MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2005. Có thể nói, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển của ba
Pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989;
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động năm 1996, đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp
của nhiều nước trên thế giới. Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định về trình
tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, trong đó có các quy định về quyền khởi
kiện và bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của đương sự.
Vấn đề quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện là vấn đề luôn được các
nhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới quan tâm.
Xét ở Việt Nam hiện nay thì các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta
về cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này. Tuy nhiên, về phương diện lý luận
thì nhiều vấn đề về quyền khởi kiện và bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện cũng chưa
được giải quyết triệt để. Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cũng cho thấy, trong nhiều
trường hợp, quyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng một cách đúng
mức. Một số quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện được quy định
trong BLTTDS còn chung chung, thiếu tính cụ thể dẫn tới những khó khăn, vướng
mắc trong việc áp dụng hoặc dẫn tới những cách hiểu và vận dụng khác nhau. Đây
chính là một trong những nguyên nhân của việc “tùy tiện chủ quan” trong việc áp
dụng pháp luật, làm cho quyền khởi kiện vụ án dân sự của đương sự không được bảo
đảm thực hiện trên thực tế. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng cho thấy một số quy định
của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của việc
bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự. Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn
diện, sâu sắc về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện cả về phương diện lý
luận, lập pháp và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp
luật, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền khởi kiện là một việc làm cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Quyền khởi kiện và
1
2
trong tố tụng dân sự Việt Nam" làm luận văn thạc sỹ của mình. Đây là đề tài đầu
tiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về quyền khởi kiện và đảm bảo
quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự.
3. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như
nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền
khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa
hợp lý trong các quy định hiện hành về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện
của đương sự. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ việc bảo đảm thực
hiện quyền khởi kiện trên thực tế. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn
sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện đồng thời nâng cao hiệu quả
của việc bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi
kiện trong tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có liên quan
tới quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện và thực tiễn áp dụng chúng tại các
Toà án. Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của pháp
luật về quyền khởi kiện cũng như bảo đảm quyền khởi kiện;
- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sẽ không đi sâu nghiên cứu việc bảo
đảm giải quyết theo đúng pháp luật và bản chất sự việc, có nghĩa là không xét tới việc
giải quyết về nội dung của yêu cầu khởi kiện mà chỉ tập trung nghiên cứu việc bảo
về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền khởi kiện nhằm
chỉ ra thực trạng bảo đảm quyền khởi kiện cũng như những bất cập, vướng mắc trong
4
việc thực hiện pháp luật.
Thứ ba: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất những giải
pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi
kiện, nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền khởi kiện trên thực tế.
Thứ tư: Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho
giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan
đến việc khởi kiện, bảo đảm quyền khởi kiện. Ngoài ra, luận văn sẽ là tài liệu tham
khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật về
quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cầu
bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện
trong tố tụng dân sự
Chương 2: Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện theo pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền
khởi kiện trong tố tụng dân sự và kiến nghị
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện
trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự
Chúng ta thấy rằng trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời
thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp luật của
phán quyết định xem xét yêu cầu như vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với
bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền được tranh luận về căn cứ của yêu cầu
do bên kia đưa ra”[8, tr.23].
Ở Việt Nam, về phương diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho
rằng “tố quyền tức là có quyền đi kiện”[8, tr.23]. TS. Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng
định trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng
“Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ
chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của
tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm” [19,
tr.109-110]. Khái niệm này dường như không đề cập tới các việc không có tranh chấp
nhưng nghiên cứu về khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [19, tr.6-7], Điều
1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án
thì có thể khẳng định trong khái niệm trên quyền khởi kiện được thực hiện đối với cả
các việc dân sự không có tranh chấp.
Kết quả nghiên cứu về quyền khởi kiện trong luật thực định Việt Nam cho thấy
quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện
ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Trên cơ sở quy
định của Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hoá và ghi nhận quyền khởi kiện của
đương sự. Cụ thể là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nội
dung và pháp luật tố tụng.
7
Tiếp tục nghiên cứu về lý luận cho thấy, trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS) năm 2004 ra đời thì quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng và
đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay.
Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng
quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp
lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Tuy
nhìn này cần phát triển khái niệm về quyền khởi kiện theo hai góc độ, theo nghĩa hẹp
quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo
nghĩa rộng thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên
đơn, quyền phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn và quyền yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do họ đã không thực hiện quyền
yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vụ án.
