BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HOÀNG ANH
ĐỀ TÀI
QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HOÀNG ANH
ĐỀ TÀI
QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
luận văn này.
Hà Nội, tháng 8 năm 2017
Tác giả
Vũ Hoàng Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS 2005
: Bộ luật Dân sự năm 2005
BLDS 2015
: Bộ luật Dân sự năm 2015
BLTTDS 2011
: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung
năm 2011)
BLTTDS 2015
: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
NQ số 03/2012/
: Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân
tối cao số 03/2012/NQ – HĐTP hướng dẫn thi hành một
TANDTC
: Tòa án Nhân dân tối cao
TTDS
: Tố tụng dân sự
VVDS
: Vụ việc dân sự
VADS
: Vụ án dân sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát Nhân dân
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
35
quyền tự định đoạt của nguyên đơn
2.2. Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
53
quyền tranh tụng của nguyên đơn
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
67
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN VÀ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền
67
của nguyên đơn
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt
78
Nam hiện hành về quyền của nguyên đơn
KẾT LUẬN
92
1
các quy định này dẫn đến việc áp dụng thiết thống nhất. Sự thiếu sót từ bản thân các quy
định của pháp luật TTDS về quyền của nguyên đơn đã gây ra khó khăn cho cơ quan tiến
hành tố tụng khi áp dụng vào thực tiễn. Điều này đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi của
nguyên đơn khi họ tham gia giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận, các vấn đề pháp
lý về quyền của nguyên đơn trong TTDS, bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất các
quy định pháp luật vào thực tiễn là một yêu cầu bức thiết. Vì vậy, việc lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Quyền của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam” sẽ có giá trị khoa học trong
giai đoạn hiện nay.
2
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Quyền của nguyên đơn là một nội dung quan trọng của pháp luật TTDS Việt Nam.
Có nhiều công trình khoa học có liên quan đến vấn đề này đã được nghiên cứu dưới nhiều
hình thức khác nhau. Có thể kể đến những công trình sau:
- Cuốn sách chuyên khảo “Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công
dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Nhân dân” năm 2017 của tác giả Nguyễn
Thị Thu Hà. Đây là công trình mới nhất có liên quan đến đề tài của tác giả. Công trình đã
nghiên cứu công phu và có hệ thống về cả lý luận và thực tiễn trong việc bảo đảm quyền
con người, quyền công dân trong TTDS. Tuy nhiên, đối tượng mà công trình này tập
trung nghiên cứu là các biện pháp, cách thức để bảo đảm quyền con người, quyền công
dân của đương sự trong TTDS, chứ không đi sâu nghiên cứu về các quyền của nguyên
đơn trong TTDS.
- Đề tài khoa học cấp trường “Cơ chế ảo đảm quyền con người, quyền cơ ản của
công dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp
năm 2013” năm 2017 do tác giả Nguyễn Thị Thu Hà làm chủ biên, và đề tài “Cơ chế bảo
đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đáp ứng tiến trình cải cách tư
Huyền đăng trên tạp chí Luật học số 9/2007; “Giải quyết trường hợp thay đổi địa vị tố
tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Lê Thu Hà đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 9/2007; “Việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự”
của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên tạp chí Tòa án Nhân dân số 8/2010; “Nguyên
tắc “quyền tự định đoạt và quyết định của đương sự” trong tố tụng dân sự, tố tụng hành
chính” của tác giải Nguyễn Quang Hiền đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
17/2013; “Giải quyết việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện trong vụ án dân sự nhiều
nguyên đơn có cùng yêu cầu” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh – Nguyễn Thị Hương đăng
trên tạp chí Tòa án Nhân dân số 20/2013; “Về trường hợp vụ án dân sự có nhiều nguyên
đơn mà có một nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện” của tác giả Nguyễn Thị Hương đăng
trên tạp chí Kiểm sát số 18/2013…Các bài viết này đề cập đến những vấn đề khác nhau
có liên quan đến quyền của nguyên đơn trong TTDS. Tuy nhiên, hầu hết các bài viết chủ
yếu tập trung phân tích, đánh giá các quy định của BLTTDS 2004 hoặc BLTTDS sửa đổi
2011 có liên quan đến quyền của nguyên đơn. Nhiều vấn đề có tính lý luận và thực tiễn
liên quan đến quyền của nguyên đơn chưa được đề cập hoặc đã được đề cập nhưng chưa
được lý giải một cách thỏa đáng và cần được tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn
trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, qua các công trình đã công bố ở trên, có thể nhận thấy, chưa có một công
trình nào nghiên cứu trực tiếp và cụ thể về quyền của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam.
