LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG hợp ĐỒNG THƯƠNG mại điện tử tại VIỆT NAM - Pdf 48

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

-----o0o-----

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007 – 2011

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn
Võ Hoàng Yến

Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Phượng
MSSV: 5075138
Lớp: Luật Thương Mại – K33

Cần Thơ, 04/2011
GVHD: Võ Hoàng Yến

i

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
GVHD: Võ Hoàng Yến

ii

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

Nhận Xét Của Giảng Viên Phản Biện

 ......................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................

Trang
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH ........................3
1.1. Khái quát chung về thương mại điện tử.........................................................3
1.1.1. Khái niệm thương mại điện tử .................................................................3
1.1.2. Đặc trưng của thương mại điện tử............................................................5
1.1.3. Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử .....................................8
1.2. Khái quát chung về hợp đồng thương mại điện tử .......................................11
1.2.1. Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử................................................11
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử...........................................13
1.2.3. Vai trò của hợp đồng thương mại điện tử...............................................15
1.3. Khái quát về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh…………...…….…….17
1.3.1. Khái niệm chung về giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh..17
1.3.1.1. Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh ……………...…………...17
1.3.1.2. Các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh chấp trong kinh doanh.18
1.3.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ...........................19
1.3.2.1. Thương lượng ……………………………………………………. 19
1.3.2.2. Hòa giải ………….……………………………………….……… 19
1.3.2.3. Tố tụng trọng tài …………………………………….…………… 20
1.3.2.4. Tố tụng tòa án ……………………………………….…………… 22
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT
NAM .....................................................................................................................24
2.1. Một số tranh chấp thường phát sinh từ hợp đồng thương mại điện tử ..........24
2.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại
Việt Nam ...........................................................................................................30
2.2.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng ..............................................32
2.2.2. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải ......................................................33
2.2.3. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại .................................37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

GVHD: Võ Hoàng Yến

v

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU

 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin và thương mại điện tử đã
xâm nhập vào mọi góc cạnh của đời sống xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói
riêng. Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử góp phần hình thành những mô
hình kinh doanh mới, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và dễ dàng ký kết
hợp đồng với mọi đối tác trong và ngoài nước. Đối với người tiêu dùng, thương mại
điện tử giúp người mua có thể ngồi tại nhà mà vẫn có thể lựa chọn hàng hóa, dịch
vụ trên các thị trường ở mọi nơi trên thế giới chỉ bằng một vài động tác kích chuột
và sử dụng bàn phím.
Thật vậy, những ứng dụng của thương mại điện tử nói chung và hợp đồng
thương mại điện tử nói riêng đã, đang và sẽ đem lại nhiều lợi ích cho toàn xã hội
đồng thời mở ra một xu hướng phát triển mới cho nền kinh tế hiện đại. Tuy nhiên,
tại Việt Nam, những ưu điểm vượt trội của mô hình kinh doanh mới mẻ này vẫn
chưa phát huy đúng mức tiềm năng của nó. Nguyên nhân là do cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp
ứng được nhu cầu thực tiễn. Hợp đồng thương mại điện tử, với tư cách là một dạng

Nội dung nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề pháp lý về hợp đồng thương
mại điện tử, các vi phạm, các dạng tranh chấp thường xảy ra và về hoạt động giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ loại hợp đồng này tại Việt Nam. Ngoài ra, người
viết cũng tìm hiểu về những vấn đề có liên quan, đặc biệt là về việc bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử do bởi sự hạn chế của pháp
luật điều chỉnh trong lĩnh vực này cũng là một phần nguyên nhân dễ làm nảy sinh
mâu thuẫn giữa các bên trong hợp đồng thương mại điện tử khi người tiêu dùng
thường ở thế yếu hơn so với doanh nghiệp.
 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài người viết đã dùng phương pháp tổng hợp: thu thập tổng
hợp tài liệu, phân tích, diễn giải dựa trên các nguồn tài liệu, sách báo, thông tin trên
Internet có liên quan, người viết tiến hành tổng hợp, hệ thống theo bố cục đề tài và
tiến hành phân tích, đánh giá.
 Kết cấu của đề tài
Kết cấu nội dung của đề tài gồm ba chương (không bao gồm phần mở đầu,
phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1. Một số vấn đề chung về thương mại điện tử và việc giải
quyết tranh chấp trong kinh doanh.
Chương 2. Những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp
trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Chương 3. Thực trạng giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương
mại điện tử tại Việt Nam và hướng hoàn thiện.