- Xét theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện là quyền của nguyên đơn trong việc yêu
cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hay bị vi phạm:
Quyền khởi kiện của nguyên đơn là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của
chủ thể có quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền
này sẽ làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án. Xét về thực chất thì đây là quyền của
chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm trong việc bắt đầu việc kiện để bảo vệ quyền lợi
của mình, thông qua việc đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự. Đó
là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Chính
việc khởi kiện của của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố
tụng dân sự, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự thì
không có quá trình tố tụng tiếp theo. Như vậy, việc xác định quyền khởi kiện của
nguyên đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự khi
họ tham gia tố tụng tại Tòa án.
- Xét theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện bao hàm cả quyền yêu cầu Toà án bảo
vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyên đơn có quyền khởi kiện và bị đơn có quyền phản bác việc khởi kiện của
9
nguyên đơn. Bên cạnh đó, quyền phản tố của bị đơn cũng cần được pháp luật ghi nhận.
Điều này xuất phát từ sự bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của
mình. Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến
nhau thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và yêu cầu này có
thể được Toà án xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyên đơn khi
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác sau khi vụ án đã phát sinh tại Tòa án. Theo
nghĩa này thì quyền khởi kiện còn thuộc về bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan dưới hình thức là quyền phản tố hoặc quyền đưa ra yêu cầu độc lập.
Theo góc nhìn này, bản luận văn sẽ đề cập tới việc bảo đảm quyền khởi theo
nghĩa rộng bao hàm cả quyền khởi kiện của nguyên đơn theo nghĩa đích thực của từ
“khởi kiện” và quyền phản tố hay quyền khởi kiện ngược lại của bị đơn, quyền có yêu
cầu độc lập hay quyền khởi kiện chống lại nguyên đơn, bị đơn hay chống cả nguyên
đơn, bị đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để bảo vệ
quyền lợi của mình khi mà vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thiết lập.
1.1.2. Khái niệm về bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự
Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1998 thì “bảo đảm” nghĩa
là “ làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần
thiết” [11, tr.36]. Như vậy “bảo đảm” nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thể thực
thi trên thực tế. Để làm được cho một vấn đề nào đó có tính khả thi thì đòi hỏi phải có
một cơ chế phù hợp với từng vấn đề cần thực hiện.
Bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự nghĩa là tổng thể các biện pháp,
các cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cần thiết cho đương sự có thể thực hiện quyền
khởi kiện như hoạt động trợ giúp pháp lý cho đương sự, đơn giản và minh bạch hóa
về thủ tục khởi kiện, miễn, giảm án phí…đồng thời việc bảo đảm này còn được thực
hiện thông qua chính các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án,
Viện kiểm sát. Chính các biện pháp và cơ chế này là cơ sở bảo đảm tính khả thi của
quyền khởi kiện, là cơ sở để quyền khởi kiện được thực hiện một cách có hiệu quả
trên thực tế nhằm bảo vệ các quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao
động đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Qua những phân tích trên chúng ta có thể kết luận là bảo đảm quyền khởi kiện
trong tố tụng dân sự nghĩa là làm cho các chủ thể có quyền khởi kiện có đủ những
11
điều kiện cần thiết, chắc chắn để thực hiện được trên thực tế quyền khởi kiện nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thông qua các biện pháp được
xác định.
khởi kiện, thiết lập cơ chế hỗ trợ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự thực
hiện quyền khởi kiện, bảo đảm thông qua các quy định về thể chế và thủ tục liên quan
tới hoạt động tố tụng dân sự của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát mà quyền khởi
kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ được thực thi trên thực tế.
1.2. Cơ sở của quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa quyền lợi và việc bảo
vệ quyền lợi. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu thì quyền khởi kiện có thể được
phân tích như một quyền lợi trong thể động, khi quyền lợi còn được tôn trọng, không
bị phủ nhận, chưa phải đem ra Toà thì quyền lợi còn ở trong thể tĩnh. Quyền lợi chỉ có
thể là căn nguyên của tố quyền chứ không thể sáp nhập với tố quyền [12, tr. 36, 40].
Theo góc nhìn này thì pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ các quyền về dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của các chủ thể. Để các
quyền lợi hợp pháp trên được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì pháp luật cần phải
trao cho những chủ thể có quyền lợi bị xâm hại hay tranh chấp này một phương tiện
để bảo vệ quyền lợi của mình nhằm thiết lập lại trật tự của các quan hệ pháp luật nội
dung đang bị xáo trộn.
