Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh
vực đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng trọng tài
tại Việt Nam
Phan Hồng Nguyên
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực FDI bằng phương thức trọng tài theo quy định của pháp luật Việt
Nam, có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật một số nước trên thế giới. Nghiên cứu
các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài.
Nhiên cứu và phân tích thực trạng thực thi pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp
để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
ở nước ta.
Keywords: Luật Quốc tế; Đầu tư nước ngoài; Giải quyết tranh chấp; Trọng tài;
Pháp luật Việt Nam
Content
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Nhận thức chung về tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI)
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp trong lĩnh vực FDI
BOT, hợp đồng BT.
- Nhóm 2: Tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài.
1.2. Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
1.2.1. Vai trò của giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
- Thứ nhất, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI nhằm khôi phục quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên tranh chấp, qua đó, khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực FDI.
- Thứ hai, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI làm lành mạnh hoá môi trường
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, thúc đẩy chính sách mở cửa kinh tế và các chính sách
hiện hành của Nhà nước ta về đầu tư nước ngoài.
1.2.2. Các yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
- Thứ nhất, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI phải nhanh chóng, kịp thời, đúng
pháp luật, tiết kiệm chi phí, đảm bảo uy tín và bí mật kinh doanh cho các bên.
- Thứ hai, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bảo đảm sự công bằng, không
thiên vị giữa các chủ thể có quốc tịch khác trong các tranh chấp thương mại quốc tế.
- Thứ ba, hệ thống pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp phải
phù hợp với thông lệ quốc tế là đối xử tối huệ quốc trong đầu tư.
1.2.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI được thực hiện thông qua thương lượng,
hoà giải, toà án và trọng tài.
1.3. Trọng tài - Một phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI
1.3.1. Các đặc trưng pháp lý của hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
FDI
Thứ nhất, hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI có một bên đương sự là
tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Thứ hai, các đương sự có quyền thoả thuận luật áp dụng để giải quyết nội dung vụ
tranh chấp nếu không trái với quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác
của các nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ ba, các bên tranh chấp được khuyến khích giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài; Luật Thi hành án dân sự năm
2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các
văn bản hướng dẫn thi hành.
Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI BẰNG
TRỌNG TÀI
2.1. Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài theo các điều ước
quốc tế
2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI theo quy định của
Công ước Washington năm 1965 về giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư
quốc tế giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác (Công ước ICSID)
a) Tổng quan về ICSID
ICSID là một tổ chức quốc tế độc lập được thành lập theo Công ước ICSID. Công
ước ICSID được ban hành ngày 18/3/1965 và có hiệu lực thi hành ngày 14/10/1966.
Cơ cấu tổ chức của ICSID bao gồm: Hội đồng điều hành, Ban Thư ký, Uỷ ban hoà
giải viên và Uỷ ban Trọng tài viên.
ICSID cung cấp cơ sở pháp lý cho trọng tài các tranh chấp về đầu tư giữa các quốc
gia ký kết và các nhà đầu tư là công dân của các quốc gia ký kết khác, nhưng bản thân
ICSID không tham dự vào việc giải quyết vụ tranh chấp.
Việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài tại ICSID là hoàn toàn tự nguyện.
Tuy nhiên, khi các bên đã nhất trí giải quyết bằng trọng tài căn cứ vào Công ước ICSID
thì họ phải thực hiện cam kết của mình và tuân thủ phán quyết.
b) Thẩm quyền giải quyết của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
- Thứ nhất, tranh chấp được đưa ra giải quyết phải là tranh chấp pháp lý phát sinh
trực tiếp từ hoạt động đầu tư.
- Thứ hai, tranh chấp được đưa ra giải quyết phải là tranh chấp phát sinh giữa một
quốc gia ký kết (hoặc bất kỳ cơ quan, hoặc tổ chức hợp hiến nào mà quốc gia đó đã thông
báo cho ICSID) và công dân (pháp nhân hoặc thể nhân) của một quốc gia ký kết khác, trừ
b) Các Hiệp định tương trợ tư pháp
Các hiệp định tương trợ tư pháp điều chỉnh vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định
của trọng tài nước ngoài là Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam với
các nước: Lào, Trung Quốc, Mông Cổ…So với các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư, các hiệp định tương trợ tư pháp có hai điểm khác cơ bản như sau:
Một là, chúng điều chỉnh một cách trực tiếp không viện dẫn hoàn toàn vào nguồn luật
quốc nội của các quốc gia ký kết do đó sẽ cụ thể và chi tiết hơn.
