BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
A. MỞ ĐẦU
Để giữ vững trật tự, an toàn xã hội, Nhà nước phải bảo hộ tất cả các quyền, lợi ích chính đáng của các
chủ thể. Quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khá đa dạng, thể hiện ở trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong đó, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong lĩnh vực dân sự nói chung và tố tụng dân sự nói riêng
là một trong những quyền, lợi ích cơ bản của chủ thể. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự trong
trường hợp bị xâm phạm, pháp luật quy định chủ thể có quyền được thực hiện các phương thức khác nhau để
bảo vệ như mình yêu cầu người có hành vi trái pháp luật chấm dứt hành vi đó, yêu cầu Trọng tài, Tòa án
hoặc cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền bảo vệ. Để làm rõ hơn vấn đề trên, bài viết sau sẽ tập trung làm
sáng tỏ:“Nội dung bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự và
việc bảo đảm thực hiện hiện nay”.
B. NỘI DUNG.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ.
1. Khái niệm đương sự.
Trong mỗi vụ việc dân sự thường có nhiều chủ thể tham gia tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì được gọi là đương sự. Đương sự trong vụ việc dân sự có thể là cá
nhân, cơ quan hoặc tổ chức (có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân), tham gia tố tụng với tư
cách là nguyên đơn, bị đơn, người có có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự (khoản 1 Điều 56
BLTTDS). Tuy nhiên, trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, tại Điều 1 BLTTDS quy định vụ việc dân sự
bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Theo Điều 311 BLTTDS thì Tòa án có thể áp dụng các quy định khác
của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự nếu không trái với quy định tại Chương XX. Theo đó có thể thấy
các chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong các việc dân sự như người yêu
cầu, người bị yêu cầu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự cũng phải được coi là
đương sự.
2. Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự.
2.1. Khái niệm.
Các đương sự trong mỗi vụ việc dân sự đều là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự,
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó có thể hiểu quyền của chủ thể trong việc
chống lại các hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp theo thủ tục tố tụng dân sự được
gọi là quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, mỗi đương sự tham gia vào vụ việc dân
sự với những động cơ, mục đích và yêu cầu riêng nên pháp luật tố tụng dân sự quy định địa vị pháp lý của
1. Bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự.
Theo pháp luật tố tụng dân sự, tại Điều 5, 58, 59, 60, 61 BLTTDS 2004 quy định cụ thể quyền và nghĩa
vụ của đương sự. Vì vậy, để bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự trước tiên phải bảo đảm cho đương sự
tự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đó của họ trên thực tế.
* Bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự của đương sự.
- Cơ sở pháp lý quy định tại Điều 4 và Điều 61 BLTTDS: cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy
định có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi viện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để
yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.
- Phạm vi khởi kiện: Khác với Điều 34 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án dân sự thì một người hoặc
nhiều người chỉ được khởi kiện một hoặc nhiều người về cùng một quan hệ pháp luật trong một vụ án. Thì
hiện nay tại Điều 163 BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự rộng hơn ra thành nhiều mối quan
hệ pháp luật có liên quan với nhau trong cùng một vụ án để giải quyết. Quy định trên có tác dụng tạo điều
kiện thuận lợi cho đương sự tham gia tố tụng dân sự, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của đương sự và
Nhà nước.
- Phương thức khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự quy định tại các Điều 164,
312 BLTTDS; người khởi kiện vụ án dân sự, người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự có thể nộp đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu trực tiếp hoặc qua bưu điện. Đồng thời tại điểm 5 Mục I Nghị quyết số 02/2006/NQ-
HĐTP thì đương sự chưa nộp được đầy đủ các chứng từ, tài liệu khi nộp đơn khởi kiện Tòa án vẫn có thể thụ
lý vụ việc và phải nộp bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ngoài ra, pháp luật còn quy định trong những trường hợp nào thì Tòa án mới được trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu và thủ tục trả lại tại Điều 168, khoản 2 Điều 169 BLTTDS; kèm theo đó là quy định quyền
khiếu nại của đương sự về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và việc giải quyết khiếu nại đó tại Điều
170 BLTTDS. Đây là quy định quan trọng nhằm bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong trường hợp Tòa
án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đúng.
* Bảo đảm quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Đây là một trong các quyền tố tụng dân sự cơ bản của đương sự được quy định tại Điều
60, Điều 61 BLTTDS.
