BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
QUYỀN YÊU CẦU, THAY ĐỔI, BỔ SUNG VÀ
RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN MINH HẰNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
Vụ án dân sự
: VADS
Việc dân sự
: VDS
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
: NCQLNVLQ
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN YÊU CẦU,
1
THAY ĐỔI, BỔ SUNG VÀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƢƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
7
1.1. Khái niệm quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương
sự trong tố tụng dân sự
7
2.3. Quyền rút yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự
44
Chƣơng 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN YÊU CẦU, THAY
ĐỔI, BỔ SUNG VÀ RÚT YÊU CẦU CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
49
3.1. Bất cập xuất phát từ việc thực thi pháp luật của các chủ thể về quyền
yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
49
3.2. Vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện quyền yêu cầu, thay
đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS và kiến nghị
53
KẾT LUẬN
68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
tố tụng tại Tòa án, trong nhiều trường hợp, quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu
cầu của đương sự cũng không được tôn trọng một cách đúng mức.
Với mong muốn nghiên cứu hệ thống, toàn diện các vấn đề về lý luận, nội dung
pháp luật thực định của quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
trong TTDS và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, từ đó tìm hiểu các giải pháp
góp phần khắc phục hạn chế còn tồn tại, học viên đã chọn đề tài “Quyền yêu cầu, thay
đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” để nghiên
cứu làm Luận văn Thạc sỹ luật học của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS Việt
Nam là một nội dung quan trọng của quyền tự định đoạt của đương sự. Từ khi
BLTTDS 2004 có hiệu lực và được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cho đến nay đã có một
số công trình nghiên cứu về vấn đề này, đó là: khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng
Thị Tuyết Trinh “Quyền yêu cầu và thay đổi yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân
sự” (2010), khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lệ “Quyền yêu cầu, thay
đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong tố tụng dân sự” (2011). Nhìn chung ở
cả hai công trình, các tác giả đều đã nêu được một số vấn đề lý luận cơ bản, các quy
định của pháp luật thực định, đồng thời phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng từ đó đề
xuất giải pháp khắc phục những vướng mắc. Tuy nhiên, do giới hạn dung lượng nên cả
hai khóa luận chỉ mới dừng lại nghiên cứu khái quát tổng quan về nội dung vấn đề
quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS.
Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập một phần
nội dung của quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS
Việt Nam, chẳng hạn: bài viết “Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng
dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương (Tạp chí Tòa án nhân dân số tháng 11/2009),
bài viết “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần
Anh Tuấn (tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2008), bài viết“Giải quyết việc nguyên đơn
đề cập đến quyền yêu cầu ở cấp phúc thẩm để đảm bảo tính tổng quát của vấn đề
nghiên cứu mà không đi sâu nghiên cứu.
4. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đề tài, việc nghiên cứu được tiến hành
dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề
4
tài, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác
như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh;
phương pháp thống kê. Cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong toàn bộ 03 chương của Luận
văn. Tại chương I, tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích khái niệm, ý nghĩa của
việc ghi nhận quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS
Việt Nam. Ở chương II, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để xem xét, bóc tách các
quy định của pháp luật hiện hành về quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của
đương sự trong TTDS. Trong chương III, khi nghiên cứu những bất cập, hạn chế của
pháp luật hiện hành về quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
trong TTDS, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ hơn những vướng mắc
này, từ đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật về quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS.
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để so sánh quy định của pháp luật
Việt Nam liên quan đến quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
trong TTDS qua các thời kỳ lịch sử, từ đó cho thấy được sự tiến bộ và kế thừa của pháp
luật ở từng giai đoạn.
Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng khi thống kê số liệu về tính hình thụ
lý, kết quả giải quyết và việc áp dụng quy định về quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút
đề này;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện Pháp luật TTDS Việt Nam
về quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự trong TTDS.
6. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Trên cơ sở các quan điểm về hoàn thiện pháp luật nói chung, Pháp luật TTDS
nói riêng, kết quả nghiên cứu lý luận nhằm xây dựng và luận giải rõ về nội hàm khái
niệm quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong TTDS Việt Nam
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về các quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung,
rút yêu cầu của đương sự. Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện những quy định của
pháp luật TTDS về các quyền của đương sự trong TTDS.
Đề tài là công trình nghiên cứu nhìn nhận đầy đủ về lý luận, thực tiễn liên quan
đến quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong TTDS. Đề tài
được ứng dụng sẽ tạo ra sự nhanh chóng, tiết kiệm cho hoạt động xét xử các VVDS,
góp phần bảo vệ lợi ích của đương sự, cho hệ thống các Tòa án của Việt Nam. Bên
cạnh đó, theo đề án về việc cải cách cơ cấu của ngành Tòa án tại Nghị Quyết số 49 -
6
NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, trong thời gian tới sẽ có 4 cấp tòa án được thành lập. Do vậy, việc xác định rõ
quyền của đương sự trong TTDS sẽ là tiền đề cho việc phát triển mô hình Tòa khu vực,
đồng thời phát triển mô hình tố tụng tranh tụng trong tương lai.
- Về thực tiễn: Luận văn có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập
và ứng dụng thực tiễn.
7. CƠ CẤU LUẬN VĂN
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu bởi ba chương, 9 tiết
gia tố tụng theo yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
8
mình. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền đưa ra yêu cầu của mình, kể cả là yêu
cầu đó chống lại cả nguyên đơn và bị đơn.
Ngoài đương sự trong VADS, còn phải kể đến đương sự trong VDS bao gồm người
yêu cầu và người có liên quan đến yêu cầu. Người yêu cầu trong VDS là người đưa ra yêu
cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi
hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động; công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động. Người liên quan trong VDS là người tham gia vào quá trình
giải quyết VDS theo yêu cầu của người yêu cầu, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình hoặc để trả lời về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ.
Xuất phát từ lợi ích của đương sự, pháp luật đã quy định các quyền tố tụng của
đương sự. Theo Từ điển Tiếng Việt, quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công
nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [45,tr. 815]. Trong khoa học pháp lý,
quyền được dùng để chỉ “những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện
đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà
không ai được ngăn cản, hạn chế” [2, tr 648]. Như vậy, có thể nói quyền là yếu tố quan
trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyền là phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây
dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Quyền được ghi nhận về pháp lý và
được bảo đảm thực hiện bởi các quy định pháp luật, đồng thời phải có sự thừa nhận trên
phương diện xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời
sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định.
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “Tố tụng” là việc thưa kiện, còn “tố
tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng [2, tr302]. Trong
sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, giải thích rõ ràng hơn “tố tụng” là vạch tội và đưa ra
cửa công để phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội, chữ “tụng” là “thưa kiện ở cửa
Theo Từ điển Tiếng Việt, yêu cầu là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn
người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả
năng của người ấy” hay là “điều cần phải đạt được trong một việc nào đó” [45,
tr.1169]. Yêu cầu của đương sự được hiểu là “những điều mà đương sự đưa ra trong
quá trình tố tụng, mong muốn tòa án xem xét, giải quyết” [71, tr. 877]. Yêu cầu của
đương sự là sự thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS. Yêu cầu của
đương sự bao gồm yêu cầu về nội dung (yêu cầu trả nợ, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại
về tài sản, yêu cầu chia thừa kế…) và yêu cầu về tố tụng (yêu cầu thay đổi người tiến
10
hành tố tụng, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, yêu cầu Tòa án thu thập
chứng cứ…) [71, tr.878].