Vì vậy, có thể nói, luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và có
hệ thống về quyền của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, các học thuyết, quy định của pháp luật
nước ngoài và Việt Nam về quyền của nguyên đơn trong TTDS; thực tiễn thực hiện các
quy định của pháp luật TTDS Việt nam về quyền của nguyên đơn trong vài năm gần đây.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Luận văn chỉ nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung quyền của
nguyên đơn trong TTDS. Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các
Thứ nhất, làm rõ bản chất của quyền của nguyên đơn trong TTDS, xây dựng được
khái niệm, chỉ ra được những đặc điểm và khái quát được vai trò về quyền của nguyên
đơn trong TTDS. Thứ hai, làm rõ được nội dung một số quyền của nguyên đơn trong
TTDS đã được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu đề tài. Thứ ba, chỉ ra những ưu điểm,
hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về quyền của nguyên đơn trong TTDS và
đưa ra kiến nghị cụ thể để giải quyết những vấn đề còn bất cập, vướng mắc.
5. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra,
luận văn đã sử dụng những nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học. Cụ thể, phương
pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của khái niệm
quyền; phương pháp phân tích và bình luận được sử dụng để đem lại góc nhìn đa chiều và
làm rõ các quy định về quyền của nguyên đơn trong pháp luật TTDS hiện hành; phương
pháp so sánh được sử dụng để chỉ ra những điểm khác biệt của pháp luật TTDS Việt Nam
và pháp luật TTDS một số nước về quyền của nguyên đơn; làm rõ những điểm tiến bộ và
hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về quyền của nguyên đơn trong TTDS; phương
pháp nghiên cứu học thuyết pháp lý (một phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống)
5
được sử dụng để nghiên cứu chuyên sâu về nội dung các quyền của nguyên đơn trong
TTDS, từ đó dùng làm cơ sở vững chắc trong việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật; phương
pháp diễn dịch, quy nạp và tổng hợp được tác giả sử dụng để khái quát các ý chính trong
từng vấn đề cụ thể, giúp cho các ý tưởng trong luận văn được sáng rõ.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu đề tài “Quyền của nguyên đơn trong TTDS Việt Nam” có thể
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung cụ
thể của luận văn được kết cấu thành 3 chương và 7 mục (có thể xem cụ thể hơn ở phần
mục lục của luận văn).
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN
CỦA NGUYÊN ĐƠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự
Để đưa ra được khái niệm “quyền của nguyên đơn trong TTDS” cần giải thích
được các khái niệm: TTDS và nguyên đơn trong TTDS.
Thứ nhất, về khái niệm TTDS.
Trong hoạt động xây dựng pháp luật, những nhóm quan hệ có cùng tính chất sẽ
được điều chỉnh chung bởi một ngành luật. Danh từ “dân sự” thường được hiểu như một
bộ phận của lĩnh vực luật tư, bản chất là sự bình đẳng trong việc cam kết, rằng buộc, thay
đổi, chấm dứt, thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên. Với tính chất của các quan
hệ dân sự, nhà làm luật đã xây dựng các quy tắc xử sự chung cho các chủ thể khi tham gia
vào quá trình cam kết, thỏa thuận dựa trên cơ sở tự nguyện, tự do và bình đẳng về địa vị
pháp lý. Theo nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu: “Dân luật (luật dân sự) là những nguyên tắc
cai quản sự giao thiệp giữa tư nhân”1 – ý chỉ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ
mang tính chất “riêng tư” của các chủ thể.
Bên cạnh đó, theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khi xây dựng một hệ
thống pháp luật, song song với việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, Nhà
nước cần phải xây dựng các cơ chế để đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó. Nói
như giáo sư Nguyễn Huy Đẩu: “Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không
giao kết và thiết lập các quan hệ dân sự. Trong quá trình con người trao đổi lợi ích với
nhau, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách quan mang tính quy luật.
