1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1. Văn hoá Óc Eo là một nền văn hoá khảo cổ, được giới khoa học biết
đến từ những năm 80 của thế kỷ XIX. Tên gọi của nền văn hoá này do nhà khảo
cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào tháng 4 năm
1944 ở cánh đồng Óc Eo (Thoại Sơn - An Giang). Cho đến nay hàng loạt di tích
ở khắp các tỉnh TNB khác được khai quật. Các di tích khai quật đã làm lộ diện
về sự tồn tại của một nền văn hoá khảo cổ, đều có chung đặc điểm, tính chất văn
hoá với khu di tích Óc Eo (An Giang).
Văn hoá Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài,
trải qua nhiều thời kỳ khác nhau; nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất của
một “vương quốc” lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương mà
thư tịch cổ Trung Quốc gọi là “Phù Nam”. Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luôn
được coi như một điểm giao hội của văn hoá Đông - Tây, là “kho” hàng hoá
lớn trên con đường thương mại quốc tế, giữa hai châu lục Âu - Á. Cho đến nay
hàng trăm di tích Óc Eo phân bố trên diện rộng và con số lớn hơn gấp nhiều lần
các di tích phát hiện lẻ tẻ đã được phát hiện trước năm 1975. Thêm vào đó, số
lượng lớn các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm và lưu giữ trong các bảo tàng
trung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại
Tp.HCM, BTAG, BTKG, BTCT, BTĐT, BTLA
1.2. Các nguồn tư liệu quan trọng trên, giúp cho các nhà nghiên cứu tìm
hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau về nền văn hoá này. Đến nay, đã có khoảng hơn
400 bài viết, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điều
tra liên quan tới nền văn hoá này. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giả
trong và ngoài nước, nội dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tình
trạng của các di tích, các loại hình di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề về
nguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn hoá Óc Eo; các quan hệ giao lưu
văn hoá và thương mại với bên ngoài Một số khía cạnh về đời sống văn hoá
xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử và so
sánh với tài liệu khảo cổ học.
3
- Trên cơ sở nguồn tư liệu đó, luận án hướng tới việc phân tích xác định
các di tích di vật là minh chứng của đời sống văn hoá xã hội Óc Eo. Từ đó đưa
đến hiểu biết về những thành tựu cơ bản về kinh tế - văn hoá - xã hội của cư dân
Óc Eo trong khung cảnh chung của quá trình phát triển từ giai đoạn tiền sơ sử
lên hình thức tổ chức nhà nước ở vùng miền TNB; tìm hiểu sự biến đổi của cư
dân Óc Eo ở miền TNB trong quá trình giao lưu thương mại với các nền văn
minh khác. Từ đó tìm ra những nét đặc trưng của cư dân Óc Eo ở miền TNB.
- Bằng phương pháp tiếp cận văn hoá học, công trình làm rõ những khía
cạnh đời sống văn hoá xã hội của cư dân Óc Eo ở miền TNB góp phần nâng cao
nhận thức về đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở một giai đoạn lịch sử quan
trọng của vùng đất này.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu khảo cổ học, bao gồm các
di tích trọng điểm, các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng, các bài báo cáo khảo
cổ học, các công trình nghiên cứu di tích, di vật dưới góc độ khảo cổ học…
- Bên cạnh đó, các tư liệu thành văn khác, thư tịch cổ và các công trình
nghiên cứu có liên quan đến đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở miền TNB là
những tài liệu bổ trợ, soi rọi thêm cho tư liệu khảo cổ học.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Dấu vết của văn hoá Óc Eo được phát hiện trong phạm
vi rất rộng, bao trùm hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Trong luận án này, tác giả sẽ tập
trung nghiên cứu các khía cạnh đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở các tỉnh
miền TNB, bao gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh
Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà
Mau, Bạc Liêu, trong đó tập trung ở ba tỉnh có các di tích văn hoá Óc Eo tiêu
biểu nhất là: An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang.
