Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp trong lĩnh vực FDI
a) Khái niệm tranh chấp trong lĩnh vực FDI
Tranh chấp trong lĩnh vực FDI là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong quan hệ đầu tư trực
tiếp nước ngoài.
b) Đặc điểm tranh chấp trong lĩnh vực FDI tại Việt Nam
- Thứ nhất, về chủ thể tranh chấp: là các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Một bên chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài hoặc
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các chủ thể khác trong quá trình thực
hiện hoạt động đầu tư.
- Thứ hai, lĩnh vực phát sinh tranh chấp là lĩnh vực FDI thông qua các hình
thức như:
(i) Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;
(ii) Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài;
(iii) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO,
hợp đồng BT;
(iv) Đầu tư phát triển kinh doanh;
(v) Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
(vi) Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
- Thứ ba, tranh chấp trong lĩnh vực FDI thể hiện ra bên ngoài là những mâu
thuẫn, bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài thuộc
lĩnh vực này.
1.1.2. Phân loại các tranh chấp trong lĩnh vực FDI
a) Thứ nhất, phân loại theo chủ thể:
- Nhóm thứ nhất gồm có tranh chấp mà một bên chủ thể là nhà đầu tư nước
không thiên vị giữa các chủ thể có quốc tịch khác trong các tranh chấp thương mại
quốc tế.
- Thứ ba, hệ thống pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng giải quyết tranh
chấp phải phù hợp với thông lệ quốc tế là đối xử tối huệ quốc trong đầu tư.
1.2.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI được thực hiện thông qua thương
lượng, hoà giải, toà án và trọng tài.
1.3. Trọng tài - Một phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
1.3.1. Các đặc trưng pháp lý của hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh
vực FDI
Thứ nhất, hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI có một bên
đương sự là tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Thứ hai, các đương sự có quyền thoả thuận luật áp dụng để giải quyết nội
dung vụ tranh chấp nếu không trái với quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản
pháp luật khác của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ ba, các bên tranh chấp được khuyến khích giải quyết tranh chấp tại
trọng tài.
1.3.2. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực FDI
a) Ưu điểm:
Thứ nhất, trọng tài tạo cho các bên cơ hội lựa chọn một diễn đàn "trung lập"
để giải quyết tranh chấp cho mình.
Thứ hai, các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên để xét xử tranh chấp cho
mình.
Thứ ba, quyết định trọng tài có tính cưỡng chế thi hành.
Thứ tư, quyết định trọng tài có tính chung thẩm.
Thứ năm, giải quyết tranh chấp tại trọng tài các bên giữ được bí mật kinh
doanh cũng như uy tín trên thương trường.
VỰC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI BẰNG TRỌNG TÀI
2.1. Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài theo các điều
ước
quốc tế
2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI theo quy định
của Công ước Washington năm 1965 về giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực
đầu tư quốc tế giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác (Công ước ICSID)
a) Tổng quan về ICSID ICSID là một tổ chức quốc tế độc lập được thành
lập theo Công ước ICSID.
Công ước ICSID được ban hành ngày 18/3/1965 và có hiệu lực thi hành
ngày 14/10/1966.
Cơ cấu tổ chức của ICSID bao gồm: Hội đồng điều hành, Ban Thư ký, Uỷ
ban hoà giải viên và Uỷ ban Trọng tài viên.
ICSID cung cấp cơ sở pháp lý cho trọng tài các tranh chấp về đầu tư giữa
các quốc gia ký kết và các nhà đầu tư là công dân của các quốc gia ký kết khác,
nhưng bản thân ICSID không tham dự vào việc giải quyết vụ tranh chấp.
Việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài tại ICSID là hoàn toàn tự
nguyện. Tuy nhiên, khi các bên đã nhất trí giải quyết bằng trọng tài căn cứ vào
Công ước ICSID thì họ phải thực hiện cam kết của mình và tuân thủ phán quyết.
b) Thẩm quyền giải quyết của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc
tế
- Thứ nhất, tranh chấp được đưa ra giải quyết phải là tranh chấp pháp lý phát
sinh trực tiếp từ hoạt động đầu tư.
