ĐỀ BÀI: Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong
Tố tụng dân sự và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.
Bài làm
A – MỞ ĐẦU
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được hình thành trên
cơ sở hạ tầng tương ứng, muốn pháp luật phát huy được vai trò tích cực của
mình trong việc định hướng sự vận động của xã hội, phục vụ được mục tiêu của
nhà nước thì đòi hỏi nó phải thực tế, phù hợp với những gì đang diễn ra trong
đời sống xã hội. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần xây dựng được hệ thống
những nguyên tắc mang tính chuẩn mực và quan trọng là ứng dụng nó vào thực
tiễn một cách nhuần nhuyễn và hiệu quả. Để làm được điều đó, pháp luật nói
chung và pháp luật Tố tụng dân sự nói riêng cần có sự điều chỉnh theo phương
hướng mang tính khả thi nhất. Trong khuôn khổ, bài viết đề cập đến nguyên tắc
bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong Tố tụng dân sự và việc đảm bảo thực
hiện nguyên tắc này.
B – NỘI DUNG
I/ Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự
trong Tố tụng dân sự
Các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự được xây dựng trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đó là những tư tưởng pháp lý
chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự. Trong tố tụng dân sự,
việc thực hiện đúng các nguyên tắc này tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ
việc dân sự và thi hành án dân sự được thuận lợi, ngăn chặn được những tiêu
cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ
được quyền, lợi ích của họ trước Tòa án.
Tố tụng dân sự là một quá trình phức tạp. Đương sự chỉ có thể bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố
tụng dân sự của họ. Vì vậy, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự được pháp luật
tố tụng dân sự quy định là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự.
II/ Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự
kiện vụ án dân sự chính là đặc quyền pháp luật quy định cho mọi người trong
việc bảo vệ các quyền, lợi ích đã được thừa nhận. Nó đã được ghi nhận một
cách cụ thể tại Điều 161 BLTTDS “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là
người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình”
Tuy nhiên, để thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự cũng như các quyền
tố tụng khác, đương sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đó là khả năng
2
tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại
diện tham gia tố tụng dân sự. (Theo Khoản 2 Điều 57 BLTTDS).
Đối với người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự (chưa thành niên,
có nhược điểm về thể chất hoặc mắc bệnh tâm thần) thì cha, mẹ, người giám hộ,
người đỡ đầu sẽ đại diện tham gia tố tụng. Để bảo vệ quyền lợi cho đối tượng
này, pháp luật quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự của họ do người đại diện
thực hiện.
Tùy thuộc vào yêu cầu khởi kiện, để thực hiện được quyền năng này,
đương sự còn phải thỏa mãn một số điều kiện khác như: không khởi kiện những
việc đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật, việc khởi kiện phải được tiến hành trong thời hiệu khởi kiện…
Tòa án xem xét đơn khởi kiện trong một thời hạn luật định, nếu thấy việc
khởi kiện thỏa mãn các điều kiện thì Tòa thụ lý vụ án dân sự để giải quyết. Tòa
án phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện trong những trường hợp
không đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự.
Sau khi khởi kiện vụ án, đương sự có quyền: “ Rút một phần hoặc toàn bộ
yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện” (điểm b Khoản 1 Điều
59 BLTTDS). Quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện của đương sự xuất phát từ
quyền tự định đoạt của đương sự nhưng đây cũng là biện pháp pháp lý cần thiết
để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ bởi trong nhiều trường hợp
các đương sự có thể đưa ra yêu cầu không đầy đủ, không chính xác do họ
ích của mình.
Pháp luật TTDS không quy định cụ thể về thời hạn cung cấp chứng cứ. Vì
vậy, trong mọi giai đoạn của quá trình TTDS, đương sự có thể cung cấp cho
Tòa án. Tuy nhiên, để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình, tạo điều kiện cho Tòa
án nghiên cứu, đánh giá đúng giá trị chứng minh của chứng cứ, đương sự cần
cung cấp chứng cứ trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án. Tòa án có trách nhiệm
ghi nhận, đưa chứng cứ vào hồ sơ vụ án và nghiên cứu, sử dụng một cách khách
quan, toàn diện.
Bên cạnh đó, BLTTDS còn quy định các đương sự có quyền “Được biết
và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc
do Toà án thu thập” ( điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTDS). Quy định này sẽ giúp
cho các đương sự chuẩn bị được chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Thêm một cách thức để bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập
được chứng cứ đó là Tòa án phải áp dụng biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ. Bao gồm:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Trưng cầu giám định;
c) Quyết định định giá tài sản;
d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
đ) Uỷ thác thu thập chứng cứ;
e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe
được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc
dân sự
( Theo Điều 85 BLTTDS)
2.3 Quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch
4
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám
định, người phiên dịch là những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Phiên tòa là nơi xem xét và giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự. Kết
thúc phiên tòa, quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự được Tòa quyết định
ghi trong bản án và được đảm bảo thi hành. Bởi vậy, việc tham gia tố tụng tại
phiên tòa có ý nghĩa rất lớn đối với việc đảm bảo quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp
của họ. Quyền tham gia phiên tòa của đương sự cũng được ghi nhận tại điểm I
khoản 2 Điều 59 BLTTDS.
5