Đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THANH NGA

ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CHỨNG MINH CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

NGUYỄN THANH NGA



thể trung tâm, hoàn toàn chủ động và tích cực trong việc thu thập, cung cấp
chứng cứ, chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc. Điều này đã đáp
ứng được nhu cầu thực tế của xã hội và đảm bảo được mục đích của công cuộc
cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta hướng tới. Nghị quyết số 08/NQ-TW
ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới đã nêu lên quan điểm chỉ đạo đối với công tác tư pháp:
“phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất của Nhà nước ta là
nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” [22,


2

tr3] và nhiệm vụ trọng tâm là “khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo cho mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan;…; việc
phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của
người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có
quyền, lợi ích hợp pháp để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết
phục và trong thời gian ptôháp luật quy định” [22, tr4]. Nghị quyết 49/NQ-TW
ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
nhấn mạnh cần tiếp tục đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch trong xét
xử, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng
minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Vấn đề là, nhìn từ thực tiễn xét xử tỷ lệ án bị hủy, bị sửa, phải qua nhiều
cấp xét xử, xử đi, xử lại nhiều lần vẫn chiếm tỷ lệ khá cao mà một trong những
nguyên nhân chủ yếu là liên quan đến vấn đề chứng minh và chứng cứ. Nguyên
nhân của tình trạng này xuất phát từ việc chưa thực sự có thay đổi trong nhận
thức về vai trò của các chủ thể trong hoạt động chứng minh, chưa đảm bảo được
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, các quy định
của pháp luật còn chưa thực sự hoàn thiện, còn có các cách hiểu mâu thuẫn khi

năm 2006);
- Luận án “Chế định chứng minh trong TTDS Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Minh Hằng (Luận án tiến sỹ luật học, bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2007);
- Sách chuyên khảo “Hoạt động chứng minh trong pháp luật TTDS Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng - Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính,
năm 2009.
Ngoài ra, cũng có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một
nội dung nào đó của chế định chứng cứ, chứng minh trong TTDS như:
- Bài viết “Về quyền định đoạt của đương sự trong TTDS” của tác giả
Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2000;
- Bài viết “Thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự” của tác giả Bùi
Thị Huyền,Tạp chí luật học số 1/2002;
- Bài viết “Tập quán - Nguồn luật hay nguồn chứng cứ” của tác giả
Nguyễn Minh Hằng, Tạp chí Tòa án, số 9/5-2004;
- Bài viết “Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS Việt Nam” của tác giả
Đinh Trung Tụng, Đặc san chuyên đề về BLTTDS - Tạp chí TAND, số 8-2004;
- Bài viết “Một số ý kiến xung quanh vấn đề chứng cứ” của tác giả
Nguyễn Văn Khuê, Tạp chí Kiểm sát số 10/2004;
- Bài viết “Một vài suy nghĩ về vấn đề chứng cứ và chứng minh được quy
định trong BLTTDS” của tác giả Tưởng Duy Lượng, Tạp chí Toà án, số 10/2004
và số tháng 11/2004;


4

- Bài viết “Vấn đề chứng cứ và chứng minh trong BLTTDS” của tác giả
Trần Văn Trung, Tạp chí Kiểm sát số 12/2004;
- Bài viết “Chứng cứ và chứng minh trong TTDS” của tác giả Dương
Quốc Thành, Tạp chí tạp chí Tòa án số 01/2004;


5

thực tế việc thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong pháp
luật TTDS Việt Nam.
3. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cũng như
nội dung về việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của
đương sự trong TTDS Việt Nam. Qua đó, phát hiện những điểm còn thiếu sót
hoặc chưa hợp lý trong các quy định hiện hành và đề xuất, kiến nghị một số giải
pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam trong việc đảm bảo
thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS Việt Nam,
đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc thực thi các quy định đó trên thực tế.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa
vụ chứng minh của đương sự trong pháp luật TTDS;
- Nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện
hành về việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương
sự trong TTDS;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, phát hiện một số
vướng mắc và đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTDS Việt
Nam về đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong
TTDS bao quát trên nhiều phương diện, từ phương diện đảm bảo bằng các quy
định của pháp luật TTDS, pháp luật nội dung (các quan hệ dân sự theo nghĩa