GVHD: Võ Hoàng Yến

2

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng



quốc về Luật Thương mại quốc tế soạn thảo (UNCITRAL).
Đây là một lĩnh vực tương đối mới, ngay đến tên gọi cũng có khá nhiều: có
thể gọi là “thương mại trực tuyến” (Online trade), “thương mại điều khiển học”
(Cybertrade), “kinh doanh điện tử” (Electronic business), “thương mại không có
giấy tờ” (Paperless commerce, hoặc Paper trade). Hiện nay, tên gọi “thương mại
điện tử” (Electronic commerce) được sử dụng rộng rãi nên trở thành quy ước chung,

GVHD: Võ Hoàng Yến

3

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

được đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, tuy nhiên các tên gọi khác vẫn có thể dùng
và được hiểu với cùng một nội dung.
Thương mại điện tử (TMĐT), một cách đơn giản và phổ biến nhất, được hiểu
là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn,
TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, mà
nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của toàn bộ quá
trình giao dịch. Ở đây, “thông tin” không được hiểu theo nghĩa hẹp là “tin tức”, mà
là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tệp tin
văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bảng tính, các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử,
các đồ họa, quảng cáo, vấn tin, đặt hàng, hóa đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh
động, âm thanh…
Trên thực tế, có nhiều định nghĩa TMĐT được nhìn nhận dưới nhiều góc độ
khác nhau, nhưng khái quát lại, thuật ngữ TMĐT có thể được hiểu như sau:
 Theo nghĩa rộng:



Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

Tóm lại, theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là các giao dịch tài
chính và thương mại bằng các phương pháp điện tử. Nếu hiểu theo phương diện
này, TMĐT không phải là một vấn đề mới mẻ vì những giao dịch điện tử được thực
hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay
( Fax, Telex…) và đã trở nên rất quen thuộc.
 Theo nghĩa hẹp:
TMĐT theo nghĩa hẹp, bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện
thông qua mạng Internet.2
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO – World Trade Organization),
TMĐT được hiểu bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản
phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một
cách hữu hình.
Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành
thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
Và theo Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên hợp quốc (OECD –
Organization for Economic Co-operation and Development) thì TMĐT được định
nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng
truyền thông như Internet.
Như vậy, theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ bao gồm những hoạt động thương mại
được thực hiện thông qua mạng Internet và công nghệ thông tin mà không tính đến
các phương tiện điện tử khác như điện thoại, Fax, Telex… Theo nghĩa này thì
TMĐT chỉ mới tồn tại trong những năm gần đây nhưng đã đạt được những kết quả
rất đáng quan tâm. Hiểu theo nghĩa này, có thể nói rằng TMĐT đang trở thành một
cuộc cách mạng thay đổi cách thức mua sắm của con người.
Có thể đưa ra một định nghĩa chung như sau: Thương mại điện tử là hình

kinh doanh, chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa các đối tác trong giao dịch.
Từ khi xuất hiện mạng máy tính mở toàn cầu Internet thì việc trao đổi thông
tin đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng người
tham gia ngày càng tăng. TMĐT ra đời, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp
mọi nơi, từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, có thể là cá nhân
hoặc doanh nghiệp, có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn
cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau. Họ gặp gỡ nhau qua
những chợ ảo trên mạng để thực hiện khảo hàng và mua bán.
 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị
trường thống nhất, không có biên giới, trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh
toàn cầu.
Có thể nói rằng khái niệm biên giới là một cản trở lớn đối với thương mại
truyền thống. Đề cập tới khái niệm biên giới trong thương mại truyền thống, người
ta thường hay nghĩ tới sự gia tăng của chi phí giao dịch, những rào cản thuế quan và
phi thuế quan – những điều có thể cản trở một doanh nghiệp tiến hành hoạt động
kinh doanh của mình trên những thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, rào cản về chi
phí lại có thể được xóa bớt bởi sự phát triển của TMĐT. Thật vậy, TMĐT phát triển
càng nhanh thì máy tính cá nhân càng trở thành một công cụ hữu dụng cho doanh
nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Không chỉ có các công ty hàng đầu
thế giới mới có thể tiếp cận được những thị trường mới, mà ngay cả một công ty
vừa mới khởi sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới.
 Mạng lưới thông tin đối với thương mại truyền thống chỉ là phương tiện để
trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì nó chính là thị trường
Với thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để các
bên tham gia giao dịch có thể trao đổi dữ liệu tiến tới việc thực hiện giao dịch, còn
nơi gặp gỡ, tiếp xúc của họ để tiến hành giao dịch kinh doanh là hoàn toàn độc lập.
Còn trong TMĐT, mạng lưới thông tin cũng chính là thị trường – nơi gặp gỡ của
GVHD: Võ Hoàng Yến