- Thứ hai, tranh chấp được đưa ra giải quyết phải là tranh chấp phát sinh
giữa một quốc gia ký kết (hoặc bất kỳ cơ quan, hoặc tổ chức hợp hiến nào mà quốc
gia đó đã thông báo cho ICSID) và công dân (pháp nhân hoặc thể nhân) của một
quốc gia ký kết khác, trừ trường hợp áp dụng cơ chế phụ trợ (kể từ năm 1978,
ICSID đã đưa ra quy tắc phụ trợ cho phép Ban Thư ký ICSID xử lý một số loại thủ
- Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Malaysia ngày
21/01/1992.
- Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Philipines ngày
27/02/1992.
b) Các Hiệp định tương trợ tư pháp
Các hiệp định tương trợ tư pháp điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi
hành quyết định của trọng tài nước ngoài là Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng
hòa XHCN Việt Nam với các nước: Lào, Trung Quốc, Mông Cổ…So với các hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các hiệp định tương trợ tư pháp có hai điểm
khác cơ bản như sau:
Một là, chúng điều chỉnh một cách trực tiếp không viện dẫn hoàn toàn vào
nguồn luật quốc nội của các quốc gia ký kết do đó sẽ cụ thể và chi tiết hơn.
Hai là, đối tượng điều chỉnh của chúng là các quyết định trọng tài nói chung
chứ không là quyết định trọng tài về các tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư.
c) Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài
nước ngoài
Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/06/1958, có
hiệu lực từ ngày 07/06/1959. Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày
28/07/1995. Công ước điều chỉnh các vấn đề sau: xác định khái niệm quyết định
trọng tài thuộc diện điều chỉnh của Công ước, vấn đề liên quan đến thoả thuận
trọng tài; vấn đề áp dụng pháp luật tố tụng trong việc công nhận và thi hành quyết
định trọng tài nước ngoài; thủ tục yêu cầu công nhận và thi hành; các điều kiện
công nhận và thi hành quyết định; mối quan hệ giữa Công ước với các điều ước
quốc tế khác, với pháp luật quốc gia về công nhận và cho thi hành quyết định trọng
tài nước ngoài.
2.1.3. Giải quyết tranh chấp về đầu tư của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO)
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc:
trọng tài tại Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
a) Cơ quan trọng tài Trung Quốc và phạm vi trọng tài
Cơ quan trọng tài của Trung Quốc là Uỷ ban trọng tài. Uỷ ban trọng tài có
thể mời hoặc thuê trọng tài viên, Toà trọng tài với các thành viên là các trọng tài
viên sẽ chịu trách nhiệm phán quyết các vụ án. Theo quy định của Luật trọng tài
Trung Quốc, phạm vi trọng tài là các tranh chấp về hợp đồng giữa các công dân,
pháp nhân và các tổ chức khác hoặc các tranh chấp về quyền và lợi ích có liên
quan đến tài sản.
Tuy nhiên, các tranh chấp sau đây không thuộc diện phán quyết của hoạt
động trọng tài: (1) hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ, chăm sóc phụng dưỡng,
tranh chấp về thừa kế; (2) Những tranh chấp hành chính thuộc phạm vi giải quyết
của các Cơ quan hành pháp theo quy định của pháp luật.
b) Nguyên tắc cơ bản của hoạt động trọng tài Trung Quốc bao gồm:
Nguyên tắc tự nguyện; nguyên tắc trọng tài độc lập; nguyên tắc căn cứ vào
sự thật và những quy định có liên quan của pháp luật; nguyên tắc bình đẳng về địa
vị nhưng đối lập về quyền lợi và nghĩa vụ giữa Trọng tài và đương sự và nguyên
tắc biện luận và nguyên tắc Toà án giám sát.
c) Chế độ cơ bản của trọng tài Trung Quốc: Chế độ một phán quyết cuối
cùng; chế độ thời hiệu trọng tài (Thời hiệu trọng tài là thời hạn theo quy định của
pháp luật cho phép đương sự đề nghị Cơ quan trọng tài bảo vệ quyền lợi của
mình); chế độ đại diện trọng tài; chế độ tránh trọng tài (trường hợp Trọng tài viên
có thể ảnh hưởng tới tính công bằng của phán quyết trọng tài thì không được tham
gia vụ việc đó).