Quyền yêu cầu của đương sự là quyền TTDS cơ bản được pháp luật ghi nhận và
đảm bảo thực hiện các quyền của đương sự đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức. Theo đó
cho phép các chủ thể này được phép đưa ra, đề nghị, đòi hỏi Tòa án xem xét, giải quyết
VVDS theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Đây là một trong những quyền rất
cơ bản của đương sự trong TTDS, được ghi nhận ngay tại Điều 4 BLTTDS 2004 về
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp – một trong những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật TTDS.
Theo nghĩa hẹp, quyền yêu cầu của đương sự chính là quyền khởi kiện của
đương sự được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm quyền khởi kiện VADS của nguyên đơn
và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết VDS của người có yêu cầu, quyền đưa ra yêu cầu
phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu của NCQLNVLQ.
BLTTDS 2004 đã phân biệt rõ ràng giữa VADS và VDS. Theo đó, VADS được
hiểu là những vụ có tranh chấp về quyền lợi giữa các bên đương sự, còn VDS là việc cá
nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các đương
sự. Chính vì vậy, khi đương sự đưa ra yêu cầu của mình, tùy từng tính chất của VVDS
mà đương sự có quyền khởi kiện đối với VADS hoặc có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
tham gia tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện VADS nhưng do VADS đã
xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp
khó khăn [62, tr.108].
Xét theo nghĩa rộng, quyền yêu cầu của đương sự bao hàm quyền khởi kiện
VADS của nguyên đơn và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết VDS của người có yêu cầu,
quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền đưa ra yêu cầu của NCQLNVLQ kèm
theo các quyền yêu cầu khác ghi nhận tại Điều 58 BLTTDS sửa đổi [30].
Xuất phát từ quyền yêu cầu của đương sự theo nghĩa hẹp, pháp luật còn quy định
cho đương sự có một số quyền yêu cầu khác, bao gồm: quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình
để giao nộp cho Tòa án; quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của
vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm
chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; quyền yêu cầu Tòa án quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyền yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS; quyền yêu cầu
12
Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; đề nghị người có
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy
định của BLTTDS [30].
* Về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu giao lưu, trao đổi càng được mở rộng. Khi
các quan hệ xã hội trở nên phong phú đa dạng tất yếu phát sinh nhiều tranh chấp, từ đó
dẫn đến nhu cầu giải quyết tranh chấp của các bên chủ thể tham gia quan hệ. Để giải
quyết tranh chấp, các đương sự thường chọn giải pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
xét xử là Tòa án thụ lý, xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không phải
và sẽ gây khó hiểu khi áp dụng. Nói cách khác, bổ sung yêu cầu chính là một trường
hợp của thay đổi yêu cầu.
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu cũng cũng là một nội dung thể hiện quyền tự
định đoạt của đương sự trong TTDS, giúp đương sự thực hiện tốt hơn quyền tự chủ đối
với các yêu cầu của mình và tạo điều kiện cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình một cách tốt nhất. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp và với
mọi yêu cầu đương sự đều có thể thay đổi và bổ sung được mà quyền thay đổi, bổ sung
yêu cầu của đương sự luôn có giới hạn luật định. Vì vậy, đương sự cũng cần hiểu rõ
phạm vi quyền của mình để thực hiện cho đúng, tránh tình trạng lạm quyền dẫn đến
việc giải quyết VVDS trở nên khó khăn, phức tạp và mất thời gian.
