MỞ ĐẦU
Trong các quyền con người được hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của công
dân có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, công dân được phép xử sự theo một cách
nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa
mãn lợi ích của mình. Quyền năng này được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà
nước. Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều
biện pháp, cách thức bảo vệ khác trong việc bảo vệ quyền dân sự, một trong số các
biện pháp đó là quyền yêu cầu phản tố của bị đơn. Quy định về yêu cầu phản tố
của bị đơn tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền tố tụng của bị đơn, đảm bảo quyền tự
định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh, toàn diện các yêu
cầu của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự. Vấn đề này sẽ
được làm rõ trong đề tài: “ Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị
đơn trong tố tụng dân sự”.
Để làm rõ vấn đề, em khai thác vấn đề theo hướng khái quát về quyền phản
tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong TTDS, đưa các ví dụ minh họa
để làm rõ vấn đề, từ đó nêu những điểm mới và những bất cập về yêu cầu phản tố
trong BLTTDS hiện hành. Trong bài có sử dụng các phương pháp giải thích, phân
tích, đưa ví dụ chứng minh, nêu các điều luật để bài làm thêm phong phú, hiệu quả.
Do thời gian cũng như hiểu biết còn hạn chế nên bài làm không thể tránh khỏi
những sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để bài làm thêm
hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG
I. QUYỀN PHẢN TỐ VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN PHẢN TỐ CỦA
BỊ ĐƠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1. Xác định yêu cầu phản tố từ quy định tại điều 200 BLTTDS năm 2015
1
Điều 200 BLTTDS năm 2015 quy định: “1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa
án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền
không trùng với yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết. Trường hợp bị
đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn thì đây là ý kiến của bị đơn đối
với yêu cầu của nguyên đơn chứ không phải yêu cầu phản tố.
Ví dụ: Nguyên đơn C có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án công nhận quyền sở
hữu đối với một chiếc xe máy và buộc bị đơn D phải trả cho mình chiếc xe máy đó.
Bị đơn D có yêu cầu tòa án không công nhận xe máy này thuộc sở hữu của C hoặc
công nhận xe máy này là thuộc sở hữu chung của C và D. Trường hợp này yêu cầu
của D không được coi là yêu cầu phản tố đối với C.
Cùng với việc nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
cho toàn án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và đây được coi là yêu cầu
khởi kiện của bị đơn đối với nguyên đơn. Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp
nhận trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, yêu cầu phản tố được chấp nhận để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu
của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ với nguyên đơn và nguyên đơn
cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn. Do đó, bị đơn có yêu cầu tòa án giải quyết để bù
trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ để công
nhận quyền phản tố của bị đơn là quyền khởi kiện và quyền phản tố đều mang tính
chất tài sản và phải tuân thủ quy định tại điều 379 BLDS 2015 về những trường
hợp không được bù trừ nghĩa vụ dân sự.
Ví dụ: Nguyên đơn A có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn B phải trả lại tiền thuê
nhà còn nợ năm 2015 là 10 triệu đồng. Bị đơn B có quyền yêu cầu đòi nguyên đơn
A phải thanh toán cho mình tiền sửa chữa nhà bị hư hỏng và bị đơn đã ứng trước
để tra thay cho nguyên đơn là 5 triệu. Trong trưởng hợp này, yêu cầu của bị đơn B
được coi là yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A. và đây là yêu cầu phản tố để bù
trừ nghĩa vụ.
Thứ hai, yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận dẫn đến việc loại trừ
chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có
yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì việc
3
2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố
tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền". Như vậy,cần căn cứ
vào văn bản ủy quyền để xác định quyền được thực hiện yêu cầu phản tố của chủ
thể là người đại diện theo ủy quyền.
3. Thời điểm thực hiện quyền phản tố
Theo khoản 3 điều 200 BLTTDS năm 2015: “ Bị đơn có quyền đưa ra yêu
cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải.” Về thời hạn bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố
trong BLTTDS năm 2015 đã có sự thay đổi. Do BLTTDS năm 2015 có bổ sung
một thủ tục tố tụng hoàn toàn mới là phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải nên bị đơn sẽ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước
thời điểm Tòa án ở phiên họp nêu trên. Như vậy thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố
của bị đơn đã rút ngắn so với quy định tại khoản 2 Điều 177 BLTTDS năm 2015.