- Về thời gian: Việc phân kỳ các giai đoạn của văn hoá Óc Eo còn chưa
được giải quyết triệt để. Tuy nhiên, với các tư liệu khảo cổ học, văn hoá học hiện
5
biến kiến thức văn hoá - lịch sử Óc Eo cho nhân dân miền TNB, nhân dân cả
nước và bạn bè quốc tế, góp phần cung cấp các kiến giải và luận cứ khoa học
cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ mở cửa, hội
nhập quốc tế hiện nay.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về miền Tây Nam Bộ và lịch sử nghiên cứu
văn hoá Óc Eo
Chương 2: Đặc điểm đời sống văn hoá vật chất của cư dân Óc Eo ở miền
Tây Nam Bộ
Chương 3: Đặc điểm đời sống văn hoá tinh thần
Chương 4: Giao lưu thương mại và sự tác động tới đời sống văn hoá xã
hội của cư dân Óc Eo
6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ
VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ ÓC EO
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Văn hoá Óc Eo là một nền văn hoá khảo cổ. Tiếp cận văn hoá Óc Eo dưới
góc độ văn hoá học, cần làm rõ một số khái niệm: Văn hoá, văn hoá khảo cổ, văn
hoá Óc Eo, đời sống văn hoá. Chúng tôi xin đề cập một cách khái lược về những
khái niệm này để làm công cụ lý luận cho nội dung luận án.
Văn hoá: Văn hoá là một thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét trên
nhiều khía cạnh khác nhau. Không nên coi văn hoá như một hoạt động riêng biệt
mà phải coi đó là một hoạt động nhằm phát huy những năng lực mang bản chất
con người, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Là hoạt động nhằm tạo ra những
giá trị, những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ hai, cái nôi nuôi dưỡng sự
hình thành nhân cách của con người. Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
văn hoá, nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự thống nhất và cũng chưa
văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với
biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [85, tr.431].
Vậy với khái niệm này, văn hoá là do con người sáng tạo ra, nhằm thích
ứng với nhu cầu của cuộc sống. Nó gắn liền với con người và môi trường; là sản
phẩm của con người và chỉ dành riêng cho con người, cộng đồng người, nó ra
cùng con người, cùng song song tồn tại và phát triển với con người. Văn hoá là
tổng hoà tất cả các khía cạnh đời sống của con người. Ngay cả những khía cạnh
nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hoá. Con người vừa
là khách thể, vừa là chủ thể của sự phát triển, hay vừa là mục tiêu, vừa là phương
tiện, điều đó chứng tỏ, con người và môi trường văn hoá có mối quan hệ mật
thiết với nhau.
8
Theo Phan Ngọc, khái niệm văn hoá dùng để chỉ trình độ phát triển về vật
chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ lạc cụ thể; đôi khi theo nghĩa hẹp,
văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người [88, tr.14-17].
Như vậy có thể thấy, văn hoá là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn
liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người, là một lĩnh vực cực kỳ phức
tạp, phong phú do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau. Về mặt từ nguyên, nghĩa
của “văn” là “xăm thân”, và nghĩa gốc của “văn hoá” là “xăm mình” mà qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết mình. Theo Bộ Từ Hải (bản năm 1989) thì
văn hoá vốn là một cách biểu thị chung của khái niệm văn trị và giáo hoá. Theo
ngôn ngữ phương Tây (Culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, Kultur trong tiếng
Đức,…) có nguồn gốc từ các dạng của động từ Latinh Colere là Colo, Colui,
cultus với nghĩa: giữ gìn, chăm sóc, trồng trọt và cầu cúng [50, tr.319].
Từ góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã
cố gắng làm sáng tỏ những yếu tố căn cốt nhất của văn hoá. Còn theo quan điểm
của chúng tôi, với việc nghiên cứu một nền văn hoá khảo cổ, thì Văn hoá là hệ
nghĩa của từ Óc Eo, song đến nay vẫn chưa có một cách giải thích nào được chấp
nhận. Theo nhà dân tộc học Pierre Bitard cho rằng: từ “Óc Eo” đồng âm với chữ
"Ur Kev" (gần với âm “Ô kéo”) của người Khmer. Nhưng George Coedes lại
không đồng tình với quan điểm đó. Ông cho rằng: từ "Ô Kéo" không phải là từ
cổ, từ "Kéo" là một từ thuộc nhóm ngôn ngữ Thái, không hề có ở Campuchia
thời Angkor (thế kỷ VIII - XII), theo ông từ “Óc Eo” có nghĩa là “rạch ngọc”
[22, tr.213-214]. Ý nghĩa của từ “Óc Eo” sẽ được các nhà khoa học nghiên cứu,
tranh luận tiếp. Hiện nay chúng ta biết đến Óc Eo là tên gọi một vùng đất đã tồn
tại trong lịch sử cư dân trong vùng ĐBSCL. Tại đây, vào năm 1944 Louis
Malleret đã khai quật và phát hiện một nền văn hoá cổ nằm sâu dưới lòng đất.
