cập đến thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến
giải quyết tranh chấp trực tuyến tại một số quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào phân tích cụ thể giải quyết tranh chấp hợp đồng TMĐT ở Việt Nam.
Mặc dù vậy, những tài liệu liệt kê ở trên là nguồn tài liệu tham khảo rất cần thiết để
tác giả thực hiện đề tài này.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Bắt đầu từ năm 2005 đến nay, có một số công trình ít nhiều đến GQTC TMĐT.
- Tác giả Nguyễn Thị Mơ (2006) đã xuất bản cuốn sách “Cẩm nang Pháp luật
về Giao kết hợp đồng điện tử” trong đó cũng đề cập đến một số vấn đề phát sinh trong
giao kết hợp đồng điện tử nhằm kiến nghị các bên liên quan.
- Lê Hà Vũ (2006) với đề tài luận văn “Xây dựng khung pháp lý nhằm phát
triển TMĐT ở Việt Nam” khi đánh giá thực trạng pháp luật về TMĐT thì cho rằng,
chưa có quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản ảo; còn thiếu các quy định về
thuế, quản lý thuế điện tử và thanh toán điện tử. Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay cũng
chưa thật phù hợp với việc phát triển TMĐT v.v…

3



trong và ngoài nước là những tài liệu bổ ích để tác giả tham khảo trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp
đồng TMĐT, tranh chấp về hợp đồng TMĐT và GQTC hợp đồng TMĐT; phân tích
các nội dung lí luận liên quan tới quan hệ pháp luật hợp đồng TMĐT, các phương
thức GQTC hợp đồng TMĐT tại Việt Nam, đồng thời luận văn cũng sẽ đề xuất một
số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế GQTC hợp đồng TMĐT tại
Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đựợc mục đích nêu trên, thì nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận của hợp đồng TMĐT, tranh chấp về
hợp đồng TMĐT và cơ chế GQTC hợp đồng TMĐT.
- Nghiên cứu đánh giá về thực trạng pháp luật và cơ chế pháp lý về GQTC hợp
đồng TMĐT, chỉ ra các hạn chế, bất cập và nguyên nhân là cơ sở thực tiễn cho việc
hoàn thiện pháp luật về GQTC hợp đồng TMĐT ở Việt Nam.
- Đưa ra các kiến nghị về định hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp
luật cũng như cơ chế GQTC hợp đồng TMĐT ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là pháp luật và hoạt động GQTC hợp đồng TMĐT Việt
Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nội dung nghiên cứu liên quan đến một số nội dung cơ bản
của pháp luật về GQTC hợp đồng TMĐT, cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật, GQTC.
5



- Chương 2: Phương pháp phân tích, so sánh, diễn giảng, quy nạp lịch sử v.v...
nhằm khái quát và đánh giá thực trạng pháp luật cũng như cơ chế thực thi pháp luật
về GQTC hợp đồng TMĐT ở Việt Nam.
- Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp, dự báo, khái quát hoá để xác
định các yêu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế về GQTC hợp đồng
TMĐT ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phân mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận văn bao gồm 3 chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử và giải quyết
tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại điện tử tại
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp hợp
đồng thương mại điện tử

7


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Về hợp đồng thương mại điện tử
1.1.1. Khái niệm thương mại điện tử
“Thương mại điện tử” (TMĐT) (tiếng Anh là e-commerce) là một thuật ngữ
xuất hiện phổ biến hiện nay, thường được hiểu là thương mại được tiến hành trên các
phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là qua máy tính và mạng Internet.
Do vai trò ngày càng quan trọng của TMĐT trong hoạt động kinh tế nên nhiều tổ
chức quốc tế, nhiều quốc gia đã đưa ra các khái niệm về thuật ngữ này nhằm giúp cho

