Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 là một trong những văn bản quan trọng có ý nghĩa to
lớn đối với việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nguyên tắc quyền tự định
đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo, định
hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thực tế hiện nay
các quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật tố tụng dân sự vẫn còn nhiều vấn đề
bất cập, chưa đảm bảo được nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.
Bởi vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề này, sau đây bài viết sẽ đi vào tìm hiểu “Nguyên tắc quyền
tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện quyền
tự định đoạt của đương sự”.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT
CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự (sau đây viết tắt là QTĐĐCĐS) trong
TTDS là nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam, theo đó đương sự (ĐS) được quyền tự do
thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình, quyết định quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự và trách nhiệm của TA trong việc bảo đảm cho ĐS thực hiện được quyền tự định
đoạt của họ trong TTDS.
1.2 Cơ sở của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
1.2.1 Cơ sở lí luận của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự
Nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS có cội nguồn từ các nguyên tắc trong giao lưu dân
sự. Trong đó, các quan hệ dân sự được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự
thoả thuận, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thể. Theo quan điểm của PGS. TS
Phạm Hữu Nghị thì “quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là sự phản ánh của quyền
tự định đoạt của các chủ thể trong mối quan hệ dân sự”. Trong TTDS, nguyên tắc QTĐĐCĐS
thể hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân sự của mình
và các quyền về phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại. Có thể
thấy rằng nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS chính là các quyền được quy định trong các quy
phạm pháp luật hình thức, được phái sinh bởi các nguyên tắc trong giao lưu dân sự do pháp

hiểu biết về pháp luật, nên không biết là mình có quyền yêu cầu TA giải quyết khi nhận thấy
quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Hoặc có trường hợp có yêu cầu nhưng ĐS lại hiểu sai
quy định của pháp luật nên yêu cầu đó là trái pháp luật và đạo đức xã hội. Và còn nhiều trường
hợp, ĐS đưa ra yêu cầu không đầy đủ. Vì vậy, cần phải quy định ĐS hoàn toàn có quyền chấm
dứt, thay đổi, hoặc bổ sung yêu cầu. Mặt khác, bên cạnh đó, từ phía TA cũng còn tồn tại nhiều
sai sót. Có trường hợp, nhận được yêu cầu của ĐS mà TA vẫn không tiến hành giải quyết hoặc
là TA giải quyết không đúng, vượt quá phạm vi yêu cầu của ĐS. Vì vậy mà việc quy định
QTĐĐCĐS trong TTDS trong đó ghi nhận trách nhiệm của TA trong việc bảo đảm
QTĐĐCĐS là một yêu cầu cấp thiết. Cho nên BLTTDS năm 2004 đã đưa ra quy định về
nguyên tắc QTĐĐCĐS trong TTDS (Điều 5). Việc quy định QTĐĐCĐS là hoàn toàn phù hợp
với thực tiễn khách quan. Góp phần bảo đảm được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của ĐS,
tăng cường pháp chế XHCN.
II. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc đưa ra yêu cầu giải quyết vụ việc
dân sự
Theo quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2004 ĐS có quyền tự định đoạt trong việc đưa
ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo Điều 60 BLTTDS bị đơn có quyền
định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố. Và theo Điều 61 BLTTDS người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn, bị đơn.
2.1.1 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải
quyết việc dân sự
Thứ nhất, về QTĐĐCĐS trong việc khởi kiện vụ án DS. Tại Điều 161 BLTTDS quy
định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp
khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại toà án có thẩm quyền để yêu
cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Và theo Điều 162 BLTTDS quy định cụ thể
2
về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích
công cộng và lợi ích của Nhà nước. Với các quy định đó, Nhà nước chính thức ghi nhận quyền
khởi kiện vụ án DS của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi

tổ chức bị xâm phạm hoặc người đại diện hợp pháp của các chủ thể này mới có quyền khởi
kiện. Đây là phương thức đặc trưng trong việc thực hiện quyền tự định đoạt trong TTDS được
thể hiện bằng việc ĐS có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền DS của mình
tránh nguy cơ xâm phạm xảy ra như khởi kiện đòi lại tài sản hoặc khởi kiện yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở trái pháp luật…
2.1.2 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn
Về quyền yêu cầu phản tố, nếu như nguyên đơn có quyền quyết định việc khởi kiện và
nội dung khởi kiện thì bị đơn cũng có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Trong
TTDS, phản tố được hiểu là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn về một quan hệ pháp
luật khác với quan hệ pháp luật nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn, nhưng có liên quan đến quan
hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện. BLTTDS năm 2004 đã dành một số điều luật quy
3
định cụ thể về quyền phản tố của bị đơn trong TTDS, cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 60
BLTTDS quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên
quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Ngoài ra
BLTTDS cũng quy định cho bị đơn có quyền bác bỏ yêu cầu theo luật nội dung và bác bỏ yêu
cầu về mặt tố tụng. Sự bác bỏ yêu cầu theo luật nội dung là sự giải thích và lập luận của bị đơn
về tính không có căn cứ của yêu cầu khởi kiện về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tế. Sự bác
bỏ yêu cầu về mặt tố tụng là sự lý giải và chứng minh của bị đơn về tính không hợp pháp của
việc giải quyết vụ án hoặc là về sự vi phạm thủ tục tố tụng trong việc thụ lý và giải quyết vụ
án. Với việc quy định quyền phản tố, quyền bác bỏ của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn
là thể hiện sự ghi nhận của pháp luật đối với QTĐĐCĐS.
2.1.3 Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
Trong TTDS, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham
gia tố tụng vào vụ án DS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình nên cũng có quyền đưa ra yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người
khác. Việc tham gia tố tụng của họ trong vụ án DS là do họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến VADS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại là người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quant ham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia

Bằng phương thức khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, người yêu cầu
đã thực hiện việc yêu cầu TA có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Khi ĐS thực hiện hành vi khởi kiện, yêu cầu thì họ hoàn toàn có quyền quyết định các
hành vi tố tụng tiếp theo của mình. ĐS có quyền chấm dứt, thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu của
mình. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu có thể
được TA chấp nhận hay không chấp nhận. Trước khi mở phiên toà thì quyền này là quyền
tuyệt đối của ĐS, theo đó ĐS có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu tuỳ ý. Tuy nhiên, theo quy định
tại Điều 218 BLTTDS thì tại phiên toà việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không
vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Trước khi
mở phiên toà xét xử sơ thẩm, BLTTDS không có quy định giới hạn phạm vi thay đổi, bổ sung
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, nguyên đơn có thể thay đổi, bổ sung đối tượng
khởi kiện, thay đổi, bổ sung những yêu cầu mới đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan. Theo quy định tại Mục 6 Phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006
hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ
thẩm” của BLTTDS thì tại phiên toà xét xử sơ thẩm, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bị giới hạn là không được vượt quá so với phạm vi yêu cầu ban đầu.
Đối với việc rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu trong mọi giai đoạn tố tụng đều có thể
được TA chấp nhận. Theo nguyên tắc chung việc rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu là hành vi
định đoạt của nguyên đơn, người yêu cầu được biểu hiện ở hai khía cạnh đó là sự từ bỏ yêu cầu
(dựa trên luật nội dung) và là sự từ bỏ phương tiện bảo vệ yêu cầu bằng con đường tố tụng
(thông qua TA). Nguyên đơn có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện (điểm b
khoản 1 Điều 59 BLTTDS). Người yêu cầu trong việc dân sự cũng có thể rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của mình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 193, khoản 2 Điều 269 của
BLTTDS thì việc TA ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp nguyên đơn rút
đơn khởi kiện không làm mất quyền của nguyên đơn được khởi kiện yêu cầu TA giải quyết lại
vụ án DS đó nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của ĐS là
những quyền tố tụng rất quan trọng của ĐS. Tuy nhiên việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phải
dựa vào ý chí tự nguyện của ĐS và TA sẽ không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu
do ĐS bị ép buộc.
2.2.2 Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thoả thuận giải quyết vụ việc dân sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status