Nền văn minh này đã hình thành và phát triển trên vùng châu thổ sông Cửu Long
từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN. Ông đặt tên cho nền văn hoá cổ này là “văn hoá
Óc Eo”.
10
Khái niệm “văn hoá Óc Eo” được hiểu là một nền văn hoá khảo cổ có
những đặc điểm chung về di tích, di vật được khảo cổ học phát hiện ở trên khắp
vùng Nam Bộ, trong đó di tích quan trọng nhất là di tích Óc Eo. Nhiều công
trình nghiên cứu khoa học dựa vào các kết quả khai quật khảo cổ đã chứng minh
văn hoá Óc Eo là sản phẩm vật chất của Vương quốc Phù Nam.
Theo các nhà nghiên cứu, Phù Nam là tên gọi theo cách phát âm
“founan” của người Trung Hoa. Còn phiên âm của tiếng Khmer cổ là “bnam”,
ngày nay gọi là “phnom” có nghĩa là “núi”. Vua Phù Nam có nghĩa như “vua
núi” theo tiếng Phạn là “parvatabhûpala”, tiếng Khmer là “kurung bnam”[135,
tr.84]. Vương quốc Phù Nam được coi là thể chế nhà nước đầu tiên ở khu vực
Đông Nam Á. Nó hình thành từ thế kỷ I SCN, suy vong từ khoảng thế kỷ VI và
mất hẳn từ thế kỷ VII.
Phù Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa một bộ lạc Môn cổ
sống bằng nghề săn bắn và thu hoạch lâm sản và một bộ lạc Nam Đảo làm nông
nghiệp, đánh cá và buôn bán trên biển. Phù Nam là đế chế bao gồm nhiều tiểu
vương quốc và lãnh địa. Trong mỗi tiểu vương quốc thường có một vị tiểu
thiết yếu, đó là nhu cầu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng
chỉ có ý nghĩa tương đối vì thực chất, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần
thường thống nhất với nhau trong hoạt động sống của con người. Nói đến đời
sống văn hoá vật chất hay đời sống văn hoá tinh thần chẳng qua là nhấn mạnh
một trong hai thành tố quan trọng cấu thành nên đời sống văn hoá. Trên thực tế,
mặc dù không thể tách bạch hai yếu tố vật chất và tinh thần, bởi chúng luôn
xuyên thấm và tác động lẫn nhau, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đều thừa
nhận rằng: “Thiếu điều kiện vật chất thì không có sự tồn tại của con người,
nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không thể phát triển được” [110, tr.19-
20].
12
Tóm lại, đời sống văn hoá là toàn bộ hoạt động văn hoá của con người, đáp
ứng nhu cầu văn hoá vật chất và tinh thần nhằm duy trì cuộc sống của con người.
Đời sống văn hoá và đời sống xã hội có sự giao thoa với nhau, song điểm khác biệt
là đời sống văn hoá gạn lọc dần những yếu tố phản tiến bộ của đời sống xã hội,
nhằm đảm bảo các giá trị văn hoá được biểu hiện ở mức độ cao nhất. Điều này dẫn
đến các sản phẩm văn hoá cũng khác với các sản phẩm vật chất thông thường
khác ở chỗ nó mang giá trị và ý nghĩa tinh thần, độc đáo, không lặp lại, có khả
năng nâng cao nhận thức và tình cảm của con người, góp phần bồi dưỡng tâm
hồn và trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh cho con người. Sản phẩm văn hoá bao gồm
hai loại: sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể.
Sản phẩm văn hoá vật thể là loại sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình dưới
dạng vật thể như các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, tác phẩm văn học, di
tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, cổ vật, bảo vật, các di tích khảo cổ học…
Sản phẩm văn hoá phi vật thể là loại sản phẩm văn hoá không hiện hữu
một cách cố định, tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xã
hội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội. Đó là các huyền thoại,
truyền thuyết, lễ hội, tín ngưỡng dân gian, anh hùng dân tộc, nhân thần có công
dựng nước và giữ nước, loại hình nghệ thuật trình diễn như vũ điệu, âm nhạc, hò
vè, sân chơi cổ truyền, đờn ca tài tử…; các giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc
C. Một
năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4.