Bởi, bản thân con người vốn là thực thể không hoàn hảo nên khi đặt chung vào cùng một
mối quan hệ thì vấn đề nảy sinh mâu thuẫn là lẽ thường tình (dưới quan điểm của Triết
học và Phật giáo)6. Nhận thức được vấn đề đó, pháp luật cần quy định các phương thức để
giải quyết tranh chấp. Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đó là yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Để làm cơ sở cho việc xác định quyền và nghĩa
vụ của từng chủ thể khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, pháp luật TTDS cần trao cho họ
các tư cách pháp lý. Bởi, chỉ khi chủ thể ở trong một tư cách nào đó mới có thể sử dụng
những quyền năng nhất định7. Với vai trò là chủ thể làm phát sinh quá trình tố tụng (thể
hiện bằng việc nộp đơn khởi kiện), pháp luật trao cho chủ thể này tư cách là “nguyên
đơn” trong TTDS.
Cần nói thêm, quan niệm về TTDS cũng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo
từng mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc gia8. Do Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi
mô hình phân loại tố tụng của các nước theo hệ thống luật dân sự, nên thủ tục tố tụng
được chia thành hai loại là thủ tục giải quyết VADS (bao gồm thủ tục thông thường và thủ
tục rút gọn) và thủ tục giải quyết việc dân sự. Và trong hai thủ tục này, tư cách nguyên
đơn chỉ xuất hiện trong VADS.
Theo Từ điển luật học: “nguyên đơn là người được giả thiết có quyền hoặc lợi ích
hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp nên khởi kiện (hoặc được người khác khởi kiện, khởi
tố) theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ những quyền lợi đó”9. Từ khái niệm này, có
thể xác định được điều kiện cần để một chủ thể có thể trở thành nguyên đơn trong TTDS
là họ phải được suy đoán có quyền và lợi ích hợp dân sự hợp pháp bị xâm phạm. Sự xâm
phạm ở đây chỉ được “suy đoán hay giả thiết” vì khi chưa có phán quyết của Tòa án thì
không thể khẳng định chắc chắn quyền lợi của nguyên đơn là hợp pháp. Đồng thời, khái
niệm trên cũng chỉ ra rằng nguyên đơn trong TTDS rất đa dạng. Nguyên đơn có thể là
người khởi kiện VADS khi đáp ứng các điều kiện luật định. Nguyên đơn cũng có thể là
5
Tống Công Cường (2007), Luật Tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
nhau. Học thuyết pháp luật tự nhiên cho rằng, khi con người sinh ra đã được hưởng thụ
các quyền mà luật tự nhiên ban cho, các quyền này đã chi phối và hướng dẫn hành vi con
người đi đến sự công bằng và đúng đắn. Luật của tự nhiên đã có trước khi loài người xuất
hiện, nó tồn tại vĩnh hằng, độc lập, bất biến và khách quan12 (cả ở Phương Đông và
Phương Tây đều cùng quan điểm này13). Khi xã hội văn minh ra đời, để bảo vệ được
quyền tự nhiên đó, Nhà nước phải tìm tòi, khám phá luật của tự nhiên để xây dựng thành
hệ thống pháp luật (luật của tự nhiên, chi phối luật của con người).
Trái ngược với quan điểm trên, học thuyết pháp luật thực chứng cho rằng, quyền là
khả năng nhà nước trao cho chủ thể thông qua pháp luật. Thực chứng có nghĩa rằng trước
hết luật phải tồn tại một cách rành rọt, cụ thể, minh chứng được14. Theo học thuyết pháp
luật thực chứng, quyền không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà
phải do các Nhà nước xác định, thừa nhận và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp
luật15. Và vì thế, học thuyết này cho rằng “không có một pháp luật lý tưởng nào duy
10
Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr. 65.
Xem thêm khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
12
Đỗ Minh Đức (2014),“Tìm hiểu học thuyết pháp luật tự nhiên”, Nghiên cứu lập pháp, (06), tr.15.
13
Nhà bác học Aristotle – cha đẻ của học tuyết pháp luật tự nhiên Phương Tây cho rằng: pháp luật phải là “sự suy
diễn từ sự hài hòa của trật tự tự nhiên”. Ở Phương Đông, Lão Tử cho rằng, luật là cái có sẵn trong tự nhiên, luân lý tự
nhiên đó không gì phá hủy được, con người nếu soạn luật cần tuân thủ công lý đó. Hay trong triết lý của Đạo Phật
thuyết về luân hồi, nhân quả đều được diễn giải như quy luật vĩnh hằng tồn tại trong vũ trụ.
(Xem: Nguyễn Đăng Dung – Đặng Minh Tuấn (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, tr.63 và Phạm Duy Nghĩa (2011), Giáo trình pháp luật đại cương, Nxb Công an Nhân dân,
tr.12).