* Về quyền rút yêu cầu của đương sự
Theo khoa học pháp lý, rút yêu cầu là “việc đương sự từ bỏ một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu mình đã đưa ra” [71]. Ngay trong khái niệm rút yêu cầu đã chỉ ra rất rõ hai
trường hợp rút yêu cầu là từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu. Việc từ bỏ một phần
yêu cầu có nghĩa là ban đầu đương sự đưa ra nhiều yêu cầu sau đó rút đi một hoặc một
số yêu cầu, những yêu cầu còn lại đương sự vẫn mong muốn Tòa án giải quyết. Còn
việc từ bỏ toàn bộ yêu cầu có thể hiểu đây là trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện
hoặc rút kháng cáo hoặc đương sự rút yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời, rút yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Rút đơn
khởi kiện VADS là “người khởi kiện thu lại đơn khởi kiện VADS đã gửi Tòa án” [71],
rút kháng cáo là “hoạt động tố tụng thu lại kháng cáo đã gửi Tòa án của người kháng
cáo” [71, tr662]. Rút yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và rút yêu
cầu thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng thuộc trường hợp rút một phần yêu
cầu vì yêu cầu chính ban đầu của họ vẫn đang giải quyết, các yêu cầu này chỉ áp dụng
14
để bổ sung cho yêu cầu chính, giúp đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình một cách tốt nhất. Hai trường hợp rút một phần yêu cầu và rút toàn bộ yêu cầu
quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị người
khác xâm phạm” [71, tr. 650].
Dựa trên nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS, pháp luật trao
cơ hội như nhau cho các đương sự trong VVDS trong việc chứng minh, bảo vệ quyền
lợi của mình. Nếu bên này được đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình thì bên kia cũng có quyền đưa ra yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Điều này giúp cho đương sự chống lại sự thiếu trung
thực, gian lận hay thiếu thiện chí của bên đối phương vì thực tế có nhiều trường hợp
bên nguyên đơn cố tình đưa ra yêu cầu khởi kiện không đúng với thực tại khách quan
nhằm gây ảnh hưởng xấu và xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của bên bị đơn.
Việc ghi nhận quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự còn
giúp đương sự lựa chọn được một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp và hiệu
quả, đó là khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Đồng thời, việc đương sự nắm rõ và chủ động trong việc thực hiện quyền yêu
cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự còn có ý nghĩa chống lại sự lạm
quyền, thiên vị hay sai sót của hệ thống Tòa án.
* Đối với cơ quan tiến hành tố tụng
Khi ghi nhận quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự, các
cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là Tòa án có thẩm quyền xét xử có thể có được cơ sở
pháp lý quan trọng để tiến hành các thủ tục tố tụng nhằm khôi phục những quyền lợi
hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm. Tòa án sẽ tự ý thức được trách nhiệm, bổn phận
quan trọng của mình trong việc thực thi công lý, bảo vệ quyền lợi của người bị xâm
phạm. Hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức là cơ sở pháp lý quan trọng để
Tòa án thụ lý và giải quyết VVDS, là tiền đề để cơ quan tố tụng thực hiện các hoạt
động tố tụng tiếp theo. Tòa án sẽ xem xét, giải quyết vụ việc trên cơ sở các quy định
của pháp luật và chứng cứ do hai bên cung cấp hoặc Tòa án tự thu thập với nguyên tắc
xét xử công khai, khách quan, công bằng nên khả năng đảm bảo được các quyền, lợi ích
cho các bên là rất cao.
* Đối với các chủ thể khác
2020”: “Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND, bảo
đảm Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm
quyền xét xử của Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp
xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý TAND địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập
17
giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét xử”[37]. Tiếp đó, tại Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/06/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng đã
khẳng định: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu
quả và hiệu lực cao”[38] và nhiệm vụ đặt ra là “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân
sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo
điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn
đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn. Khuyến khích việc giải quyết
một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng
quyết định công nhận việc giải quyết đó”. [38]
Như vậy, có thể thấy quan điểm của Nhà nước ta là hướng đến việc xây dựng và
hoàn thiện các quy định về quyền tố tụng của đương sự thông qua việc tạo điều kiện
thuận lợi cho đương sự được quyền chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý và tham gia tố tụng tại Tòa án.