- Để bảo đảm thực hiện quyền trên trên thực tế, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định Tòa án có
nhiệm vụ thông báo việc thụ lý vụ án dân sự, cụ thể “trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ
án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên
- Ngoài ra, Điều 58 BLTTDS còn quy định các đương sự được bình đẳng với nhau trong việc cung cấp
chứng cứ, tài liệu chứng minh cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
* Bảo đảm quyền của đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ và yêu cầu
Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Trường hợp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự đang
do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quản lý, lưu giữ thì đương sự có quyền yêu cầu chủ thể đó cung cấp
chứng cứ cho mình theo quy định tại Điều 7 BLTTDS. Trường hợp chủ thể quản lý, lưu giữ chứng cứ, tài
liệu liên quan đến vụ việc dân sự không chịu cung cấp cho đương sự theo yêu cầu thì có thể yêu cầu Tòa án
hỗ trợ. Theo Điều 58 BLTTDS, các đương sự có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu
liên quan đến vụ việc dân sự mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm
chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản.
Ngoài ra, để bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của đương sự pháp luật tố
tụng dấn ự còn quy định đương sự có quyền khiếu nại việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án (điểm c
khoản 3 Điều 58, hướng dẫn tại Mục II Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày
01/09/2005).
* Bảo đảm quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất
trình hoặc do Tòa án thu nhập. Việc đương sự thực hiện được quyền này giúp họ hiểu rõ hơn vụ việc dân
sự, có ý nghĩa làm cho việc tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được tốt hơn.
Ngoài ra, còn làm cho các hoạt động tố tụng dân sự được công khai, minh bạch, đảm bảo cho việc giải quyết
vụ việc dân sự của Tòa án được đúng đắn. Quy định trên được thể hiện tại điểm d khoản 2 Điều 58 BLTDS
và được làm rõ tại Mục III của Nghị quiets số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005.
* Bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời của đương sự. Theo quy
định tại Điều 99 BLTTDS, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm
thời trước hoặc tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự. Đồng thời, Điều 121 và Điều 122, trong
quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng bổ sung, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đương sự có quyền khiếu nại đối với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ
việc dân sự về việc áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại các
Điều 124, 125 BLTDS.
Trần Diệu Linh – QT33D.004 3
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
* Bảo đảm quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng của đương sự.
nhiệm của người giải quyết khiếu nại. Theo các quy định này, đương sự có quyền khiếu nại các quyết định,
hành vi tố tụng dân sự nếu óc căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật xâm phạm đến quyền,
lợi ích hợp pháp của mình.
2. Bảo đảm quyền của đương sự được người khác bảo vệ trong tố tụng dân sự.
Những người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nội dung của bảo đảm quyền của đương sự
được người khác bảo vệ trong tố tụng dân sự bao gồm:
2.1. Bảo đảm đương sự ủy quyền được cho người khác đại diện.
Ủy quyền cho người khác đại diện trong tố tụng dân sự là việc đương sự trao cho người khác thực hiện
các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của mình. Để bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền ủy quyền cho
người khác đại diện trong tố tụng dân sự các điều từ Điều 73 đến Điều 78 BLTTDS đã quy định các vấn đề
liên quan đến người đại diện theo ủy quyền của đương sự như: những người được đại diện cho đương sự,
người không được đại diện; phạm vi quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà người đại diện theo ủy
quyền được thực hiện;…
Theo quy định tại Điều 73 BLTTDS, đương sự có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người không phải là
luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại ĐIều 74 BLTTDS,
Trần Diệu Linh – QT33D.004 4
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
người đại diện theo ủy quyền của đương sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự
theo nội dung văn bản ủy quyền.
Trường hợp đương sự không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà không có người đại diện, thì đương
sự phải được Tòa án chỉ định người đại điện theo quy định tại Điều 76 BLTTDS. Người đại diện do Tòa án
chỉ định được thực hiện tất cả các các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp cho đương sự. Ngoài ra, Điều 162 BLTTDS còn quy định Cơ quan Dân số, gia đình và trẻ em, Hội
liên hiệp Phụ nữ có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp Luật Hôn nhân và Gia
đình quy định.
2.2.Bảo đảm quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Thông qua sự hỗ trợ pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà đương sự có thể
nhận thức được đúng hơn các quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật và từ đó có thể tự mình
đưa ra được yêu cầu, các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
được bảo đảm trên thực tế. Tại các Tòa án, đương sự đều có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu
Tòa án giải quyết việc dân sự. Những năm gần đây, số lượng các vụ việc dân sự các Tòa án phải thụ lý giải
quyết ngày một tăng. Đặc biệt từ ngày 01/01/2005 khi BLTTDS 2004 có hiệu lực, việc thực hiện các quy
định liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự ngày càng được chú trọng, đồng thời đương
sự đã thể hiện rõ tính chủ động trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ.
Trần Diệu Linh – QT33D.004 5