TMĐT điều này không còn đúng nữa. Thật vậy, trong TMĐT, doanh nghiệp dù lớn
hay nhỏ đều có thể dễ dàng truy nhập đến các khách hàng tiềm năng, kể cả khách
hàng ở các vùng địa lý mà trước đây họ không thể vươn tới được. Thành công này
đã được chứng tỏ bởi các doanh nghiệp mới thành lập như Amazon.com, E-trade,
Ebay…đã xác định lại các thị trường tương ứng của mình và hiện nay chiếm thị
phần lớn trên Internet. Ngày nay, họ đã có thể cạnh tranh với các công ty tồn tại lâu
đời, có cơ sở hạ tầng vững mạnh và quyền lực mua bán lớn bằng cách sử dụng sự
hiểu biết và linh hoạt để tận dụng ưu thế của môi trường mới.
 Tốc độ giao dịch nhanh chóng
Trước đây để thực hiện một giao dịch thương mại truyền thống chúng ta phải
mất một khoảng thời gian dài, đôi khi là cả năm. Chủ tịch hãng máy tính khổng lồ
MICROSOFT Bill Gates có nói “Tốc độ quyết định một doanh nghiệp thành công
3

TS.Nguyễn Hoài Anh – ThS Ao Thu Hoài: Thương mại điện tử, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Tr. 17

GVHD: Võ Hoàng Yến

7

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

hay thất bại”4, với những ứng dụng trong TMĐT, ta chỉ cần bấm một phím thì một
giao dịch hoặc một hợp đồng đã được ký kết. Chính vì thế TMĐT còn được gọi là
Thương mại không giấy tờ.
1.1.3. Các hình thức hoạt động của thương mại điện tử
 Thư điện tử

4

/>
GVHD: Võ Hoàng Yến

8

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng như
giữa các quốc gia (Digital cash).
- Túi tiền điện tử (Electronic purse), hay “ví điện tử” là nơi để tiền mặt Internet, chủ
yếu là thẻ thông minh (Smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (Stored value card), tiền
được trả cho bất kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ
thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”.
- Giao dịch ngân hàng số hóa (Digital banking), giao dịch chứng khoán số hóa
(Digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ
thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
+ Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng
+ Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị,…)
+ Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
+ Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
 Trao đổi dữ liệu
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc
trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (Stuctured form), (có cấu trúc nghĩa là
các thông tin trao đổi được với các đối tác thỏa thuận với nhau tuân thủ theo một
khuôn dạng nào đó) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các

TMĐT có đặc tính phi biên giới (Cross – border electronic commerce), về
bản chất phi biên giới là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp ở các
quốc gia khác nhau, công việc trao đổi EDI thường là các nội dung sau:
- Giao dịch kết nối
- Đặt hàng
- Giao dịch gửi hàng
- Thanh toán
 Truyền dung liệu
Dung liệu (Content) là nội dung của hàng hóa số, giá trị của nó không phải
trong vật mang tin và nằm trong bản thân nội dung của nó. Hàng hoá số có thể
được giao qua mạng. Ví dụ hàng hoá số là: Tin tức, nhạc phim, các chương trình
phát thanh, truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay,
vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm,…Trước đây, dung liệu được trao đổi
dưới dạng hiện vật bằng cách đưa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn
bản, đóng gói bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như
của hàng, quầy báo…) để người sử dụng mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung
liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (Digital
Delivery). Các tờ báo, các tư liệu công ty, các ca-ta-lô sản phẩm lần lượt đưa lên
Web, người ta gọi là “xuất bản điện tử” (Electronic Publishing hoặc Web
Publishing), hiện nay có trên 2700 tờ báo đã được đưa lên Web gọi là “sách điện
tử”5; các chương trình phát thanh, truyền hình,giáo dục, ca nhạc, kể chuyện ...cũng
được số hóa, truyền qua Internet, người sử dụng tải xuống; và sử dụng thông qua
màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử.
 Bán lẻ hàng hóa hữu hình
Đến nay, danh sách các hàng hóa bán lẻ qua mạng đã mở rộng từ hoa tới
quần áo, ôtô,… và xuất hiện một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử”
(Electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng”. Ở một số nước, Internet bắt đầu
trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hóa hữu hình (Retail of tangible goods).
Tận dụng tính năng đa phương tiện (Multimedia) của môi trường Web và Java,
người bán xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (Virtual shop), là vì cửa hàng có