Vậy tại sao cần phải ghi nhận cho các chủ thể nói trên có quyền khởi kiện mà
không trao quyền này cho các cơ quan công quyền như Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát. Điều này có thể lý giải từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn
nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được thiết lập. Các quan hệ pháp
luật nội dung này được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận và tự định đoạt của các chủ thể và chính bản thân họ là những chủ thể có
lợi ích tài sản hoặc nhân thân trong các quan hệ này. Quan hệ pháp luật nội dung là cơ
sở để xác định có sự vi phạm thỏa thuận hay vi phạm các quy định của pháp luật, là
căn cứ để xem xét chủ thể có hành vi vi phạm và chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm. Do vậy, việc ghi nhận quyền khởi kiện thuộc về các chủ thể của quan
hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, vi phạm là hoàn toàn cần thiết và hợp lý.
13
Cũng xuất phát từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nên trong tố tụng dân sự thì các đương sự
nội dung đã vi phạm quyền lợi hoặc có tranh chấp với mình.
Thông thường để xác định quyền khởi kiện được thực hiện đối với ai thì phải
dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là quan hệ sở hữu, quan hệ hợp
đồng, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay quan hệ thừa kế...v.v. Riêng
đối với những tranh chấp về quyền sử dụng đất thì cần phải xác định được bản chất
của quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng
đất (thực chất là tranh chấp quyền sử dụng đất hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị
người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới) hay tranh chấp về các hợp đồng chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử
dụng đất; tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất để xác định cụ thể việc khởi kiện có
thể thực hiện được đối với chủ thể nào. Có thể nhận thấy đối với các loại tranh chấp
này, người có hành vi xâm phạm đến quyền của chủ sử dụng đất như lấn chiếm đất
trái phép, vi phạm nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng về quyền sử dụng đất như không
thực hiện đúng các quy định pháp luật về hình thức, không thanh toán tiền đúng hạn,
không chuyển giao tài sản… đều có thể trở thành chủ thể bị kiện nếu người sử dụng
đất hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện của họ.
1.3. Các bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự
1.3.1. Tính hợp lý của các điều kiện khởi kiện – Bảo đảm cần thiết để đương
sự không bị hạn chế hoặc mất quyền khởi kiện
* Điều kiện về chủ thể và vấn đề bảo đảm quyền khởi kiện
Chủ thể muốn thực hiện việc khởi kiện thì phải có năng lực pháp luật tố tụng
dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là một
phạm trù có liên quan đến yếu tố chủ quan như khả năng nhận thức, khả năng hành
động, ý chí và lý trí, là khả năng của đương sự trong việc tự mình thực hiện quyền,
nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng.
Đối với cá nhân thì năng lực hành vi tố tụng của họ được xác định trên cơ sở khả
năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân trong việc tham gia vào
quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc quy định điều kiện về năng lực hành vi của cá
15
nhân để họ có thể tự mình thực hiện việc khởi kiện là nhằm bảo đảm cho người có
cách triệt để, tiết kiệm, nhanh chóng nhất và thông thường Nhà nước không phải sử
dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó. Xét về mặt kinh tế, hòa giải
thành trước khi khởi kiện có ý nghĩa rất lớn, các bên sẽ tránh được việc kiện tụng kéo
dài, gây hao tiền, tốn của và Toà án cũng không mất thời gian, sức lực cho việc giải
quyết vụ kiện. Tuy nhiên, theo góc nhìn đã phân tích ở trên thì việc coi hoà giải tiền tố
tụng là một điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà án cũng là điều cần phải cân
nhắc thận trọng. Cần phải đảm bảo hài hoà giữa quyền khởi kiện và lợi ích của việc
hoà giải tiền tố tụng.
* Điều kiện về sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định và
việc ghi nhận quyền khởi kiện lại của đương sự
Về lý luận thì một vụ án đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa.
Cách quy định này hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ việc đảm bảo hiệu lực của các bản án,
quyết định của Tòa án, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội, tránh tình trạng
chồng chéo, cùng một sự việc mà có nhiều cơ quan cùng giải quyết và quyết định.
Tuy nhiên, nếu quy định trên là một quy định cứng nhắc, thiếu tính mềm dẻo thì
quyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng và bảo đảm đúng mức. Do vậy,
pháp luật cũng cần có những quy định về các trường hợp ngoại lệ mà người có quyền
lợi bị vi phạm vẫn có thể có quyền khởi kiện lại. Chẳng hạn như trường hợp bản án,
quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn; yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức
cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại...v.v. Chính các ngoại lệ này là đã tạo thêm cơ hội
cho họ thực hiện tốt hơn quyền khởi kiện của mình và qua đó khả năng bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng con đường tố tụng được nâng lên. Do đó, việc ghi
nhận quyền khởi kiện lại của đương sự trong những trường hợp nhất định cũng chính là
một trong những phương thức bảo đảm quyền khởi kiện hữu hiệu.