Hai là, đối tượng điều chỉnh của chúng là các quyết định trọng tài nói chung chứ
không là quyết định trọng tài về các tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư.
c) Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước
ngoài
Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/06/1958, có hiệu lực
từ ngày 07/06/1959. Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày 28/07/1995. Công ước
điều chỉnh các vấn đề sau: xác định khái niệm quyết định trọng tài thuộc diện điều chỉnh
của Công ước, vấn đề liên quan đến thoả thuận trọng tài; vấn đề áp dụng pháp luật tố
tụng trong việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài; thủ tục yêu cầu
công nhận và thi hành; các điều kiện công nhận và thi hành quyết định; mối quan hệ giữa
Công ước với các điều ước quốc tế khác, với pháp luật quốc gia về công nhận và cho thi
hành quyết định trọng tài nước ngoài.
2.1.3. Giải quyết tranh chấp về đầu tư của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc: công bằng,
nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục
tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân
thủ các quy phạm của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT 1947
như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ giải quyết tích cực các tranh chấp, cấm
đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO.
Hiện nay, WTO giải quyết tranh chấp thông qua Cơ quan giải quyết tranh chấp của
WTO là DSB (Dispute Settlement Body), quy chế “nhóm chuyên gia" và Cơ quan phúc
thẩm thường trực. Ngoài cơ chế của DSB, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng
b) Vấn đề độc lập của điều khoản trọng tài: Toà án coi điều khoản trọng tài độc lập với
những vấn đề khác của hợp đồng thương mại.
2.2.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư bằng phương thức
trọng tài tại Tây Ban Nha
Những tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài:
Các tranh chấp đã được giải quyết bằng một bản án cuối cùng của Toà án, trừ các vấn
đề phát sinh từ việc thi hành quyết định đó, không thể được đưa ra trọng tài để giải quyết.
Những vấn đề không thể tách rời khỏi các vấn đề khác mà các vấn đề khác này không thể
do các bên tự quyết định, thì cũng không thể đưa ra trọng tài để giải quyết. Những vấn đề
mà theo quy định của pháp luật, Văn phòng Tổng chưởng lý phải can thiệp bằng cách
đứng ra đại diện hoặc bảo vệ cho những người do không có người đại diện hoặc không đủ
năng lực nên không thể tự bảo vệ quyền lợi của mình, thì cũng không thể được đưa ra
giải quyết tại trọng tài.
2.2.3. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư bằng trọng tài tại
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
a) Cơ quan trọng tài Trung Quốc và phạm vi trọng tài
Cơ quan trọng tài của Trung Quốc là Uỷ ban trọng tài. Uỷ ban trọng tài có thể mời
hoặc thuê trọng tài viên, Toà trọng tài với các thành viên là các trọng tài viên sẽ chịu
trách nhiệm phán quyết các vụ án. Theo quy định của Luật trọng tài Trung Quốc, phạm
vi trọng tài là các tranh chấp về hợp đồng giữa các công dân, pháp nhân và các tổ chức
khác hoặc các tranh chấp về quyền và lợi ích có liên quan đến tài sản. Tuy nhiên, các
tranh chấp sau đây không thuộc diện phán quyết của hoạt động trọng tài: (1) hôn nhân,
nhận con nuôi, giám hộ, chăm sóc phụng dưỡng, tranh chấp về thừa kế; (2) Những tranh
chấp hành chính thuộc phạm vi giải quyết của các Cơ quan hành theo quy định của pháp
luật.
b) Nguyên tắc cơ bản của hoạt động trọng tài Trung Quốc bao gồm: Nguyên tắc tự
nguyện; nguyên tắc trọng tài độc lập; nguyên tắc căn cứ vào sự thật và những quy định
có liên quan của pháp luật; nguyên tắc bình đẳng về địa vị nhưng đối lập về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa Trọng tài và đương sự và nguyên tắc biện luận và nguyên tắc Toà án giám
sát.
Chuẩn bị phiên họp
Phiên họp giải quyết
Hòa giải thành
Đình chỉ giải quyết
Trình tự giải quyết tại trọng tài được sơ đồ hoá như trên. Bên cạnh đó là những yếu tố
quan trọng như thoả thuận trọng tài. Luật Trọng tài thương mại có hiệu lực từ ngày
01/01/2011 quy định về thoả thuận trọng tài bằng văn bản.
2.3.3. Các biện pháp hỗ trợ của Toà án đối với hoạt động giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
Một trong những điểm quan trọng nhất của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 là
thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết
vụ tranh chấp của các bên. Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối
quan hệ pháp lý quan trọng này, trong đó xác định rõ Toà án có thẩm quyền đối với hoạt
động trọng tài và liệt kê 7 nội dung thẩm quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng tài
(khoản 2 Điều 7) bao gồm: thu thập chứng cứ; đăng ký phán quyết trọng tài; tuyên thoả
thuận trọng tài vô hiệu; xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; giải quyết yêu cầu
huỷ phán quyết trọng tài; bảo đảm sự có mặt của người làm chứng; áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời; chỉ định, thay đổi trọng tài viên. Các biện pháp hỗ trợ của Toà án đối
với hoạt động trọng tài được quy định tại nhiều điều khoản trong Luật Trọng tài thương
mại.