diện và sâu sắc về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của
đương sự trong TTDS Việt Nam. Những đóng góp của luận văn thể hiện trên
một số phương diện sau đây:
- Xây dựng được khái niệm về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ
chứng minh của đương sự trong TTDS Việt Nam. Phân tích làm rõ cơ sở lý
luận hình thành các quy định về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng
minh của đương sự trong TTDS Việt Nam;
- Hệ thống được các quy định pháp luật TTDS Việt Nam về đảm bảo
thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự ở các giai đoạn xét xử
VADS;
- Phát hiện các vấn đề và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần
hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa
vụ chứng minh của đương sự.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được


7

kết cấu bởi 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng
minh của đương sự trong pháp luật TTDS
Chƣơng 2: Nội dung các quy định về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ
chứng minh của đương sự trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành
Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam
về đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS
Việt Nam và một số kiến nghị



phải có sự mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp và các tranh chấp này phải nằm
một trong các lĩnh vực về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động.
Bản chất của pháp luật TTDS Việt Nam là phương tiện, công cụ để giải
quyết các vụ việc dân sự. Các vụ việc dân sự xuất phát từ các quan hệ pháp luật


9

dân sự mà đặc trưng cơ bản của các quan hệ này là sự bình đẳng, sự thoả thuận
và sự tự định đoạt của các bên. Do đó, trong pháp luật TTDS Việt Nam, một
trong những chế định quan trọng được hình thành và phát triển ngày càng tiến
bộ, đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự
qua các thời kỳ lịch sử là chế định về chứng minh và chứng cứ. Vấn đề là, chỉ
khi tìm ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự thì vụ việc dân sự mới có thể
được giải quyết một cách đúng đắn và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của
các đương sự, chứng minh lại là biện pháp duy nhất để tìm ra sự thật khách quan
đó trên cơ sở các chứng cứ.
Như vậy, mục đích chính của việc giải quyết vụ việc dân sự là bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đương sự trong VADS là“người
tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi
ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách” [64.tr104]
và là “cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan” (Khoản 1, Điều 56 BLTTDS).
Vì đặc trưng cơ bản của các quan hệ dân sự là sự thỏa thuận, tự định đoạt
nên đương sự trong VADS sẽ là người biết rõ nhất về sự thật khách quan VADS
và các chứng cứ chứng minh sự thật khách quan đó. Do đó, họ phải có quyền và
có nghĩa vụ chứng minh. Nhìn từ góc độ hình thành và phát triển của chế định
chứng minh và chứng cứ trong pháp luật TTDS Việt Nam có thể nhận thấy rõ
dấu ấn của sự phát triển và ngày càng hoàn thiện trong các quy định của pháp

tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng
cứ nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án.” [13, tr.81]. Như vậy,
tất cả các định nghĩa trên đều khẳng định chứng minh trong TTDS là một hoạt
động TTDS bao gồm cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá nhằm mục đích
sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, hay nói cách
khác các tác giả đều quan niệm chứng minh trong TTDS là việc làm rõ sự thật
khách quan của vụ án bằng các chứng cứ.
Theo thuyết vật chất và ý thức của Mác - Lênin, bất kì một sự vật, hiện
tượng nào đã xẩy ra trên thực tế thì không bao giờ mất đi mà luôn để lại các dấu
vết trong thế giới khách quan và chúng có thể tồn tại dưới dạng vật chất trên các
đồ vật hoặc chúng cũng có thể tồn tại duới dạng phi vật chất trong trí nhớ của
con người. Tuy nhiên, dù ở dạng này hay dạng khác, các dấu vết cũng đều có
khả năng tái hiện lại các sự kiện, các tình huống đã xẩy ra trước đó, hay nói cách
khác chúng là căn cứ để chứng minh một sự kiện, hiện tượng nào đó là có thật,
là đúng. Những dấu vết ấy được gọi là chứng cứ. Vậy chứng cứ có thể được hiểu
là những cái tồn tại trong thế giới khách quan mà căn cứ vào đó có thể xác định
được các sự vật, hiện tượng đã xẩy ra trước đó như thế nào. Theo Từ điển tiếng
Việt, chứng cứ là “những điều viện dẫn ra để làm bằng” [67, tr.384], là “cái cụ
thể tỏ rõ điều gì đó là có thật” [68, tr.352].