Vùng TNB có hai con sông lớn chảy qua: sông Tiền (ở phía Bắc) và sông
Hậu (ở phía Nam) là hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Trạng
(Trung Quốc). Ngoài ra, còn có một số sông như: sông Vàm Cỏ Đông, sông
Vàm Cỏ Tây; sông Sở Thượng, sông Sở Hạ; sông Giang Thành; sông Châu Đốc;
sông Cái Lớn, sông Cái Bé và một hệ thống kênh đào chằng chịt thuận tiện cho
việc đi lại và sản xuất nông nghiệp.
Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Mê Kông, từ biên giới
Campuchia đến cửa sông dài khoảng 200km, chạy qua các tỉnh An Giang (Tân
Châu), Đồng Tháp (Hồng Ngự, Tx. Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tp. Cao
Lãnh, Cao Lãnh, Châu Thành và Tp.Sa Đéc), Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre đến
Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn con sông đổ ra biển bằng 6 cửa: sông Mỹ
Tho (Cửa Đại, Cửa Tiểu); sông Cổ Chiên (cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu); sông
Hàm Luông (cửa Hàm Luông); sông Ba Lai (cửa Ba Lai).
Sông Hậu chảy qua An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên) đến Cần Thơ
chia thành nhiều nhánh làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần
Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng
rồi hội nhập lại, cuối cùng đổ ra biển Đông bằng cửa Ba Thắc(bị bồi lấp vào
khoảng những năm 70 của thế kỷ XIX), cửa Định An và cửa Tranh Đề.
14
TNB là sản phẩm bồi lắng phù sa của sông Mê Kông và bồi dần qua
những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển. Qua từng giai đoạn kéo theo sự hình
thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và
biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc
theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp
như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu
và bán đảo Cà Mau [152]. Địa hình khá bằng phẳng với đa phần diện tích có cao
độ nằm khoảng 0,5-1,5m, thấp dần theo hướng Bắc - Nam và Tây - Đông.
hoá đồng bằng thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: biển nông, biển nông
ven bờ, đầm lầy ven biển… Tại các vùng biển nông ven bờ động vật thân mềm,
da gai, san hô phát triển rất phong phú Đặc biệt, thời kỳ này hình thành và phát
triển phong phú thực vật nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự hình thành các vùng
chứa than bùn rộng lớn ở thời kỳ tiếp theo [30, tr.16; 24, tr.18]…
Sau khi biển tiến đạt đến cực đại (+4 đến +5m), thì bắt đầu rút liên tục
khỏi đồng bằng (khoảng 1.600 năm) và dừng ở mực cao +2m (trong vòng 700
năm). Quá trình mực nước biển rút và sự bồi lắng của phù sa mới từ hệ thống
sông Mê Kông, miền TNB bắt đầu xuất lộ, hình thành nên các thềm phù sa ở độ
cao +3, +2m lấn ra phía biển [24, tr.18]. Quá trình này được thể hiện khá rõ trên
các giồng cát từ Cai Lậy trở xuống phía nam (có tuổi C
14
khoảng 4.000 - 4.500
năm). Các giồng cát này có hướng song song với đường bờ hiện tại. Khi mực
nước biển rút đã để lại các vùng đầm lầy rộng lớn thuận lợi cho sự phát triển của
thực vật tạo than [30, tr.16-17].
Sau đó, nước biển tiếp tục hạ thấp với tốc độ nhanh hơn (khoảng 250
năm), đây được xem là đợt biển thoái đầu tiên. Từ năm 1650 - 1400 TCN (3650
- 3400 năm cách nay), mực nước biển từ độ cao khoảng +2m đã hạ thấp dưới
mực nước biển hiện nay. Khi mực nước biển hạ thấp đến độ cao 1,5 - 1m thì cửa
biển Châu Đốc, sông Mê Kông tách chia hai nhánh, đồng thời chuyển dòng chảy
theo Tây Bắc - Đông Nam. Hai dòng chảy này về sau trở thành hai con sông chính
ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển chung diện mạo của toàn vùng
16
TNB… Tuy nhiên, phải tiếp tục trải qua quá trình trên dưới ngàn năm, sau đợt
biển tiến thứ hai, biển thoái thứ hai, vào khoảng TCN, bề mặt vùng TNB mới thực
sự hiện rõ nét [24, tr.19].