thông qua các cách thức này, nhưng việc thanh toán và vận chuyển hàng hóa không
nhất thiết phải được thực hiện trực tuyến. Một giao dịch TMĐT có thể được thực hiện
giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ, và các tổ chức nhà nước hoặc
tư nhân khác. Các yêu cầu có thể được đưa ra thông qua các trang web, extranet, hoặc
trao đổi dữ liệu điện tử. Các yêu cầu được phân loại theo cách thức đưa ra yêu cầu.
Khái niệm này không bao gồm các yêu cầu được thực hiện qua điện thoại, fax hoặc
những email được gõ bằng tay” [29]. Khái niệm này nêu ra cụ thể các phương tiện
TMĐT sử dụng, nhưng cũng chỉ giới hạn trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ,
ngoài ra cũng loại bỏ các giao dịch thông qua các phương tiện mang tính “thủ công”
(manual means) và nhấn mạnh vai trò của các mạng lưới trực tuyến.
Luật mẫu của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế
(UNCITRAL) năm 1996 về TMĐT không đưa ra định nghĩa cụ thể cho khái niệm
TMĐT mà tiếp cận theo hướng nhấn mạnh vấn đề “thông điệp dữ liệu”. Điều 1 của
Luật mẫu quy định: “Luật này áp dụng cho bất kỳ loại thông tin nào có dạng thông
điệp dữ liệu được dùng trong các hoạt động thương mại”, trong đó, “thông điệp dữ
liệu” được định nghĩa trong khoản (a), điều 2 Luật mẫu là “các thông tin được tạo ra,
gửi, nhận hoặc lưu trữ bằng các phương tiện điện tử, quang học hoặc tương tự, bao
gồm, nhưng không giới hạn ở trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín,
telex hoặc fax”. Theo Nguyễn Văn Thoan, Luật mẫu này chú trọng vào việc thừa
nhận khái niệm thương mại và làm rõ khái niệm thông điệp dữ liệu [17]. Còn theo
9


quan điểm của tác giả, sở dĩ TMĐT không được định nghĩa cụ thể là do mục đích của
Luật mẫu chủ yếu nhằm hướng các quốc gia ban hành quy định rõ ràng và thống nhất
hơn về giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu so với các loại thông tin khác.
Theo góc nhìn của pháp luật Việt Nam, hoạt động TMĐT được hiểu là “việc
tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương
tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng
mở khác”. Trong đó, hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng

tự nhiên nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác với địa vị pháp lý bình đẳng nhằm
mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Tại Việt Nam, sau nhiều lần đưa khái niệm hợp đồng dựa trên hợp đồng dân sự
thì đến Bộ Luật Dân sự 2015 đã chính thức đưa ra khái niệm hợp đồng là: Hợp đồng
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự (Điều 385). Quy định này của Bộ luật dân sự cho thấy rõ rằng hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên nhằm tiến hành một công việc, một hoạt động hay một
hành vi nhất định nhằm đem lại quyền và lợi ích nhất định cho các bên.
Hợp đồng điện tử theo Điều 11.1 Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL năm
1996 được hiểu là “hợp đồng được hình thành thông qua việc sử dụng các phương
tiện truyền dữ liệu điện tử”. Tại Việt Nam hợp đồng điện tử được qui định tại Điều
33 Luật giao dịch điện tử 2005 là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ
liệu. Trong khi đó khái niệm thông điệp dữ liệu được giải thích là: thông tin được tạo
ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử (Điều 4.12 Luật
Giao dịch điện tử 2005). Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công
nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc
công nghệ tương tự (Điều 4.10 Luật Giao dịch điện tử 2005). Khái niệm hợp đồng
điện tử mà Việt Nam đưa ra cũng tương đồng với khái niệm do hai học giải Sarabdeen
Jawathitha và Noor Raihan AbHamid khi đề cập hợp đồng điện tử được coi là những
lời hứa hoặc tập hợp những lời hứa có thể thực thi được về mặt pháp luật được giao
kết bằng phương tiện điện tử [41]. Một số tác giả khác thì đưa ra khái niệm hợp đồng
điện tử là những hợp đồng không gặp mặt trực tiếp và việc giao kết hợp đồng được
thực hiện thông qua việc trao đổi thông điệp dữ liệu. thông điệp dữ liệu được coi là
bằng chứng cho việc giao kết hợp đồng [1].
11