11

Trong VADS chứng cứ là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác giao nộp cho tòa án hoặc do tòa án thu thập được theo trình
tự, thủ tục do BLTTDS quy định mà tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu
hay phản đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng như những
tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VADS (Điều 81, BLTTDS)
Như vậy, có thể hiểu chứng cứ trong TTDS là “cái có thật, theo một trình
tự do luật định tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự” [64, tr.153154]. Từ khái niệm này, chứng cứ trong TTDS gồm ba thuộc tính là tính khách

tìm ra được sự thật khách quan của các tình tiết, sự kiện của vụ án, các chủ thể
chỉ rõ các căn cứ pháp lý liên quan nhằm khẳng định yêu cầu, phản yêu cầu hoặc
phản đối yêu cầu của đương sự là hợp pháp hay bất hợp pháp. Như vậy, chứng
minh trong TTDS, theo nghĩa rộng, là việc các chủ thể chỉ ra tất cả các căn cứ
thực tiễn, các căn cứ pháp lý và các lý lẽ, lập luận làm cơ sở cho tòa án giải
quyết VADS được đúng đắn. Theo nghĩa hẹp, chứng minh trong TTDS thường
được hiểu là hoạt động TTDS bao gồm cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ,
bảo quản chứng cứ, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Hoạt động chứng minh
hướng tới đích cuối cùng là sử dụng chứng cứ để làm rõ sự thật khách quan của
VADS. Đây là cách hiểu thông dụng và phổ biến hơn cả về chứng minh trong
TTDS. Mọi hoạt động chứng minh của các chủ thể đều xoay quanh các chứng
cứ, do đó khi nói đến chứng minh trong TTDS người ta thường chỉ tập trung
quan tâm đến vấn đề chứng cứ, đó là cung cấp, thu thập, bảo quản, nghiên cứu,
đánh giá chứng cứ. Từ những hoạt động này các tình tiết, sự kiện của VADS sẽ
được làm sáng tỏ. Vì vậy, chứng cứ mang tính chất quyết định trong việc làm rõ
sự thật khách quan của VADS. Song như đã phân tích, tìm ra được sự thật khách
quan của VADS thì chỉ mới là tìm ra được căn cứ thực tiễn của VADS, còn để
giải quyết vụ án, các chủ thể còn phải căn cứ vào các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, dù theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì chứng minh trong TTDS cũng
đều được hiểu là một hoạt động tố tụng làm sáng tỏ sự thật khách quan của
VADS.
Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận, chứng minh trong TTDS là
hoạt động tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng theo quy định
của pháp luật TTDS làm rõ các tình tiết, sự kiện của VADS trên cơ sở các chứng
cứ, các căn cứ pháp lý và các lý lẽ, lập luận.
1.1.2. Khái niệm thực hiện và đảm bảo thực hiện quyền - nghĩa vụ
chứng minh của đƣơng sự trong TTDS
Các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và ban hành là để quản lý xã
hội, điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Tuy nhiên để đạt được mục đích này
thì nội dung của các quy phạm pháp luật phải được thực hiện trên thực tế bởi các chủ

nó phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể pháp luật hay nói cách khác đây là quyền của
các chủ thể pháp luật;
Thứ tư là áp dụng pháp luật, đây là hình thức luôn luôn có sự tham gia của
nhà nước. Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng tổ chức cho các chủ thể pháp
luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định
của pháp luật đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan
hệ pháp luật cụ thể.
Việc thực hiện pháp luật nói chung hay thực hiện các quyền và nghĩa vụ
chứng minh của các đương sự trong TTDS nói riêng là giai đoạn sau khi đã có các