Đợt biển thoái thứ ba kéo dài khoảng 500 năm đầu Công nguyên (từ năm
50 TCN đến năm 500 SCN) có thể được xem là thời điểm mở đầu một thời kỳ
mới trong quá trình hình thành vùng TNB ngày nay. Thời điểm đó, mực nước
rộng hơn 3.000 dặm. Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng. Khí hậu và phong tục
giống như Lâm Ấp [104, tr.273]. Sách Tam Tạng kinh - Cao Tăng truyện còn có
đoạn bổ sung “Phù Nam là cửa biển có ngàn con sông” [24, tr.23].
Dựa vào những mô tả khái quát về nước Phù Nam qua các ghi chép của
thư tịch cổ Trung Quốc, đa số các nhà khoa học đều có chung nhận định về vị trí
của nước Phù Nam nằm ở phía Nam Đông Dương, phía Nam quận Nhật Nam
(một phần đất phía Nam Việt Nam xưa) và Lâm Ấp (Nam Trung Bộ Việt Nam
ngày nay). Trong đó vịnh lớn phía Tây biển lớn là vịnh Thái Lan; con sông lớn,
rộng 10 dặm chảy theo hướng Tây đổ ra biển (hoặc chảy theo hướng Tây Bắc
sang phía Đông rồi đổ ra biển) tương ứng với phần hạ lưu sông Mê Kông, với
đất đai thấp, trũng và bằng phẳng. Có thể suy đoán đây là vùng TNB ngày nay.
Từ đó có thể cho rằng, vào khoảng thế kỷ V - VI vùng TNB đã hình thành, với
đồng bằng rộng lớn (có phần trũng thấp). Bên cạnh đó, theo thư tịch cổ, kinh
thành cách biển 500 dặm (trên 200 km), chứng tỏ là vùng đất được con người
khai phá với quy mô khá rộng lớn.
Đến thời kỳ tiếp theo, vùng đất này được xem là vùng đất của Thuỷ Chân
Lạp, theo Tuỳ thư mô tả nước này có bờ biển bao quanh và có nhiều hồ lớn. Tân
Đường thư khi viết về Thuỷ Chân Lạp thì viết là vùng đầm lầy rộng lớn. Theo
mô tả như trên vào khoảng thế kỷ VII - IX vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn từ
bằng phẳng, mênh mông, nhiều sông ngòi đã bị biến thành nhiều hồ lớn, vùng
18
đầm lầy rộng [24, tr.23-24]. Sự biến động này có thể liên quan trực tiếp đến đợt
biển tiến thứ tư dâng cao đến +1m diễn ra cùng thời.
Một số thư tịch cổ ghi lại cảnh quan vùng TNB từ thế kỷ XII trở về sau
đều có những mô tả khá giống nhau như: ký sự của Châu Đạt Quan trong“Chân
Lạp phong thổ ký” có đoạn viết: Từ Chân Bồ (Bà Rịa hay Vũng Tàu) theo
hướng Khôn-Thân (Tây Nam - 1/6 Nam), đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa
sông. Sông này có hàng chục ngả, nhưng chỉ có thể vào được cửa thứ tư (Cửa
Tiền Giang vào Mỹ Tho ngày nay), các ngả khác có nhiều bãi cát thuyền lớn
không đi được. Nhìn lên bờ thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau
cổ Trung Quốc liên quan đến vương quốc Phù Nam. Đây là nguồn tư liệu chữ
viết quý giá, các thông tin vô cùng phong phú, cho ta thấy được toàn cảnh đời
sống xã hội của cư dân Phù Nam lúc bấy giờ. Hầu hết các nhà nghiên cứu sau
này đều sử dụng nguồn tư liệu này để nghiên cứu, xem nó như là một công cụ
hữu hiệu để tìm hiểu về vương quốc cổ đại này. Tuy nhiên, những thông tin từ
các thư tịch khá phức tạp, vì có phần ghi trực tiếp qua các sứ giả, qua quan hệ
bang giao, có phần ghi qua những truyền thuyết trong khu vực, những lời kể
gián tiếp, hoặc người sau chép lại người trước [63, tr.178]…, không phải là
những chứng cứ xác thực để xác minh nền văn minh cổ đại này.