2.3.4. Thi hành các quyết định giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng
trọng tài
a) Về thi hành các quyết định của Trọng tài Việt Nam về giải quyết tranh chấp trong
lĩnh vực FDI
Theo quy định tại Điều 65 và Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nhà
nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Hết thời hạn thi hành
nhưng có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết tại trọng tài, có tranh chấp lại không.
Điều này gây ra sự không đồng bộ, phù hợp của pháp luật về trọng tài.
Thứ hai, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 sử dụng phương pháp liệt kê về
các hoạt động thương mại. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới với sự xuất hiện của các văn
bản như Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư năm 2005,…
việc liệt kê dẫn đến nhiều tranh cãi về thẩm quyền của trọng tài, dễ dẫn đến sự nhầm lẫn
trong việc xác định phạm vi thẩm quyền.
Thứ ba, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 chưa có được sự tương thích với
Luật Đầu tư năm 2005.
Qua thực tiễn cho thấy số lượng các tranh chấp về đầu tư được giải quyết còn rất ít.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Luật đã mở rộng
phạm vi áp dụng với mọi loại tranh chấp, không chỉ hạn chế ở các tranh chấp thương mại
và không hạn chế ở yếu tố chủ thể phải có đăng ký kinh doanh như Pháp lệnh Trọng tài
thương mại. Tuy nhiên, thời gian thực hiện còn ít để có thể đánh giá được thực trạng thi
hành Luật.
Bảng 3.1. Số lượng các vụ việc được giải quyết tại các Trung tâm Trọng tài Việt
Nam (2004-2009)
Trung tâm
Trọng tài
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Trung tâm
Trọng tài
thương mại
quốc tế Á Châu
9
3
Không
có số
liệu
Không
có số
liệu
Không
có số
liệu
Trung tâm
Trọng tài thương
mại Cần Thơ
0
0
0
0
0
0
Trung tâm
Trọng tài Quốc
tế châu Á Thái
0
0
0
0
0
0
Bình Dương
Mua
bán
Gia
công
Dịch
vụ
Xây
dựng
Đại
lý
Đầu
tư
Khác
1993
6
1994
13
13
2
1
2
1999
20
13
1
2
3
1
2000
23
19
1
3
2001
17
15
6
2005
27
24 3
2006
36
24
2
2 8
2007
30
17
4
1
4
2
2
2008
58
19
8
17
56
(Nguồn http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/thongke/2011) Hình 3.1 Loại hình tranh chấp được giải quyết tại VIAC (Nguồn http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/thongke/2011)
Từ thực tiễn hoạt động của các tổ chức trọng tài ở Việt Nam có thể rút ra đánh giá
chung là phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài không được
phổ biến tại Việt Nam. Nếu so sánh về số lượng các vụ tranh chấp kinh tế được giải quyết
bằng phương thức trọng tài tại VIAC với một số Trung tâm Trọng tài quốc tế trên thế giới
thì ở Việt Nam ít hơn rất nhiều. Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ năm 2007 giải quyết được
621 vụ, năm 2008: 703 vụ, năm 2009: 836 vụ. Còn Hội đồng Trọng tài Kinh tế và
Thương mại quốc tế Trung Quốc năm 2007 giải quyết được 1.118 vụ, năm 2008: 1.230
vụ và năm 2009: 1.482 vụ.
3.3.2. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 làm ảnh hưởng tới quyền chọn hình thức và địa
điểm giải quyết tranh chấp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Luật
Đầu tư bảo đảm. Điểm mới là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền
lựa chọn ngôn ngữ trọng tài theo quy định tại Điều 10 Luật Trọng tài thương mại:
- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng
trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh
hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, cụ thể là:
Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp, cá nhân không am hiểu những vấn đề liên quan đến tố
tụng thông qua con đường trọng tài thương mại.
Thứ hai, pháp luật chưa có quy định bảo đảm thi hành có hiệu lực, hiệu quả các phán
quyết trọng tài mà phải có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan Nhà nước. Chính vì vậy, nhiều
doanh nghiệp có tâm lý e ngại khi sử dụng trọng tài để phân xử tranh chấp.
Thứ ba, mạng lưới trọng tài của chúng ta còn ít. Trình độ của các trọng tài Việt Nam
thường không cao. Do vậy, nhiều tranh chấp về đầu tư nước ngoài thì khi soạn thảo hợp
đồng, bên nước ngoài luôn có xu hướng lựa chọn trung tâm trọng tài có uy tín của nước
ngoài để giải quyết tranh chấp cho mình.