1.3.2. Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự được xây dựng
trên cơ sở quyền con người
Để có thể tồn tại và phát triển, mỗi con người sinh ra đều đã được xã hội thừa
nhận quyền sống và quyền được đáp ứng các lợi ích vật chất và tinh thần khác. Quyền
con người được ghi nhận và đề cao trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng. Trong
Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 ghi nhận: “Tất cả mọi
các đương sự có quyền bổ sung, thay đổi hay chấm dứt các yêu cầu của mình. Việc
khởi kiện và yêu cầu này hoàn toàn dựa trên sự tự do ý chí của đương sự mà không hề
có sự cưỡng chế, ép buộc từ chủ thể nào khác. Hơn nữa, để đảm bảo được quyền tự bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật còn quy định trong quá trình giải
quyết VVDS các đương sự được quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu.
Nếu không có những quy định về quyền tự định đoạt của đương sự thì sẽ không bảo
đảm được việc thực thi nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự.
Trong quan hệ dân sự, các chủ thể tham gia độc lập với nhau về tổ chức và tài
sản, bình đẳng trong việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ cũng như chịu trách nhiệm
dân sự trong quan hệ mà mình tham gia. Với đặc trưng như vậy, các chủ thể khi tham
gia quan hệ dân sự có toàn quyền định đoạt việc tham gia vào quan hệ nào, với ai và
19
được có những quyền và nghĩa vụ gì. Vì vậy, khi quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm
phạm thì các chủ thể có quyền quyết định lựa chọn phương thức bảo vệ quyền của mình
thông qua việc khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết VVDS, đưa ra yêu cầu phản
tố; thay đổi, bổ sung yêu cầu hay rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu,…
Điều này khác với quan hệ pháp luật hình sự ở chỗ khi có hành vi xâm phạm đến
khách thể được Luật Hình sự bảo vệ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ can thiệp
mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại (trừ một số trường hợp đặc biệt quy
định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003). Sở dĩ có sự khác biệt như vậy
là vì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của công dân đối với nhà nước trong khi trách
nhiệm dân sự là trách nhiệm giữa các công dân với nhau. Bên cạnh đó, xuất phát từ việc
giải quyết yêu cầu của đương sự nên phạm vi xem xét giải quyết trong TTDS chỉ giới
hạn trong phạm vi yêu cầu của đương sự mà không phải xem xét tổng quát toàn bộ vụ
việc và các vấn đề liên quan khác như trong tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
1.3.4. Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự được xây dựng
dựa trên mối liên hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng dân sự
thực hiện các quyền tố tụng tương ứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo đó, tùy trường hợp mà quyền khởi kiện có thể hướng tới hành vi của chủ thể hoặc
các vật cụ thể và quyền tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện tại Tòa án nào
cũng được nhà lập pháp cân nhắc. Ngoài ra, các quyền tố tụng của đương sự phải được
thể hiện trong pháp luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự có thể
bảo vệ được quyền dân sự của mình khi tham gia tố tụng tại Tòa án.
1.3.4. Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự được xây dựng
dựa trên các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự
Nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo,
định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận
trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự. [62, tr. 36].
Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành được
quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 24 BLTTDS. Nội dung của các nguyên tắc này
thể hiện về những vấn đề cơ bản của TTDS như tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của hoạt
động TTDS; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án; bảo đảm quyền tham gia tố
tụng của các đương sự; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng; vai trò trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khác đối với việc giải quyết VVDS
của Tòa án. Khi xây dựng các quyền tố tụng cho đương sự phải dựa trên các nguyên tắc
21
cơ bản của TTDS và phù hợp với các nguyên tắc này. Bên cạnh việc phù hợp với hệ
thống nguyên tắc cơ bản này, quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của
đương sự chủ yếu xuất phát từ hai nguyên tắc cơ bản chủ yếu là nguyên tắc quyền yêu
cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp (Điều 4 BLTTDS 2004) và nguyên tắc quyền
tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS 2004).
1.3.5. Quyền yêu cầu, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự được xây dựng
dựa trên vị trí, vai trò của từng đương sự
Trong các chủ thể của QHPL TTDS có thể nói đương sự là một nhóm chủ thể vô