14
Phạm Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu luật học, Nxb. Công an Nhân dân, tr.62.
15
quyền mà pháp luật đã ghi nhận cho nguyên đơn trong TTDS.
Như vậy, từ những phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: Quyền của nguyên
đơn trong TTDS là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể giả thiết có quyền lợi dân
sự hợp pháp bị xâm phạm, tranh chấp được hưởng, được sử dụng để bảo vệ quyền lợi của
mình hoặc khả năng mà pháp luật quy định cho cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp
luật được hưởng, được sử dụng để bảo vệ quyền lợi dân sự hợp pháp của Nhà nước, bảo
vệ lợi ích công cộng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
1.1.2. Đặc điểm quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, quyền của nguyên đơn trong TTDS được hình thành dựa trên mối quan
hệ giữa năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật TTDS.
16
Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 1, tr. 86.
Đào Trí Úc (2015), Án lệ: Lịch sử, hiện tại và triển vọng phát triển ở Việt Nam, Nghiên cứu lập pháp, (10), tr.16.
18
cập ngày 25/06/2017.
19
truy cập ngày 25/06/2017.
20
Từ điển Luật học, , tr. 648.
21
Lê Văn Long (2003), Quan hệ pháp luật – Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 42.
17
10
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, để có tư cách tham gia vào một quan
hệ pháp luật, chủ thể của quan hệ pháp luật phải có năng lực chủ thể, bao gồm hai yếu tố
các điều kiện của pháp luật. Theo đó, quá trình TTDS sẽ phát sinh từ khi nguyên đơn nộp
đơn khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, việc thực hiện các quyền tố tụng của nguyên đơn là để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.
22
Bùi Thị Thanh Hằng (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 123.
Lê Văn Long, tlđd chú thích 21, tr. 21.
24
Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr. 111.
23
11
Thông thường, khi một chủ thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp họ đã có
sẵn những quyền tố tụng để bảo vệ mình. Nếu các chủ thể có năng lực hành vi TTDS thì
có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện mà không cần thông qua người khác. Bên cạnh
việc khởi kiện để bảo vệ lợi ích trực tiếp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; có những chủ thể
được nhà nước trao quyền để bảo vệ lợi ích dân sự của Nhà nước hoặc lợi ích công cộng
khi có hành trái pháp luật xâm phạm. Đơn cử như trường hợp sở tài nguyên môi trường có
quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, hay
trường hợp các cơ quan quản lý trong lĩnh vực văn hóa, thông tin có quyền khởi kiện đòi
bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân…Khi đó,
trong phạm vi lĩnh vực mình phụ trách, các cơ quan này sẽ khởi kiện với tư cách là
nguyên đơn để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.
Thứ tư, quyền của nguyên đơn trong TTDS được xây dựng dựa trên sự tôn trọng
quyền của mỗi con người khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.
Trong quan hệ dân sự, khả năng các chủ thể có thể bị xâm phạm về quyền và lợi
ích là rất lớn, vì vậy, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các
thẩm quyền chứ không phải quan hệ bình đẳng như trong pháp luật dân sự. Đối tượng mà
luật tố tụng hành chính bảo vệ là các quyền lợi bị xâm phạm thông qua các hoạt động
quản lý nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền chứ không phải các quyền lợi mang tính
tự do, tự nguyện, bình đẳng mà pháp luật TTDS hướng tới bảo vệ. Đồng thời, khác với
nguyên đơn trong TTDS, nguyên đơn trong tố tụng hành chính chỉ có thể khởi kiện để bảo
vệ lợi ích của mình25.
- Quyền của nguyên đơn trong TTDS có những điểm khác biệt với quyền của
nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự (sau đây xin gọi tắt là nguyên đơn dân sự). Do
chịu ảnh hưởng của các hệ thống pháp luật khác nhau nên mỗi quốc gia có thể có quy
định khác nhau về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Theo hệ thống common Law việc
giải quyết trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra được tách ra giải quyết thành hai
thủ tục tố tụng riêng (có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự - do đó không xuất
hiện quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự). Còn theo hệ thống Civil Law
(điển hình là Pháp), trong trường hợp các vi phạm về hình sự kéo theo một thiệt hại về
dân sự sẽ được giải quyết trong cùng một vụ án hình sự26 (trong những người bị thiệt hại
có những người sẽ có tư cách là nguyên đơn dân sự). Hiện nay, về vấn đề này, pháp luật
Việt Nam cũng áp dụng theo nguyên lý của hệ thống pháp luật civil law.
Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là ở chỗ: (i) tránh
việc tiến hành các hoạt động tố tụng trùng lặp một cách không cần thiết, tức là xem xét
hai lần các tình tiết xâm phạm cùng một lúc đến các giá trị xã hội được pháp luật hình sự
và dân sự bảo vệ, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho việc xét xử27; (ii) giúp cho người bị
xâm phạm có thể sử dụng những chứng cứ mà cơ quan tố tụng đã thu thập được để phục
vụ cho việc giải quyết vấn đề dân sự28 (về bản chất, đây là sự “nương nhờ” vào việc
chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự) - nếu thiệt hại xảy ra được giải quyết
trong một VADS thì chủ thể bị thiệt hại không có quyền đó nữa.
Thực chất, việc giải quyết yêu cầu của nguyên đơn dân sự là việc bảo vệ quyền lợi
dân sự hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm cùng với việc giải quyết vấn đề hình sự trong
vụ án hình sự. Do pháp luật TTDS và tố tụng hình sự đều quy định cho người được suy
đoán là bị thiệt hại có các quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
nên việc phân biệt quyền của nguyên đơn trong TTDS và nguyên đơn dân sự trong vụ án
làm phát sinh vụ án hình sự.
Xét về các quyền tự định đoạt khác có thể thấy, nguyên đơn dân sự không có
quyền định đoạt cao như nguyên đơn trong TTDS. Trong TTDS, do nguyên đơn là một
trong những chủ thể quan trọng nhất của việc giải quyết VADS nên họ được trao rất nhiều
quyền như thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, hòa giải, tự thỏa thuận, kháng cáo bản án sơ
thẩm…Còn trong tố tụng hình sự, nguyên đơn là người tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích
dân sự của mình trong vụ án hình sự nên quyền tự định đoạt có phần bị ảnh hưởng từ việc
giải quyết vụ án hình sự. Theo đó, nguyên đơn dân sự không có quyền hòa giải31, không
có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm (chỉ được kháng cáo phần giải quyết dân sự)32…
Hai là, về mục đích yêu cầu. Nguyên đơn trong TTDS có thể yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích của mình hoặc bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng. Còn nguyên
đơn dân sự chỉ có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích dân sự hợp pháp có liên quan trực tiếp
đến quyền lợi của mình.
Ba là, về sự chuyển đổi tư cách. Khác với TTDS, trong tố tụng hình sự, khi nguyên
đơn dân sự rút yêu cầu, không đặt ra vấn đề thay đổi về tư cách của nguyên đơn dân sự và
các quyền của nguyên đơn chỉ gắn với người đã yêu cầu bồi thường thiệt hại phần dân sự
trong vụ án hình sự. Khi nguyên đơn dân sự có yêu cầu bồi thường thiệt hại, không phải
yêu cầu nào của nguyên đơn dân sự cũng được giải quyết trong vụ án hình sự. Theo quy
29
Trần Thị Liên (2017), “Xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự”, Nhà nước và pháp luật,
(05), tr. 38 và Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân
dân, tr. 134.
30
Thái Chí Bình (2014), “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sư về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”,
Nhà nước và pháp luật, (03), tr. 65.
31
Thái Chí Bình, tlđd chú thích 30, tr.66.
32
Xem Điều 63 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
chính là ý chí của Nhà nước trong việc trao quyền cho con người, công dân có thể yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Nếu Tòa
án có thể giải quyết “thấu tình, đạt lý”, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn sẽ tạo được lòng tin của người dân đối với Nhà nước, giúp củng cố và duy trì một trật
tự chính trị ổn định và hài hòa.
*Về phương diện kinh tế - xã hội : việc quy định cho nguyên đơn có các quyền
trong TTDS sự giúp nguyên đơn bằng chính quyền năng pháp luật trao có thể sử dụng để
bảo vệ các giá trị pháp lý mà mình xứng đáng được hưởng, góp phần bảo vệ các lợi ích
hợp pháp trong quan hệ pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
33
Lê Nguyên Thanh (2010),“Một số vấn đề về giải quyết dân sự trong vụ án hình sự”, Khoa học pháp lý, 01, tr. 28.