Tại Việt Nam không phân biệt hợp đồng điện tử có tính thương mại hay không
có tính thương mại. Điều này có nghĩa là, hợp đồng, dù có tính chất thương mại hay
phi thương mại, cũng đều có thể được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Điểm khác

quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng TMĐT [17].
- Về cách thức giao kết và công cụ để thực hiện HĐTMĐT: Đặc điểm nổi bật
nhất của hợp đồng TMĐT là cách thức giao kết và công cụ để thực hiện hợp đồng
TMĐT, như đã nêu ở trên, được giao kết và được tạo lập bởi các thông điệp dữ liệu
và các bên không gặp mặt trực tiếp với nhau. Thông điệp dữ liệu được coi là bằng
chứng của hợp đồng. Thông điệp dữ liệu sẽ được hiển thị thông qua các thiết bị điện
và điện tử ví dụ như máy tính, điện thoại di động. Hình thức của hợp đồng TMĐT
hoàn toàn khác với hình thức phổ biến của hợp đồng truyền thống trên giấy. Chính
đặc điểm này của hợp đồng TMĐT tạo cảm giác hợp đồng TMĐT là “ảo”, “phi giấy
tờ”, không dễ dàng “cầm nắm” và “sử dụng” một cách dễ dàng.
- Về hình thức thể hiện: hợp đồng TMĐT do các phương tiện điện tử tạo ra,
truyền gửi và lưu trữ. Điều này có nghĩa là hợp đồng TMĐT được giao kết thông qua
các phương tiện điện tử nhờ sự tiến bộ của các công nghệ hiện đại như: công nghệ
điện tử, công nghệ số, từ tính, quang học, mạng viễn thông không dây, mạng
Internet… Việc sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông giúp việc giao
kết hợp đồng trở nên thuận tiện, chính xác và nhanh hơn so với việc giao kết hợp
đồng truyền thống. Đặc biệt, có những hợp đồng TMĐT được giao kết hoàn toàn tự
động giữa một bên là khách hàng và một bên là doanh nghiệp được đại diện bởi
website bán hàng tự động như trong các mô hình TMĐT bán lẻ B2C.
- Chủ thể tham gia: ngoài các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng như đối với
thương mại truyền thống (người bán, người mua), hợp đồng TMĐT buộc phải có sự
tham gia của bên thứ ba, đó là tổ chức chứng thực, các nhà cung cấp dịch vụ mạng,
dịch vụ website … Đặc điểm này của hợp đồng TMĐT khiến việc ứng dụng loại hợp
đồng này vào hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh quốc tế không hề đơn giản
như việc giao kết hợp đồng truyền thống vì ít nhất nó cũng cần có cơ sở hạ tầng và
các tổ chức trung gian.

13





- Về luật điều chỉnh: Với tính đặc thù về mặt kỹ thuật công nghệ như đã phân
tích, hợp đồng TMĐT một mặt chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật về hợp
đồng, mặt khác, việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử còn cần phải tuân theo
một quy trình và thủ tục đặc biệt nhằm phòng tránh rủi ro do chính yếu tố kỹ thuật
đem lại. Vì vậy, bên cạnh pháp luật về hợp đồng, hợp đồng điện tử còn chịu sự điều
chỉnh của một số văn bản pháp luật riêng. Một số nước đã ban hành Luật Giao dịch
điện tử (ví dụ như Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Singapore, Việt Nam…) để điều chỉnh
việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Một số nước khác ban hành luật Chữ ký
điện tử (ví dụ như Hàn Quốc), luật Chữ ký số (như Malaysia)… [17, tr.19]
1.1.4. Phân loại hợp đồng thương mại điện tử
Hợp đồng TMĐT có thể được phân loại dựa trên chủ thể tham gia gồm giữa
các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa doanh nghiệp và cá nhân, hoặc tính quốc tế của
hợp đồng phân chia thành hợp đồng TMĐT quốc tế hay trong nước. Mạng Internet
đưa ra bốn công cụ chính mà các bên có thể sử dụng khi tham gia giao kết hợp đồng
là: thư điện tử (email), công cụ tán gẫu (chat), trang thông tin điện tử (website) và
trao đổi dữ liệu (EDI) [19]. Dựa vào các công cụ này thì hợp đồng TMĐT có thể chưa
thành các loại như sau:
- Hợp đồng TMĐT được giao kết và thực hiện qua web: các công ty sẽ soạn
thảo hợp đồng mẫu và đưa lên website của mình để các bên tham gia giao kết. [17,
tr.20]. Theo đó có hai loại như sau:
+ Hợp đồng truyền thống được đưa lên web: Một số hợp đồng truyền thống đã
được sử dụng thường xuyên và chuẩn hóa về nội dung, do một bên soạn thảo và được
đưa lên website để các bên tham gia giao kết. Các hợp đồng được đưa toàn bộ nội
dung lên web và phía dưới thường có nút “Đồng ý” hoặc “Không đồng ý” để các bên
tham gia lựa chọn và xác nhận sự đồng ý với các điều khoản của hợp đồng. Để giao
kết hợp đồng này, người mua thường có hai lựa chọn phổ biến: Lựa chọn thứ nhất:
thông qua các thao tác kích chuột để chuyển đổi trang web chứa các nội dung hợp
đồng và thể hiện sự đồng ý với nội dung đó, thường là kích vào nút “Xem tiếp” (Next).