* Sự mềm dẻo trong các quy định về thời hiệu khởi kiện – Một bảo đảm cần thiết
của quyền khởi kiện
Trong các giao dịch dân sự, chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hưởng các
quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Sự ổn định của các quan hệ dân sự là một
trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Ngoài ra, xét về góc độ tố
Thực tiễn tư pháp và bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền khởi kiện)
18
trên thế giới chỉ ra rằng, hoạt động TGPL có tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo
đảm và thực hiện các quyền con người. Ở nước ta, theo Chỉ thị số 12 – CT/TƯ ngày
12/7/1992 của Ban Bí thư TW Đảng khóa VII về “vấn đề quyền con người và quan
điểm, chủ trương của Đảng ta”, thì cơ chế bảo đảm quyền con người là tổng thể các
chính sách và biện pháp mà Nhà nước và xã hội thực hiện để các quyền con người
trong mọi điều kiện – hoàn cảnh được thực thi trên thực tế phù hợp với điều kiện
chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước [53, tr. 40].
Ghi nhận quyền được TGPL là sự giúp đỡ, hỗ trợ pháp lý của các cá nhân, tổ
chức khác như luật sư, nhân viên của các Trung tâm TGPL hoặc tổ chức xã hội đối
với việc tham gia tố tụng của các đương sự sẽ giúp đương sự khắc phục được nhận
thức không đầy đủ về pháp luật, xử sự lúng túng khi tham gia tố tụng do thiếu hiểu
biết pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng. Ngoài ra, sự hỗ trợ pháp lý của các cá
nhân, tổ chức khác đối với đương sự còn tạo được sự cân bằng trong việc tham gia tố
tụng giữa các bên đương sự nhất là trong những VADS điều kiện tham gia tố tụng của
các đương sự khác nhau như đương sự là cá nhân với đương sự là cơ quan Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội.
Ghi nhận và thực hiện quyền được TGPL là một sự bảo đầu đảm tiên của nhà
nước trong việc tạo cơ chế hỗ trợ cho đương sự có thể thực hiện quyền khởi kiện
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, duy trì trật tự xã hội, khắc phục
tình trạng thờ ơ, mất niềm tin vào pháp luật.
- Đơn giản hóa và minh bạch hóa các quy định về đơn kiện và chứng cứ, tài liệu
nộp kèm theo đơn kiện
Vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện
của mình bằng cách nộp đơn. Đơn khởi kiện ở khía cạnh nào đó chính là thể hiện mối
quan hệ thủ tục giữa Tòa án và người dân. Do đó, thực hiện chiến lược cải cách các
loại thủ tục thì quy định về hình thức, nội dung đơn kiện, chứng cứ kèm theo phải rõ
ràng không gây khó khăn hoặc gây phiền hà cho người khởi kiện thực hiện quyền
khởi kiện. Pháp luật cần quy định một cách hợp lý các chứng cứ, tài liệu mà đương sự
chủ thể kế thừa quyền khởi kiện và cũng là nhằm bảo đảm quyền khởi kiện sẽ được
tiếp tục thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
20
- Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu
cầu liên quan độc lập và tính hợp lý của thời điểm thụ lý vụ án
Vụ án dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở có yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Dựa
trên nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, nguyên đơn hoàn toàn có quyền thay đổi,
bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình. Vì suy cho cùng, VADS do Tòa án thụ lý giải
quyết là nhằm đạt đến mục đích và nguyện vọng của nguyên đơn, giải quyết mối bất
hòa trong quan hệ của các bên. Tuy nhiên, xét trên phương diện lý luận nhà nước và
pháp luật: quyền luôn đi liền với nghĩa vụ. Hay nói khác đi, mặc dù có quyền thay
đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng nó phải đặt trong lợi ích của các chủ thể khác,
bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ
liên.
Nếu chúng ta coi nguyên đơn có quyền khởi kiện để làm phát sinh VADS nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích của mình với vai trò chủ động thì cũng phải ghi nhận quyền
phản tố (kiện ngược lại) của bị đơn. Tuy nhiên, quyền phản tố này phải được thực
hiện trong mối liên hệ với bảo đảm quyền bảo vệ, quyền tranh tụng của nguyên đơn
và để nguyên đơn có thể chủ động chuẩn bị chứng cứ, tài liệu nhằm bảo vệ mình và
phản bác lại yêu cầu bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù không chủ động đi kiện nhưng
việc giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì có thể ảnh hưởng tới quyền,
lợi ích của họ. Để giải quyết vụ án toàn diện, triệt để đòi hỏi cần thiết có sự tham gia
của người thứ ba này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ghi nhận,
quyền đưa ra yêu cầu độc lập là điều kiện để bảo đảm quyền yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của họ.