Arnaud De Raulin, Jean Paul Pastorel, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Hoàng Anh ( Đồng chủ biên) (2016), Ảnh hưởng
của truyền thống pháp luật tới pháp luật Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 51.
34
15
Từ quá trình phát triển của pháp luật, ngày nay có lẽ cần có một cách tiếp cận mới
về pháp luật, khả năng cạnh tranh và thích ứng bất tận đã làm cho pháp luật dường như
không chỉ còn là thượng tầng kiến trúc mà đã trở thành một hạ tầng quan trọng giúp xã
hội pháp triển35 (việc quả quyết rằng pháp luật chỉ chịu ảnh hưởng bởi kinh tế là một việc
sai lầm36). Thời đại của sự hội nhập đã đến, chất lượng pháp luật là một trong những cơ sở
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Dưới cái nhìn của các nhà đầu tư, nếu
một hệ thống pháp luật quốc gia không đủ để bảo đảm quyền lợi cho họ khi tranh chấp
xảy ra thì việc từ bỏ cơ hội đầu tư là đương nhiên. Nói cách khác, từ góc độ kinh tế học,
trong các tiêu chí đánh giá tiềm năng của thị trường trước khi đầu tư vào Việt Nam, tiêu
chí về chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí quan trọng.
Một hệ thống pháp luật với các quy định đảm bảo quyền của nguyên đơn trong quá
38
Nguyễn Huy Đẩu, tlđd chú thích 2, tr. 7.
36
16
tốt là một ảo đảm cho an toàn xã hội 39”.
Ngoài ra, quy định về quyền của nguyên đơn trong TTDS còn là “uy lực” của các
chủ thể bị xâm phạm hoặc tranh chấp về quyền lợi hợp pháp có thể yêu cầu Tòa án buộc
chủ thể xâm phạm phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật dân sự. Trong mối
quan hệ giữa nhà nước và công dân, quyền của công dân sẽ làm phát sinh trách nhiệm của
Nhà nước. Nhân dân thành lập nên Nhà nước thì Nhà nước phải xây dựng các thiết chế để
bảo vệ những giá trị chính đáng của Nhân dân. Trong hệ thống pháp luật dân sự, bằng
quyền năng được trao, nguyên đơn có thể sử dụng các quyền này để yêu cầu Tòa án phải
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Thông qua quá trình xét xử, nếu quyền lợi hợp pháp
của nguyên đơn bị xâm phạm, Tòa án với chức năng là cơ quan tư pháp sẽ nhân danh Nhà
nước để giúp nguyên đơn thiết lập, khôi phục, sắp xếp lại những giá trị pháp lý mà họ
đáng lẽ đã được hưởng khi tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung.
Mặt khác, thông qua sự ghi nhận quyền của nguyên đơn, pháp luật còn thể hiện
được tính giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền. Tính phòng
ngừa thể hiện ở chỗ, khi các chủ thể đã tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, họ phải có
ý thức thực hiện đúng bổn phận với phía bên kia; nếu một bên chủ thể có ý định xâm
phạm đến quyền lợi của chủ thể khác, họ đã biết trước rằng, sẽ thường trực một cơ quan
công quyền đứng phía sau người bị xâm phạm để bảo vệ cho họ. Điều này sẽ tác động đến
ý chí, tâm lí của các chủ thể để họ phải tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với ý chí
chung mà các bên đã thống nhất. Tính ngăn chặn thể hiện ở chỗ, nếu pháp luật đã đặt ra
lời cảnh báo để các chủ thể tự giác tuân thủ cam kết, tuân thủ trách nhiệm nhưng họ vẫn
cố ý xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bên còn lại, khi đó, sẽ có một cơ quan đại
diện cho công lý, chiểu theo sự “cầu viện” và “thỉnh nguyện” của nguyên đơn đứng ra để
(khế ước xã hội), có hiệu lực cao nhất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Ở đó, người dân
được thỏa thuận và thống nhất ý chí về phạm vi hưởng quyền cũng như những nghĩa vụ
phải thực hiện để duy trì một trật tự vận hành của xã hội. Theo tư tưởng của Rousseau,
khế ước xã hội về bản chất là “hình thức liên kết với nhau để dùng sức mạnh chung mà
bảo vệ mọi thành viên”, sự liên kế đó được thể hiện trong công ước (khế ước), vì vậy
“chúng ta phải luôn luôn trở lại với công ước”. Theo đó, do Hiến pháp là bản thỏa thuận
chung của xã hội nên tất cả các quy tắc xử sự trong pháp luật chuyên ngành khi ban hành
đều phải phù hợp với Hiến pháp. Vậy, quy định về quyền của nguyên đơn chính là sự cụ
thể hóa những tinh thần, giá trị tổng quát mà Hiến pháp đã quy định để bảo vệ quyền con
người, quyền công dân một cách tốt nhất - bảo đảm cho nguyên đơn có đầy đủ những
quyền mà mình đã tham gia “cam kết, thỏa thuận”.