Thứ tư, một số hạn chế của pháp luật về trọng tài thương mại như chưa quy định cụ
thể mức tạm ứng phí trọng tài nên không thống nhất về áp dụng quy định này của các tổ
chức trọng tài; hạn chế của quy định về tính chung thẩm của phán quyết trọng tài.
b) Hoạt động giải quyết tranh chấp FDI bằng trọng tài phải đáp ứng nhu cầu thực
tiễn hoạt động kinh doanh và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI hiện nay
cũng như dự báo trong thời gian tới khi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta ngày càng mở rộng.
c) Giải quyết tranh chấp FDI bằng trọng tài phải đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.2. Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài
a) Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng
phương thức trọng tài
Thứ nhất, cần khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài
thương mại năm 2010, cụ thể là:
- Nghiên cứu, ban hành Luật về hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ.
- Chính phủ cần có hướng dẫn cụ thể hơn về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời để tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng trọng tài trong quá trình áp dụng.
- Bộ Tư pháp cần ban hành theo thẩm quyền Thông tư hoặc phối hợp với các Bộ,
ngành ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định của Luật và Nghị
được những bất cập của pháp luật về lĩnh vực này trước đây, đồng thời có nhiều nội dung
tiệm cận với pháp luật và tập quán trọng tài quốc tế. Điều này đã đem lại một sự chuyển
biến về “chất” trong việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài, đặc biệt
với quy định các quyết định trọng tài có hiệu lực chung thẩm, được bảo đảm thi hành bằng
sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước là một bước đột phá, làm tăng cường tính hiệu quả của
trọng tài phi Chính phủ. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay,
pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài đã bộc lộ những bất
cập, còn thiếu và chưa đồng bộ. Từ đó dẫn đến việc các tranh chấp trong lĩnh vực FDI
được giải quyết bằng trọng tài còn ít.
Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài là một
yêu cầu tất yếu. Với nhận thức như vậy, tác giả luận văn đã đề xuất 06 nhóm giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng
tài. Nếu các giải pháp trên được triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, chắc chắn sẽ giúp
cho việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực FDI bằng trọng tài hiệu quả hơn, sôi động hơn,
góp phần tạo dựng một phương thức giải quyết tranh chấp tin cậy cho cá nhân, doanh
nghiệp./.
References
A. Tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2006), Luận văn thạc sỹ luật học: Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ
tục tư pháp - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội.
2. Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa kỳ thương
mại Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ thương mại 2001.
3. Hội Luật gia Việt Nam (2009), Tờ trình Quốc hội số 10/TTr-HLGVN ngày 01 tháng 9
năm 2009 về dự án Luật Trọng tài thương mại, Hà Nội.
4. Hunter M và Marriot M (1995), Việc quốc tế hoá trọng tài quốc tế - Hội thảo thế kỷ
của Trung tâm trọng tài quốc tế London, NXB Graham & Trotman/Martinus
Nijhoff, London, tr.43.
5. Nguyễn Thị Minh (2010), “Thực trạng về tổ chức và hoạt động trọng tài ở Việt Nam
và định hướng phát triển”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề Pháp
19. Josheph J. Simeone (1993), The recognition ans enforcement of foreign country
judgement, 37 STATE.L J 341.
20. Italian Code of Civil Procedure, article 800.
21. Mata v.American Life Ins.Co , 771 F.Supp. 1375 (D.Del.1991), aff’d 961F.2d 208
(3rd Cir. 1992).
22. Nicol v. Tanner, 310 Minn.68, 256 N.Ư.2d 796 (Minn.1976).
23. Spanish Arbitration Act, 2003.
24. U.S. District Court, E.D.Michigan (South. Div.), August 9, 1976, Audi-NSU Auto
Union A.G.v.Overseas Motors Inc. (U.S.no.11).
C. Website
25. Bách khoa toàn thư mở: http://vi.wikipedia.org.
26. Cổng thông tin điện tử của VCCI: www.vcci.vn.
27. Cổng thông tin điện tử của Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID):
http://icsid.worldbank.org/ICSID.
28. Đặng Hoàng Oanh (2009), “Giải quyết tranh chấp thương mại tại Nhật Bản: Nét
đặc thù của pháp lý Á Đông”, Mục Nghiên cứu trao đổi, Cổng Thông tin điện
tử của Bộ Tư pháp: www.moj.gov.vn.
29. Tào Nam Giang (2011), “Chế độ tư pháp Trung Quốc”, Mục Thông tin khoa học,
Cổng Thông tin điện tử của Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát:
http://tks.edu.vn.