Thời điểm thụ lý vụ án là căn cứ để xác định các thời hạn giải quyết vụ án dân sự.
Các đương sự bình đẳng trước Toà án trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, do vậy,
pháp luật phải đảm bảo sự công bằng ngay trong các quy định về thời hạn xem xét giải
quyết các yêu cầu. Do vậy, việc quy định thời điểm thụ lý vụ án không chỉ căn cứ vào
cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định
tại Điều 74 Hiến pháp 1992. Ghi nhận quyền khiếu nại của đương sự đối với các
22
quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền
khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự vì thông qua đó đương sự có thể yêu cầu
cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý các quyết định, hành vi tố
tụng trái pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, cũng như thiết lập cơ chế xem xét lại
bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục đặc biệt là quy
trình tố tụng khoa học và tiến bộ nhằm cho phép các chủ thể có thể kháng cáo, kháng
nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án, thể hiện tính dân chủ trong tố tụng, bảo
đảm và tạo cơ hội để quyền khởi kiện của đương sự thực thi có hiệu quả.
Trả lại đơn kiện hay đình chỉ vụ án không đúng sẽ làm cho quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự không được Toà án xem xét đến và quyền khởi kiện sẽ không
được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Do đó, để bảo đảm quyền khởi kiện trong những
trường hợp này thì pháp luật cần phải ghi nhận quyền khiếu nại của đương sự đối với
hành vi trả lại đơn kiện của Tòa án và quyền kháng cáo của đương sự, kháng nghị của
Viện kiểm sát đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án. Trên cơ sở các
quyền này người có thẩm quyền, Tòa án cấp trên sẽ xem xét lại tính đúng đắn của
việc trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định đình chỉ giả quyết vụ án.
1.3.3. Bảo đảm quyền khởi kiện thông qua hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng
- Sự độc lập, khách quan của Tòa án – Bảo đảm cần thiết để thực thi quyền khởi
kiện
Tính độc lập, khách quan của Tòa án là điều không thể thiếu để bảo đảm quyền
khởi kiện. Pháp luật ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự nhưng nếu như Toà án -
chủ thể có thẩm quyền xem xét để chấp nhận hay bác bỏ quyền này không độc lập
hoặc người tiến hành tố tụng không vô tư, khách quan thì việc ghi nhận quyền khởi
kiện cũng chỉ là trên giấy tờ mà không được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Sự độc
pháp lý hay đình chỉ giải quyết vụ án ngoài những trường hợp luật định cũng phải
được coi là đã xâm phạm đến quyền khởi kiện của đương sự. Do vậy, để đánh giá về
quyền khởi kiện có được bảo đảm thực hiện hay không thì ngoài việc căn cứ vào quy
định của pháp luật cần phải xét đến hoạt động tố tụng cụ thể của Toà án trong việc thụ
lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện hay đình chỉ giải quyết vụ án.
24
Do tính chất nghiêm trọng của vấn đề trả lại đơn kiện hay đình chỉ giải quyết vụ
án không đúng nên pháp luật cần quy định chặt chẽ, rõ ràng về căn cứ của các hoạt
động này. Ngoài ra, để hạn chế và phòng ngừa những trường hợp từ chối thụ lý hay
đình chỉ giải quyết vụ án không đúng thì pháp luật cũng cần ràng buộc trách nhiệm
của Tòa án và người tiến hành tố tụng trong những trường hợp nói trên bằng những
chế tài nhất định. Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết VADS cần phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường
hợp người có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật,
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
1.4. Lược sử các quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.4.1 Thời kỳ trước cách mạng Tháng 8 năm 1945
Không phải đến pháp luật hiện hành mới có các quy định về quyền khởi kiện và
bảo đảm quyền khởi kiện. Cổ luật Việt Nam đã có những quy định về quyền khởi
kiện cũng như thủ tục thực hiện quyền khởi kiện trong Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật
Gia Long. Cổ luật Việt Nam không phân biệt các vụ kiện về dân sự hay hình sự, tất cả
các hành vi vi phạm pháp luật đều bị các chế tài về hình sự kể cả những vụ việc mà
ngày nay chúng ta coi chỉ có tính chất dân sự. Cổ luật không có những quy định trực
tiếp về quyền khởi kiện. Tuy nhiên, từ những quy định về luật hình thức và thủ tục
thực hiện đơn kiện và đơn tố cáo có thể cho chúng ta biết Cổ luật Việt Nam đã có
những quy định về quyền khởi kiện.
Căn cứ để khởi kiện là các hành vi phạm tội được ghi nhận trong luật Hồng Đức
và Luật Gia Long. Người đứng đơn khởi kiện được gọi là nguyên cáo, là người có