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN
ĐƠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Có thể khẳng định, nguyên đơn trong TTDS được trao rất nhiều quyền. Do giới
hạn số lượng trang của luận văn, tác giả không thể nghiên cứu tất cả các quyền của
nguyên đơn. Trong khả năng nghiên cứu của mình, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các
quyền của nguyên đơn đã được ghi nhận nhưng vẫn bị xâm phạm nhiều (thông qua các
bài nghiên cứu chuyên khảo trong 5 năm gần đây); hoặc các quyền của nguyên đơn đã
được ghi nhận nhưng vẫn còn có những nhận thức khác nhau cần phải làm rõ. Đồng thời,
những quyền của nguyên đơn mới được ghi nhận cũng cần có sự nghiên cứu để đánh giá
được sự phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam (các quyền này được nêu rõ trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn). Trong đó, các quyền của nguyên đơn có cùng tính chất sẽ
được tác giả nghiên cứu trong cùng một nhóm để tránh sự trùng lặp khi nghiên cứu về cơ
sở của quyền.
Ngoài ra, nghiên cứu quyền của nguyên đơn không chỉ là vấn đề nghiên cứu một
giác độ - nghĩa là chỉ nghiên cứu về việc pháp luật trao cho nguyên đơn những quyền gì;
mà để đánh giá toàn diện các quy định về quyền của nguyên đơn cần xem xét các giác độ
khác như: việc thực hiện quyền của nguyên đơn, trình tự, thủ tục áp dụng khi nguyên đơn
thực hiện quyền có được quy định phù hợp với bản chất của quyền hay không; nghĩa vụ
mình.
Trên cơ sở so sánh, có thể thấy, quyền tự định đoạt của đương sự nói chung và
nguyên đơn nói riêng là quyền đặc trưng của TTDS. Khác với TTDS, tố tụng hình sự và
tố tụng hành chính được hình thành để bảo vệ các quan hệ công. Cụ thể, Luật hình sự điều
chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người được suy đoán là phạm tội. Một vụ án hình sự
được phát sinh theo trình tự, thủ tục mà Luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình tố
tụng, khi cơ quan có thẩm quyền có đầy đủ chứng cứ để buộc tội và chứng minh được
một người là có tội thì người đã thực hiện tội phạm không có quyền thỏa thuận với nhà
nước về mức hình phạt, không có quyền định đoạt những vấn đề liên quan đến tội phạm
của mình. Cùng với đó, mặc dù trong luật tố tụng hành chính cũng ghi nhận nguyên tắc
40
Nguyễn Tiến Trung (1999), “Cơ sở pháp lý của quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS”, Luật học, (02), tr.
39.
19
quyền tự định đoạt của đương sự, nhưng do đối tượng mà vụ án hành chính hướng đến
giải quyết là các tranh chấp giữa người dân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các
quyết định hành chính, hành vi hành chính nên quyền tự đinh đoạt của đương sự không có
tính chất tuyệt đối như trong TTDS41.
1.2.1.2. Nội dung một số quyền trong nhóm quyền tự định đoạt của nguyên đơn
* Quyền khởi kiện của nguyên đơn
Ngày nay, với sự nhận thức đúng đắn về quyền con người, việc ghi nhận và bảo
đảm quyền khởi kiện là trách nhiệm của Nhà nước. Điều này cũng đã được quy định rõ
trong pháp luật quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày
10/12/1948 đã tuyên bố, mọi quyền con người đều phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp
quyền. Đồng thời, tuyên ngôn cũng ghi nhận mọi người đều có quyền yêu cầu cơ quan
pháp lý quốc gia có thẩm quyền chống lại các hành vi đã được hiến pháp và pháp luật
Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình Luật dân sự - Tập 1, Trường Đại học Mở TP HCM, Nxb Đại học Quốc gia
TP HCM, tr. 19.