Đến nửa sau thế kỷ XVIII đầu thế XIX, nhiều nhà nghiên cứu người Pháp
và các học giả phương Tây đã phát hiện một số bia ký và thu thập hàng loạt di
vật khảo cổ học có niên đại khoảng thế kỷ I đến thế kỷ X SCN ở nhiều tỉnh Nam
Bộ: năm 1879, A.Corre đã lượm được một số cổ vật và thấy hai tấm bia đá khắc
chữ Phạn; đến năm 1912, O.Connel đã phát hiện một pho tượng thần Vishnu
khổng lồ; trong các năm 1922, 1928, 1936 Suzanne, Karpeles, Jean Bouchot,
F.Fraisse, H.Parmenlier đã lần lượt tìm thấy nhiều di tích, di vật mà phần lớn là
tượng thần, linh vật thờ bằng đá, tấm đá có chạm trổ. Những di vật này chủ yếu
nằm ở khu vực Ba Thê. Điều này đã phần nào chứng minh cho giả định ở vùng
20
ĐBSCL đã từng có một vương quốc tồn tại mà thư tịch cổ Trung Quốc nhắc đến
là “vương quốc Phù Nam”.
Cũng trong khoảng thời gian này, ở vùng đồng bằng miền Tây như Cạnh
Đền, Tân Long, Prasat pream Loven (Gò Tháp), di tích những đường nước cổ từ
Angkor Borei đến Ba Thê cũng đã được phát hiện. Chính từ những phát hiện này
đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, trong
đó, có nhà khảo cổ học người Pháp L. Malleret - là người có những đóng góp
quan trọng trong việc phát hiện và có những nghiên cứu tiên phong cho nền văn
hoá này.
Những năm sau đó (1938 - 1945), L.Malleret và các cộng sự đã tổ chức
nhiều cuộc thăm dò, khảo sát, khai quật và phát hiện nhiều di tích mới ở vùng
nghiên cứu tiếp theo, chưa đi sâu vào phân tích từng khía cạnh và minh định một
cách có hệ thống về nền văn hoá cổ Óc Eo ở miền TNB.
Sau năm 1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước hoà
bình thống nhất, việc nghiên cứu các nền văn hoá cổ trong cả nước được nhiều
cơ quan khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà khoa học, các cuộc hội
thảo đặc biệt quan tâm. Không ít nghiên cứu sinh chọn những vấn đề có liên
quan đến nền văn hoá Óc Eo làm đề tài nghiên cứu của luận án. Có nhiều NXB,
tạp chí khoa học đã đăng tải những công trình nghiên cứu của các tác giả viết về
văn hoá Óc Eo như Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm, Võ Sĩ Khải, Lê Thị Liên,
Nguyễn Thị Hậu, Bùi Phát Diệm, Đặng Văn Thắng…; một số cơ quan quản lý
nhà nước, viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã triển khai nghiên cứu các đề
tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ như Viện Khảo cổ học, Viện KHXH tại
Tp.HCM… Đến nay, có thể cho rằng, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu
liên quan đến từng mặt của văn hoá Óc Eo, trong đó, chủ yếu là của các nhà
khảo cổ học nghiên cứu về các di tích, di vật đang nằm sâu dưới lòng đất. Bức
22
tranh về vương quốc Phù Nam và nền văn minh Óc Eo ngày càng hiện ra một
cách rõ ràng hơn.
- Nghiên cứu về đời sống văn hoá vật chất của văn hoá Óc Eo
Về lương thực, thực phẩm, đã có nhiều công trình đề cập đến. Đa số các
công trình đều cho rằng thời kỳ Óc Eo đã có nền nông nghiệp trồng lúa nước
phát triển, cho nên lương thực chính vẫn là lúa gạo, sau đó là các loại thuỷ hải
sản, động vật Điều này đã được nhiều tác giả chứng minh qua việc phát hiện
dấu tích lúa gạo và các loại xương động vật trong các di tích cư trú. Trong một
bài viết, Võ Sĩ Khải cho rằng, Óc Eo“là một xã hội nông nghiệp trồng lúa nước,
lương thực chính hiển nhiên là cơm. Thức ăn gồm cả các loại thịt rừng, hải sản
và thú nuôi (tôm, cá, sò, ốc, trâu, bò, hươu, nai, lợn rừng, lợn nhà, chó và cả
voi), các loại rau củ (dừa, trám, củ năng )” [55, tr.399]. Trong một nghiên cứu
khác, tác giả cùng với Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn cũng đã khẳng định việc
“phát hiện dấu vết của nhiều cánh hoa, cọng hoa và lá cây tương đối còn
các tác giả đi trước về trang phục của các vị thần, phật để phân tích các loại trang
phục của cư dân Óc Eo, thông qua đó làm rõ thái độ ứng xử của con người với
môi trường tự nhiên vùng TNB những thế kỷ đầu Công nguyên.