tính năng cao hơn, cho phép người mua giao tiếp thoải mái hơn nữa với cửa hàng và
hàng hoá… Vì hàng hóa là hữu hình, nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng tới các
phương tiện gửi hàng theo kiểu truyền thống để đưa hàng đến tay người tiêu dùng.
Điều quan trọng nhất là khách hàng có thể mua hàng tại nhà (Home shopping) mà
không phải đích thân đi tới cửa hàng.
1.2. Khái quát chung về hợp đồng thương mại điện tử
1.2.1. Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của TMĐT, giao dịch điện tử ngày càng
chiếm ưu thế và được nhiều chủ thể quan tâm, đặc biệt là các doanh nghiệp với
nhiều lợi ích mang lại như đã nói. Sự thông dụng của giao dịch điện tử tất yếu hình
thành nên hình thức hợp đồng mới “hợp đồng điện tử” (Elcetronic Contracts) tương
ứng. Tuy nhiên, luật pháp hiện hành ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt
Nam vẫn chưa đưa ra định nghĩa chính thức về “Hợp đồng thương mại điện tử”
nhưng ta có thể xem xét và nhận định qua các cơ sở sau:
Trước hết, hợp đồng được luật pháp thừa nhận là một công cụ pháp lý để ghi
nhận quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Theo quy định tại Điều 388 của Bộ
luật Dân sự năm 2005 “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Quy định này của Bộ luật Dân
sự cho thấy rõ rằng hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm tiến hành một

GVHD: Võ Hoàng Yến

11

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

công việc, một hoạt động hay một hành vi nhất định nhằm đem lại quyền và lợi ích

Tóm lại, hợp đồng TMĐT có thể hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, được thiết lập dưới dạng
thông điệp dữ liệu, để thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi.
6

Khoản 2 điều 3 Luật Thương mại 2005

7

Khoản 1 điều 4 Luật Giao dịch Điện tử 2005

GVHD: Võ Hoàng Yến

12

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

Pháp luật nhiều nước cũng không phân biệt rõ hợp đồng điện tử với hợp
đồng TMĐT. Phải chăng vì lĩnh vực này còn quá mới mẻ, cả về phương diện công
nghệ kỹ thuật lẫn cơ sở pháp lý, cho nên người ta chưa chú ý đến tính thương mại
của hợp đồng điện tử. Người ta mới chỉ quan tâm đến khía cạnh kỹ thuật công nghệ
của hợp đồng điện tử nói riêng và giao dịch điện tử nói chung. Tuy nhiên, để TMĐT
phát triển và đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế mỗi nước cũng như kinh
tế toàn cầu, hợp đồng TMĐT sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng với ý nghĩa là
một công cụ hữu hiệu để thực hiện phương thức kinh doanh mới mẻ này.
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử
Hợp đồng TMĐT, trước hết, mang những đặc tính cần có của một hợp đồng