Quy định mới này giúp cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn của
tòa án được chủ động và hợp lý hơn. Bởi lẽ nếu đưa ra quy định bị đơn có quyền
đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử như
trước đây dẫn đến trường hợp tòa án đã tiến hành hòa giải xong đối với vụ án thì bị
đơn mới có yêu cầu phản tố . Lúc đó toàn án lại phải tiến hành các thủ tục xác
minh, thu thập chứng cứ sau dó mới tiến hành hòa giải riêng đối với yêu cầu phản
tố của bị đơn và như vậy việc giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài , gây tốn kém về thời
gian, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng.
4. Thủ tục yêu cầu phản tố
Điều 202 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu
cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của
nguyên đơn.” Theo tinh thần của điều luật, thủ tục yêu cầu phản tố sẽ được thực
hiện như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn quy định tại các Điều 189, 190,
191,192, 194 cả BLTTDS năm 2015.
Khi tiến hành khởi kiện tại tòa án cá nhân, cơ quan, tổ chức phải làm đơn
Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố thì ngày thụ lí được xác định
như sau: 1)Là ngày tòa án nhận được đơn về yêu cầu phản tố cuối cùng họ đều
6
thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí; 2) là
ngày người nộp cuối cùng cho tòa án biên lai nộp tiền tạm án phí.
5. Vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phản tố
Điều 244 BLTTDS năm 2015: “1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi,
bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không
vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban
đầu.
2. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc
rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử
đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”
Theo quy định, trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng việc
bổ sung, yêu cầu vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện,yêu cầu phản tố ban đầu thì
hội đồng xét xử sẽ không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó. Được coi là
vượt quá phạm vi yêu cầu phản tố khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Thay đổi, bổ sung số lượng tài sản vượt quá mức yêu cầu ban đầu;
+ Thay đổi hoặc bổ sung quan hệ pháp luật tranh chấp;
+ Thay đổi, bổ sung đối tượng bị khởi kiện;
+ Thay đổi, bổ sung đối tượng tranh chấp.
Nói chung ở giai đoạn sơ thẩm đương sự có thể tự mình thực hiện quyền rút
một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện và bất cứ thời điểm nào kể cả ngay tại
phiên tòa sơ thẩm nhưn phải trước khi hội đồng xét xử nghị án.
6. Vấn đề thay đổi địa vị tố tụng
Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn
giữ yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở
thành bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 245. Việc thay đổi tư cách tố tụng của
2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định, Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố
trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm”. Tại khoản 3 BLTTDS
năm 2015 lại quy định khác, Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải. Do BLTTDS năm 2015 có bổ sung một thủ tục tố tụng hoàn toàn mới là phiên
họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên bị đơn sẽ có
quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm Tòa án ở phiên họp nêu trên.
8
2. Bất cập còn tồn tại
Mặc dù đã có sự bổ sung và sửa đổi nhưng BLTTDS năm 2015 vẫn chưa có
quy định cụ thể về nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập bị phản tố có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn; nguyên đơn, bị đơn bị
yêu cầu độc lập có quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn.
Việc không quy định rõ quyền, nghĩa vụ của đương sự liên quan đến yêu cầu
phản tố, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự liên quan đến việc thực hiện
yêu cầu phản tố. Đồng thời, sẽ khó ràng buộc nghĩa vụ của họ trong các hoạt động
tố tụng.
Theo khoản 2 Điều 200 BLTTDS thì yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án
chấp nhận khi thuộc 01 trong 03 trường hợp gồm: (1) để bù trừ nghĩa vụ với yêu
cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; (2)
loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc (3) giữa yêu cầu phản tố và
yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho
việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn. Tuy nhiên, do BLTTDS không
quy định rõ nên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau về yêu cầu phản tố của bị
sinh bất cập, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Với các đề xuất trong bài viết,
tác giả hy vọng góp phần vào việc hoàn thiện quy định BLTTDS về yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án dân sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
BLTTDS năm 2015.
10
2.
3.
4.
BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Bình luận khoa học Luật Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Tư pháp.
Giao trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, nhà xuất bản công an
5.
nhân dân.
Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và
6.
thực tiễn áp dụng, nhà xuất bản tư pháp.
Bài đăng “Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định của
BLTTDS năm 2015” trên website: www.luattoanquoc.com số ra