Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự. - Pdf 26

A. LỜI NÓI ĐẦU:
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 là một trong những văn bản quan trọng, có ý nghĩa hết sức
to lớn đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, sau một thời gian
thực hiện Bộ luật này cũng cho thấy còn nhiều vướng mắc và bất cập. Một trong những vấn đề còn
tồn tại, bất cập đó là các quy định của pháp luật về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự
trong tố tụng dân sự và việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế. Hiện nay, mặc dù tại kỳ họp thứ
09, ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012). Tuy
nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật về nguyên tắc quyền tự định đoạt
của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam là một vấn đề cần thiết.
Vì vậy, thấy được tầm quan trọng của vấn đề, nên em đã chọn đề tài: “Nguyên tắc quyền tự
định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định
đoạt của đương sự.”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Những vấn đề lý luận chung về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự
trong tố tụng dân sự:
1. Giải thích một số khái niệm:
1.1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự:
“Đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi
ích tranh chấp hoặc cần phải xác định tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”
(1)
1.2. Khái niệm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự:
“Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là nguyên tắc cơ bản
của luật tố tụng dân sự Việt Nam, theo đó đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong
việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi ích, hợp pháp của mình, quyết
định quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án
trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền tự định của họ trong tố tụng dân sự.”
(2)
2. Ý nghĩa của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự:
- Thứ nhất: Việc Nhà nước ta thể chế hóa quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên

Tại Điều 161 BLTTDS năm 2004 quy định “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án ... tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”. Và theo Điều 162 BLTTDS năm 2004 thì: “Cơ quan
về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy
định…Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường
hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định…Cơ
quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu
cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.”
Với các quy định đó, việc ghi nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự, trước hết cho phép cá
nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi ích bị xâm hại hoặc có tranh chấp yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, đương sự được quyền tự định đoạt trong việc khởi kiện vụ
án dân sự, nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.
- Thứ hai: Về quyền tự định đoạt trong việc yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Thông thường trong các việc dân sự một bên công nhận hay bác bỏ một quyền lợi hay thực
hiện một trách nhiệm dân sự nào đó nên không xuất hiện khái niệm bị đơn và nguyên đơn dân sự mà
được thay thế bằng thuật ngữ “người yêu cầu” và “người bị yêu cầu”. Việc tham gia tố tụng của
người yêu cầu trong việc dân sự cũng chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự. Tuy nhiên yêu
cầu của họ chỉ giới hạn trong phạm vi yêu cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện
pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của họ hoặc công nhận quyền,
nghĩa vụ của họ. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện của các chủ thể. Đây là
phương thức đặc trưng trong việc thực hiện quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự. Với việc khởi
kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự kịp thời, các quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ, thiệt hại
sớm được khắc phục, ngăn chặn và chấm dứt được hành vi trái pháp luật.
1.2. Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn:
Về quyền yêu cầu phản tố, nếu như nguyên đơn có quyền quyết định việc khởi kiện và nội
dung khởi kiện thì bị đơn cũng có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. BLTTDS năm
2004 đã dành một số điều luật quy định cụ thể về quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự, cụ
thể tại điểm c khoản 1 Điều 60 BLTTDS năm 2004 quy định bị đơn có quyền “Đưa ra yêu cầu
phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với

2004 thì tại phiên Tòa việc thay đổi yêu cầu chỉ được chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu
cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Tại phiên Tòa sơ thẩm, việc thay đổi,
bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị giới hạn là không được vượt quá so với phạm vi yêu
cầu ban đầu. Mục 6, phần III Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP quy định “Việc thay đổi, bổ sung
yêu cầu của đương sự tại phiên toà chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung
yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…”
Đối với việc rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu trong mọi giai đoạn tố tụng đều có thể được
Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện (điểm b khoản 1
Điều 59 BLTTDS năm 2004). Trước khi mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi
kiện, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS
năm 2004).Tại phiên Tòa xét xử sơ thẩm, trong trường hợp nguyên đơn rút một phần hoặc toàn bộ
yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu đó là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét
xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu nguyên đơn đó rút (khoản 2 Điều 218 BLTTDS năm
2004). Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên
yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn; nếu
nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, mà người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ yêu đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn
(Điều 219 BLTTDS năm 2004).
Người yêu cầu trong việc dân sự cũng có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình.
Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, trong trường hợp người yêu cầu rút một phần hoặc toàn bộ yêu
cầu của mình và việc rút yêu cầu đó là tự nguyện thì Tòa án chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với
phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu của người yêu cầu.
Trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trước khi mở phiên
Tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc tại phiên Tòa xét xử phúc thẩm, phiên họp giải quyết
việc dân sự thì để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho cả hai bên đương sự, Điều 269 BLTTDS
năm 2004 quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng
trường hợp mà giải quyết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 193, khoản 2 Điều 269 BLTTDS năm

thỏa thuận của đương sự. Trường hợp các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án trước khi mở phiên tòa, thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2004 và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án
trong trường hợp này là đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân
sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan
hệ pháp luật có tranh chấp. Theo quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2004 tại phiên tòa sơ thẩm,
Hội đồng xét xử phải hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay
không, nếu đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự
nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án.
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự còn được thể hiện tại giai đoạn phúc thẩm.
Tuy BLTTDS năm 2004 không quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải hòa giải trước khi mở phiên tòa
phúc thẩm, nhưng nếu tại Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự tự thỏa thuận của các
đương sự (Mục 5.1, phần III của Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP)
3. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án:
3.1. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn người đại diện, người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong một số trường hợp để bảo vệ tốt hơn
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đương sự có thể ủy quyền cho người khác thay mình tham gia tố
4
tụng. Người này được gọi là người đại diện theo sự ủy quyền của đương sự…Khoản 3 Điều 73
BLTTDS năm 2004 quy định: “Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự
là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ
quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.”. Đương sự có thể ủy quyền cho người đại
diện thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tuy vậy, trong trường hợp cần thiết,
Tòa án có thể triệu tập đương sự cùng tham gia tố tụng với người đại diện của họ. Theo Điều 63
BLTTDS năm 2004 quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự có quyền

trong vụ việc dân sự cũng như đảm bảo được việc thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của
đương sự trong tố tụng dân sự trên thực tế.
III. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố
tụng dân sự và một số kiến nghị:
1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng
dân sự:
1.1. Những kết quả đạt được:
Thực tiễn xét xử trong những năm gần đây cho thấy nguyên tắc quyền tự định đoạt của
đương sự trong tố tụng dân sự ngày càng được quan tâm và coi trọng hơn bao giờ hết. Đánh giá về
những kết quả đạt được của ngành Tòa án trong năm vừa qua, trong Báo cáo tổng kết năm 2009 và
phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 của ngành Tóa án nhân dân ngày 25 tháng 01 năm
2010, Tòa án nhân dân tối cao đã khẳng định Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 214.174 vụ việc; đã
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status