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

đồng điện tử là “ảo”, “phi giấy tờ”, không dễ dàng “cầm nắm” và “sử dụng” một
cách dễ dàng, làm cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng điện tử trở nên
khác xa so với các hợp đồng bằng giấy trắng mực đen truyền thống.
- Tính hiện đại, chính xác: Hợp đồng điện tử được giao kết thông qua các
phương tiện điện tử nhờ sự tiến bộ của các công nghệ hiện đại như: công nghệ điện
tử, công nghệ số, từ tính, quang học, mạng viễn thông không dây, mạng Internet…
Việc sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông giúp việc giao kết hợp
đồng trở nên thuận tiện, chính xác và nhanh hơn so với việc ký kết hợp đồng truyền
thống. Đặc biệt, có những hợp đồng điện tử được ký kết hoàn toàn tự động giữa một
bên là khách hàng và một bên là doanh nghiệp được đại diện bởi website bán hàng
tự động như trong các mô hình TMĐT bán lẻ B2C.8
- Tính rủi ro: Bên cạnh sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí do sử dụng phương
tiện điện tử và mạng viễn thông để ký kết hợp đồng điện tử, việc ký kết và thực hiện
hợp đồng điện tử cũng gặp phải một số khó khăn do chính những yếu tố này tạo ra.
Thật vậy, trong mọi môi trường “ảo”, đôi khi rất khó khăn để xác định năng lực của
đối tác giao kết hợp đồng, xác định xem đơn đặt hàng trên Internet là đơn đặt hàng
thật hay đơn đặt hàng giả. Tính vô hình khiến cho việc lưu trữu hợp đồng nhằm đảm
bảo bằng chứng về hợp đồng trong trường hợp xảy ra tranh chấp cũng là điều không
đơn giản. Sự trục trặc về mặt kỹ thuật có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, sự sử dụng kỹ
thuật công nghệ chưa thành thạo có thể dẫn đến sai sót; sự tấn công của hacker có
thể tạo ra sự mất an toàn trong công tác bảo mật thông tin của các thương vụ…Làm
thế nào để có một chữ ký điện tử đáng tin cậy, làm thế nào để bảo mật hợp đồng
điện tử và chữ ký điện tử, làm thế nào để chống lại rủi ro, cũng là những câu hỏi
làm đau đầu các nhà kinh doanh mà còn cả các nhà làm luật khi giao dịch điện tử
phát triển ở tầm quốc tế.

trình hội nhập vào nền kinh tế hiện đại của thế giới:
-Hợp đồng TMĐT giúp các bên giao kết tiết kiệm thời gian đàm phán, giao
kết hợp đồng.
Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm nhiều bước, từ tìm hiểu đối tác, giới
thiệu sản phẩm dịch vụ, gửi đơn chào hàng, gửi chấp nhận chào hàng, đàm phán các
điều khoản hợp đồng, ký kết, sửa đổi, lưu trữ… Nếu tất cả những công việc ấy đều
diễn ra bằng “giấy trắng mực đen” thì thời gian để các bên soạn thảo, in ấn giấy tờ,
thời gian gửi và chờ nhận thư liên lạc giữa hai bên là không ngắn.
Các cuộc điều tra cho thấy 80% thời gian để ký kết hợp đồng sẽ được tiết
kiệm nếu như sử dụng hợp đồng TMĐT. Việc sử dụng Internet sẽ giúp các bên giao
kết, đặc biệt là người tiêu dùng và các doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian giao
dịch. Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax,
bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện.9
- Bằng việc giao kết hợp đồng TMĐT, các doanh nghiệp giảm được chi phí
giao dịch, bán hàng.
Chỉ bằng một vài thao tác trên máy tính, một nhà kinh doanh, ngồi tại văn phòng
của mình, thậm chí là tại nhà riêng cũng có thể giao dịch cùng lúc với nhiều khách
hàng, giao kết được nhiều hợp đồng với những đối tác ở nhiều nơi khác nhau, vừa
tiết kiệm được thời gian vừa tiết kiệm được chi phí. Điều này không thể có được đối
với hình thức giao kết hợp đồng truyền thống.
- Sử dụng hợp đồng TMĐT sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ số hóa đối với việc
mua bán một số sản phẩm và dịch vụ.
+ Đối với giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường.
Trong nhóm này. Internet hay các mạng mở khác được sử dụng như một phương
tiện cho các giao dịch chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng, thậm chí
cả thanh toán, nhưng việc giao hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải được
thực hiện một cách vật chất thông qua những phương tiện truyền thống. Giao dịch
TMĐT thuộc nhóm này có sự kết hợp giữa quy trình giao dịch truyền thống với quy
9