14

văn bản pháp luật và nó là hoạt động hay là các hành vi của các chủ thể pháp luật
trong việc đưa nội dung quy định pháp luật vào trong đời sống, các hoạt động, hành
vi này mang tính mục đích của các chủ thể pháp luật. Ví dụ, đối với các đương sự
thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ tức là bằng hành vi mang chứng cứ
đến giao nộp cho tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của mình, còn đối với tòa án
thực hiện quyền và nghĩa vụ yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ thì bằng hành vi
ra văn bản yêu cầu, tống đạt văn bản yêu cầu của mình đến các đương sự để các
đương sự giao nộp chứng cứ nhằm làm sáng tỏ một tình tiết VADS nào đó phục vụ
cho việc giải quyết VADS được đúng đắn.
Qua khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật nói chung, vận dụng vào
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của các đương sự trong TTDS nói
riêng thì việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của các đương sự trong
TTDS vừa phụ thuộc vào nội dung của các quy định pháp luật TTDS về quyền và
nghĩa vụ chứng minh của đương sự, vừa phụ thuộc vào ý chí chủ quan, ý thức tuân
thủ của các chủ thể pháp luật TTDS. Đối với nội dung quy định pháp luật TTDS về
quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự nó phụ thuộc ở chỗ quy định pháp luật
đó cho phép hay không cho phép, bắt buộc hay không bắt buộc, cấm hay không cấm

theo quy định của pháp luật. Như vậy, giai đoạn này không phải trường hợp nào
cũng có, nếu như các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp chứng cứ ngay từ
đầu thì sẽ không có việc tòa án phải ra văn bản yêu cầu cung cấp chứng cứ và đương
nhiên không có việc xử lý theo quy định của pháp luật.
Như vậy, khái niệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương
sự trong TTDS là một hành vi hay một chuỗi hành vi có mục đích của các chủ thể
pháp luật TTDS nhằm đưa các quy định về quyền và nghĩa vụ chứng minh của
đương sự trong TTDS được áp dụng trên thực tế đời sống xã hội khi phát sinh các
quan hệ TTDS.
Từ khái niệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự
trong TTDS, có thể thấy việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của
đương sự trong TTDS không chỉ có ý nghĩa tạo sức sống cho các quy định của pháp
luật TTDS về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà còn là một tấm
gương phản chiếu lại tính phù hợp của các quy định pháp luật TTDS về quyền và
nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Khi các quy định về quyền và nghĩa vụ chứng
minh của đương sự trong TTDS được thực hiện trên thực tế sẽ bộc lộ ra những điểm
phù hợp và những điểm bấp cập, không phù hợp với đời sống xã hội. Từ đó các chủ
thể có thẩm quyền phát hiện ra dựa vào chính thực tiễn đó và kết hợp với các học
thuyết, lý luận đề xuất, kiến nghị các giải pháp sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ những nội
dung pháp luật không hợp lý, không phù hợp với thực tiễn, không có tính khả thi....
Với ý nghĩa của hoạt động chứng minh và việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
chứng minh của đương sự trong TTDS, vấn đề đặt ra là việc đảm bảo thực hiện
quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS trên thực tế. Nhằm đảm


16

bảo cho các đương sự thực hiện hoạt động chứng minh của mình một cách hợp pháp
và có hiệu quả thì cần phải có những giải pháp đồng bộ. Bên cạnh những quy định
cụ thể về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự được pháp luật ghi nhận cụ



17

đương sự và pháp luật nội dung liên quan đến VADS. Thứ hai là đảm bảo thực hiện
quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS Việt Nam từ góc độ áp
dụng pháp luật hay là thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, việc đảm bảo thực hiện còn bị phụ thuộc và ảnh hưởng bởi các yếu tố xã
hội khác như trình độ hiểu biết và năng lực chứng minh của đương sự, của đội ngũ
luật sư, phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể tham gia tố tụng....
Đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS
từ các quy định của pháp luật TTDS về hoạt động chứng minh của đương sự và pháp
luật nội dung liên quan đến VADS bao gồm: các quy định trong TTDS về quyền và
nghĩa vụ chứng minh phải rõ ràng, cụ thể khả thi, phù hợp với thực tiễn khách quan,
các quy định tạo cơ chế để đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh
của mình như cơ chế thu thập chứng cứ, cơ chế giao nộp chứng cứ, cơ chế được biết,
được sao chụp các chứng cứ, cơ chế yêu cầu luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho đương sự, cơ chế tranh tụng tại phiên tòa,...., các quy định tạo ra sự
khách quan, minh bạch trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS
từ góc độ áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm ý
thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và khả năng năng lực của cán bộ các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết VADS. Nhìn từ góc độ này thì để đảm
bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong TTDS, cần phải có
các quy định đảm bảo việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước một cách
khách quan, minh bạch. Các quy định của pháp luật nội dung liên quan đến VADS
như pháp luật về dân sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình, ... phải rõ ràng, cụ thể để
xác định chứng cứ gì là cần thiết và những vấn đề cần chứng minh, làm rõ những
tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Các quy định của pháp luật nội dung càng cụ thể