Về cư trú, các tác giả Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [23] đã
lần lượt liệt kê các di chỉ cư trú, kiến trúc tôn giáo, mộ táng trong văn hoá Óc Eo.
Theo các tác giả, cư dân Óc Eo chủ yếu sống trên nhà sàn, có một số dấu vết của
kiến trúc gạch ngói, nhưng đó có thể là kiến trúc của các đền thờ. Tác giả Lê Thị
Liên cũng cho rằng “kiến trúc nhà sàn là một trong những hình thức cư trú của
cư dân Óc Eo” còn cấu trúc kiên cố chủ yếu ở “trên gò hoặc vùng cao, dấu vết
kiến trúc chỉ được nhận thấy qua các mảnh gạch vỡ trong tầng văn hoá hoặc
trên bề mặt” [69, tr.437-442]. Còn theo Võ Sĩ Khải cư dân Óc Eo sống chủ yếu
trên nhà sàn hoặc thuyền bè, chỉ có những ngôi đền, chùa mới được xây dựng
kiên cố [129, tr.400]. Cũng trên quan điểm cư dân Óc Eo cư trú trên nhà sàn,
24
Huỳnh Công Bá cho rằng “cư trú trên nhà sàn là một truyền thống lâu đời” và
họ còn biết “đắp đất thành các gò rộng hàng hécta làm nền móng cho kiến trúc
đền thờ hay khu mộ táng” [1, tr.288].
Những công trình này đã đề cập đến một số hình thức cư trú của cư dân
Óc Eo như: cư trú trên nhà sàn, thuyền bè và nền gạch. Tuy nhiên, nó chỉ dừng
lại ở việc nêu lên một cách sơ lược về các hình thức cư trú, chứ chưa đi sâu phân
tích, lý giải tại sao cư dân Óc Eo lại chọn những hình thức cư trú này. Trên cơ sở
các công trình đi trước, tác giả luận án sẽ kế thừa, làm rõ hơn về mô hình cư trú,
các hình thức cư trú và thái độ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên
mà họ đang sinh sống thông qua việc lựa chọn các hình thức cư trú phù hợp với
môi trường sống.
Về giao thông, Các tác giả Võ Sĩ Khải [55], Đào Linh Côn [13] đều cho
rằng, cư dân Óc Eo đi lại bằng cả đường thuỷ (đường biển, đường sông và các
kênh đào) lẫn đường bộ (sử dụng các loài voi, ngựa và có thể cả trâu bò). Các tác
giả khẳng định rằng, giao thông đường sông và đường biển trong thời đại Óc Eo
khá phát triển và đóng vai trò thiết yếu trong việc giao lưu văn hoá, kinh tế giữa
khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII SCN. “Nghề trồng lúa có nhiều phần chắc
chắn là một nội dung chính của hoạt động nông nghiệp, chi phối toàn bộ hoạt
động này trong một môi trường phổ biến là sình lầy, ẩm thấp” [34, tr.239].
Cùng chung quan điểm này, tác giả Đào Linh Côn [13] cho rằng, xã hội
Óc Eo đã có nghề trồng lúa phát triển ở cả vùng cao lẫn vùng thấp. Trong đó, tác
giả đã phân tích bốn khía cạnh của nghề nông: nghề trồng lúa của cư dân Óc Eo
đã phát triển đến một trình độ nhất định, họ biết sản xuất nhiều giống lúa khác
nhau (lúa cạn, lúa nước và lúa nổi); có hệ thống kênh đào chằng chịt trên khắp
vùng, vừa đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt, giao thông và đáp ứng nhu cầu tưới
tiêu cho nghề nông; nghề làm vườn trồng các loại cây ăn củ, cây ăn quả, trồng