2.3. Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài theo pháp
luật Việt Nam
2.3.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp của trọng tài gồm có:
trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên.
Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp
lý quan trọng này, trong đó xác định rõ Toà án có thẩm quyền đối với hoạt động
trọng tài và liệt kê 7 nội dung thẩm quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng tài
(khoản 2 Điều 7) bao gồm: thu thập chứng cứ; đăng ký phán quyết trọng tài; tuyên
thoả thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; giải
quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài; bảo đảm sự có mặt của người làm chứng;
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; chỉ định, thay đổi trọng tài viên. Các biện
pháp hỗ trợ của Toà án đối với hoạt động trọng tài được quy định tại nhiều điều
khoản trong Luật Trọng tài thương mại.
2.3.4. Thi hành các quyết định giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng
trọng tài
a) Về thi hành các quyết định của Trọng tài Việt Nam về giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực FDI
Theo quy định tại Điều 65 và Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010,
Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Hết thời
hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự
nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, bên được thi
hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.
Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm
đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng
tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định của pháp luật. Như vậy, biện
pháp bảo đảm thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là yêu cầu
Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.
b) Về công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài về giải
quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI tại Việt Nam
- Nguyên tắc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài
thích với Luật Đầu tư năm 2005. Qua thực tiễn cho thấy số lượng các tranh chấp về
đầu tư được giải quyết còn rất ít. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực
từ ngày 01/01/2011. Luật đã mở rộng phạm vi áp dụng với mọi loại tranh chấp,
không chỉ hạn chế ở các tranh chấp thương mại và không hạn chế ở yếu tố chủ thể
phải có đăng ký kinh doanh như Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, thời
gian thực hiện còn ít để có thể đánh giá được thực trạng thi hành Luật.
Theo số liệu thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), từ
năm 1993 đến năm 2010, số vụ tranh chấp về đầu tư khá ít là 17 vụ/492 vụ tranh
chấp kinh doanh, chiếm gần 4%.
Từ thực tiễn hoạt động của các tổ chức trọng tài ở Việt Nam có thể rút ra
đánh giá chung là phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng
tài không được phổ biến tại Việt Nam. Nếu so sánh về số lượng các vụ tranh chấp
kinh tế được giải quyết bằng phương thức trọng tài tại VIAC với một số Trung tâm
Trọng tài quốc tế trên thế giới thì ở Việt Nam ít hơn rất nhiều.
Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ năm 2007 giải quyết được 621 vụ, năm 2008:
703 vụ, năm 2009: 836 vụ. Còn Hội đồng Trọng tài Kinh tế và Thương mại quốc
tế Trung Quốc năm 2007 giải quyết được 1.118 vụ, năm 2008: 1.230 vụ và năm
2009: 1.482 vụ.
3.3.2. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 làm ảnh hưởng tới quyền chọn hình
thức và địa điểm giải quyết tranh chấp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được Luật Đầu tư bảo đảm. Điểm mới là các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được quyền lựa chọn ngôn ngữ trọng tài theo quy định tại Điều 10 Luật
Trọng tài thương mại:
- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố
tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là
vực FDI bằng trọng tài
a) Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng
tài còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, cụ thể là:
Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp, cá nhân không am hiểu những vấn đề liên
quan đến tố tụng thông qua con đường trọng tài thương mại.
Thứ hai, pháp luật chưa có quy định bảo đảm thi hành có hiệu lực, hiệu quả
các phán quyết trọng tài mà phải có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan Nhà nước. Chính
vì vậy, nhiều doanh nghiệp có tâm lý e ngại khi sử dụng trọng tài để phân xử tranh
chấp.