08/NQ-TW ngày 02-01-2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/06/2005
của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Bên cạnh đó, quy định quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong
TTDS Việt Nam còn đảm bảo được tính thực tiễn bởi các đương sự là những
người đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình, có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến VADS,
vì vậy họ thường chủ động và tích cực tham gia hoạt động chứng minh để chứng
tỏ sự tồn tại quyền lợi của mình, đồng thời các chủ thể này cũng là chủ thể của
các quan hệ dân sự là tiền đề dẫn tới VADS nên họ biết rõ nhất các tình tiết, các
sự kiện liên quan đến vụ án, có điều kiện tốt nhất trong việc xác minh, thu thập
và cung cấp chứng cứ cho tòa án. Do đó, hoạt động chứng minh trong TTDS
trước hết phải là quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Đây là điểm khác biệt căn
bản giữa TTDS và tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng


19

minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng hình
sự. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội.
Sự khác biệt này là hoàn toàn hợp lí, bởi trong TTDS, mối quan hệ cần giải
quyết là quan hệ dân sự giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với nhau, mà bản
chất của các quan hệ dân sự là sự thỏa thuận của các bên, do đó các bên có
quyền tự định đoạt cách thức giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Khác với
TTDS, mối quan hệ cần giải quyết trong tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa nhà
nước và kẻ phạm tội, trong đó kẻ phạm tội là kẻ đã có hành vi gây nguy hiểm
cho xã hội, cho cộng đồng, mà nhà nước là chủ thể có chức năng bảo vệ xã hội
và cộng đồng. Với chức năng đó, nhà nước, thông qua các cơ quan tiến hành tố
tụng của mình, phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm để đảm bảo trật tự kỉ
cương xã hội, đảm bảo lợi ích của cộng đồng.

Đặc biệt, các VADS phát sinh từ những tranh chấp dân sự, các tranh chấp
dân sự phát sinh từ các quan hệ dân sự. Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự
là tự do, tự nguyện, bình đẳng. Cụ thể, trong Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định
về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận:
“Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự
được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm
của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn
toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn
cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối
với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.” (Điều
4); nguyên tắc bình đẳng: “Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng,
không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn
cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử
không bình đẳng với nhau.” (Điều 5); Nguyên tắc thiện chí, trung thực: “Trong
quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào.” (Điều 6);
Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự “(1) Tất cả các quyền dân sự của cá
nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. (2)
Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo
vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:
a) Công nhận quyền dân sự của mình; b) Buộc chấm dứt hành vi vi phạm; c)
Buộc xin lỗi, cải chính công khai; d) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; đ) Buộc
bồi thường thiệt hại” (Điều 9).

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tại khoản 1 Điều 2 quy định
về nguyên tắc cơ bản của chế độ HNGĐ: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ,
một chồng, vợ chồng bình đẳng.”
Trong Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 7 quy định: “Quan hệ
lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động
được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự


Với nguyên tắc này, các đương sự có toàn quyền quyết định giới hạn,
quyết định việc thay đổi phạm vi giải quyết VADS, tòa án chỉ giải quyết trong
phạm vi nội dung yêu cầu của đương sự. Từ đó, việc thu thập, cung cấp, nghiên
cứu, phân tích chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của VADS cũng được giới
hạn trong phạm vi yêu cầu, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự. Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có quyền
và nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị đơn
đưa ra yêu cầu phản tố hoặc phản bác đối với yêu cầu của nguyên đơn thì họ có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status