dịch, đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng được thực hiện giống như quy trình
giao dịch hợp đồng truyền thống. Điểm khác biệt là phương tiện sử dụng để thực hiện
giao kết hợp đồng là máy tính, mạng Internet và email. Hợp đồng TMĐT được giao
16


kết qua email có ưu điểm nổi bật là truyền tải được nhiều chi tiết, nhiều thông tin, tốc
độ giao dịch nhanh, chi phí thấp, phạm vi giao dịch rộng. Tuy nhiên, loại hợp đồng
này có một nhược điểm là tính bảo mật cho các giao dịch và khả năng ràng buộc trách
nhiệm của các bên còn thấp. Hợp đồng này thường được thiết lập qua nhiều email
trong quá trình giao dịch. Các bên thường tập hợp thành một hợp đồng hoàn chỉnh
sau quá trình giao dịch để thống nhất lại các nội dung và cũng để thuận tiện trong xử
lý chứng từ điện tử cũng như quá trình thực hiện HĐĐT sau này [1].
Cùng với sự phát triển của TMĐT, chữ ký số từng bước được sử dụng trong
việc giao kết và thực hiện những hợp đồng điện tử có giá trị lớn, đòi hỏi sự an toàn
và bảo mật trong quá trình giao kết và thực hiện. Hợp đồng TMĐT được giao kết và
thực hiện qua web và qua email đều có thể sử dụng chữ ký số. Điển hình của các hợp
đồng điện tử được giao kết qua web có sử dụng chữ ký số là các hợp đồng TMĐT
trên các sàn giao dịch điện tử tiên tiến như Alibaba.com, Asite.com, Covisint.com,
Bolero.net… Các hợp đồng TMĐT được giao kết và thực hiện qua thư điện tử cũng
có thể sử dụng chữ ký số để ký và các thư điện tử trong quá trình giao dịch. Đặc điểm
nổi bật của việc sử dụng hợp đồng TMĐT có chữ ký số là các bên phải có chữ ký số
để ký vào các thông điệp dữ liệu trong quá trình giao dịch. Chính vì có sử dụng chữ
ký số nên các hợp đồng này có độ bảo mật và ràng buộc trách nhiệm các bên cao hơn.
Tuy nhiên, để có thể sử dụng chữ ký số, các chủ thể giao kết hợp đồng cần phải có sự
hiểu biết về việc tạo lập chữ ký số. Ngoài ra khi sử dụng chữ ký số cũng cần có sự
tham gia của các cơ quan chứng thực chữ ký số mà trên thế giới cũng như tại Việt
Nam hiện nay, dịch vụ này còn trong giai đoạn bắt đầu triển khai.
- Hợp đồng hình thành qua các công cụ: các bên có thể sử dụng công cụ tán gẫu
để tiến hành giao dịch như Zalo, Viber … Trong quá trình giao dịch các bên có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status