Thứ ba, mạng lưới trọng tài của chúng ta còn ít. Trình độ của các trọng tài
Việt Nam thường không cao. Do vậy, nhiều tranh chấp về đầu tư nước ngoài thì khi
soạn thảo hợp đồng, bên nước ngoài luôn có xu hướng lựa chọn trung tâm trọng tài
có uy tín của nước ngoài để giải quyết tranh chấp cho mình.
Thứ tư, một số hạn chế của pháp luật về trọng tài thương mại như chưa quy
định cụ thể mức tạm ứng phí trọng tài nên không thống nhất về áp dụng quy định
này của các tổ chức trọng tài; hạn chế của quy định về tính chung thẩm của phán
quyết trọng tài.
b) Hoạt động giải quyết tranh chấp FDI bằng trọng tài phải đáp ứng nhu cầu
thực tiễn hoạt động kinh doanh và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
FDI hiện nay cũng như dự báo trong thời gian tới khi nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta ngày càng mở rộng.
c) Giải quyết tranh chấp FDI bằng trọng tài phải đáp ứng được yêu cầu ngày
càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.2. Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
a) Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
FDI bằng phương thức trọng tài
Thứ nhất, cần khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Trọng tài thương mại năm 2010, cụ thể là:
- Nghiên cứu, ban hành Luật về hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ.
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho trọng tài viên.
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư
vào nước ta trong các lĩnh vực. Cùng với việc nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam thì những tranh chấp trong lĩnh vực FDI đang có chiều hướng gia
tăng và phức tạp hơn cả về tính chất cũng như quy mô. Để có sự phân tích, đánh
giá về pháp luật giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI một cách hiệu quả, khoa
học, luận văn đã đưa ra khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp trong lĩnh vực
FDI; các phương thức giải quyết tranh chấp, đồng thời xác định ưu điểm và nhược
điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng
tài đang từng bước được hoàn thiện mà nổi bật là Luật Trọng tài thương mại năm
2010; khắc phục được những bất cập của pháp luật về lĩnh vực này trước đây, đồng
thời có nhiều nội dung tiệm cận với pháp luật và tập quán trọng tài quốc tế. Điều
này đã đem lại một sự chuyển biến về “chất” trong việc giải quyết tranh chấp trong
lĩnh vực FDI bằng trọng tài, đặc biệt với quy định các quyết định trọng tài có hiệu
lực chung thẩm, được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước là
một bước đột phá, làm tăng cường tính hiệu quả của trọng tài phi Chính phủ.
Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, pháp luật
về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài đã bộc lộ những bất cập,
còn thiếu và chưa đồng bộ. Từ đó dẫn đến việc các tranh chấp trong lĩnh vực FDI
được giải quyết bằng trọng tài còn ít.
Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng
tài là một yêu cầu tất yếu. Với nhận thức như vậy, tác giả luận văn đã đề xuất 06
nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài. Nếu các giải pháp trên được triển khai thực hiện
đồng bộ, quyết liệt, chắc chắn sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
11. Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kê 2010, NXB Thống kê, Hà Nội.
12. Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2002), “Vấn đề thi hành án có yếu tố
nước ngoài, thực trạng và giải pháp”, Thông tin Khoa học pháp lý, (1).
13. Vụ Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp (2008), Báo cáo chuyên đề năm năm thực
hiện Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và công tác quản lý nhà nước về trọng
tài, Hà Nội.
14. Bách khoa toàn thư mở: .
15. Cổng thông tin điện tử của VCCI: www.vcci.vn.
16. Cổng thông tin điện tử của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
(ICSID):
/>17. Đặng Hoàng Oanh (2009), “Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản:
Nét
đặc thù của pháp lý Á Đông”, Mục Nghiên cứu trao đổi, Cổng Thông tin điện
tử của Bộ Tư pháp: www.moj.gov.vn.
18. Tào Nam Giang (2011), “Chế độ tư pháp Trung Quốc”, Mục Thông tin khoa
học,