tiêu thụ lớn có giá trị cao. Đối với việc giao dịch mua bán các sản phẩm đặc thù
này, hợp đồng TMĐT sẽ là phương thức phù hợp, tiện lợi và nhanh chóng nhất.
- Việc sử dụng hợp đồng TMĐT sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực
cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ nhanh chóng và sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trên thế giới diễn ra ngày càng khốc liệt, việc tìm kiếm
được nhiều đối tác, khách hàng, tìm kiếm được thị trường mới, tổ chức được kênh
cung ứng linh hoạt, gọn nhẹ, nhanh chóng với chi phí giảm cũng như khả năng phản
ứng nhanh hơn với các cơ hội trong guồng quay của thế giới kinh doanh là những
lợi thế không thể thiếu đối với một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển theo kịp
với thị trường thế giới. TMĐT nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng chính là
chiếc chìa khóa dẫn các doanh nghiệp đến với những cơ hội, thử thách cũng như
đưa doanh nghiệp tới khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tiết kiệm
thời gian và chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng như đã phân tích ở trên là yếu tố
quan trọng làm giảm chi phí kinh doanh nói chung của doanh nghiệp, từ đó góp
GVHD: Võ Hoàng Yến

16

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hơn nữa, trong môi trường
điện tử, thông tin được truyền dẫn từ người khởi tạo và người nhận hầu như là ngay
lập tức nhận được. Điều đó có nghĩa là, các doanh nghiệp nhờ vào các phương tiện
điện tử, có thể tiếp cận và nắm bắt được một cách kịp thời những cơ hội kinh doanh
mới, ký kết được những hợp đồng một cách nhanh chóng.

10

ThS. Dương Kim Thế Nguyên: Giáo trình Luật Thương mại 3, Đại học Cần Thơ, Tr 1

GVHD: Võ Hoàng Yến

17

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng


Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam

Có thể nói, trong các loại tranh chấp kinh tế kể trên, tranh chấp trong kinh
doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái
niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với
ý nghĩa tương đương nhau.
Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, là sự bất đồng
về một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham
gia kinh doanh và thông thường gắn với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản. Do đó, có
thể khái quát những đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh như sau:
- Nó luôn gắn liền với những hoạt động kinh doanh của các chủ thể.
- Các chủ thể tranh chấp trong kinh doanh thường là các doanh nghiệp.
- Nó là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt
lợi ích kinh tế của các bên.
1.3.1.2. Các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy giải
quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế. Theo
hiểu biết chung: giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các
hình thức biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích

Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên
cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ
hợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba.
 Đặc điểm:
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên; đó
là sự thể hiện quyền tự do hợp đồng và tự do định đoạt của các bên.
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định
và không đòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào.
- Thương lượng được áp dụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp
kinh tế vì nó không phiền hà, không tốn kém, không gây ra quan hệ xấu trong kinh
doanh. Nhà kinh doanh Việt Nam nào cũng tìm đến giải pháp thương lượng trước
khi đi tìm một giải pháp khác.
Thời gian và chi phí dành cho cuộc thương lượng thông thường phụ thuộc
vào tính chất và giá trị tranh chấp, tuy nhiên trong thực tế điều đó lại phụ thuộc rất
nhiều vào thiện chí của các bên và cách thức thương lượng ( gặp gỡ trực tiếp hay
thông qua thư tín...).
1.3.2.2. Hòa giải
 Khái niệm:
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc
lập, do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho
các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột
nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hoà.
 Đặc điểm:
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
- Các bên tranh chấp thỏa thuận bên thứ ba để tạo điều kiện thuận lợi cho
việc đàm phán.
- Trong quá trình hòa giải, các bên tranh chấp không chịu sự chi phối bởi các
quy định có tính khuông mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải.
- Một khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp thì sự
nhất trí phải được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc

quyết tranh chấp. Hoà giải vừa là hình thức giải quyết tranh chấp không chính thức
do các bên tự lựa chọn đồng thời là hình thức giải quyết tranh chấp chính thức thủ
tục tố tụng.
1.3.2.3.Tố tụng trọng tài
 Khái niệm
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết
tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập
nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp
phải thực hiện.
 Đặc điểm
- Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, hoạt động theo
pháp luật và quy chế trọng tài. Nó có quyền phán quyết như toà án, quyết định của
trọng tài được cưỡng chế thi hành.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố
thoả thuận và tài phán. Cụ thể, thoả thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể
có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thoả thuận. Do đó, về nguyên tắc thẩm
quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật. Các đương sự có thể lựa chọn
bất kỳ lúc nào, bất cứ trọng tài Ad-hoc nào hoặc bất cứ trung tâm trọng tài nào trên
GVHD: Võ Hoàng Yến

20

SVTH: Nguyễn Ngọc Phượng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status