BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ HƢƠNG
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả nghiên cứu trong
luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hƣơng
4
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
10
14
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
17
1.3. Kinh nghiệm lập pháp một số nƣớc trên thế giới về điều chỉnh hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án
1.4. Lƣợc sử các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1945
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
CHƢƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT
ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1. Các quy định chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
2.1.1. Quy định về các nguyên tắc liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án
2.1.2. Quy định chung về các biện pháp thu thập chứng cứ Tòa án
5
5
5
38
42
43
2.2.5. Về biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ
2.2.6. Về biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ
44
45
2.2.7. Về biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
3.2. Nguyên nhân của tồn tại, vƣớng mắc và kiến nghị về hoạt động thu thập chứng cứ
của Tòa án trong tố tụng dân sự
46
50
50
60
3.2.1. Về nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án
3.2.2. Một số kiến nghị về hoàn thiện quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của
60
Tòa án
cứ của Tòa án. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án vẫn còn chƣa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng, cụ thể dẫn tới những
khó khăn, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng. Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện,
sâu sắc về hoạt động thu thập chứng cứ cả về phƣơng diện lý luận, lập pháp và thực tiễn, từ
đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của hoạt động
thu thập chứng cứ của Tòa án là một việc làm cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” làm luận văn cao học luật của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Sau khi BLTTDS có hiệu lực, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động
thu thập chứng cứ của Tòa án nhƣng các công trình này cũng chỉ đề cập đến hoạt động thu
2
thập chứng cứ với tƣ cách là một giai đoạn của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
nhƣ đề tài “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Minh Hằng (bảo vệ tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2002), đề tài “Hoạt
động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” cũng của tác giả Nguyễn Minh Hằng (bảo
vệ luận văn tiến sĩ tại Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 2009); hay dƣới khía cạnh là hoạt
động của Thẩm phán nhƣ đề tài.“Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố
tụng dân sự” của tác giả Bùi Thị Huyền (Luận văn thạc sĩ Luật học, trƣờng Đại học Luật Hà
Nội, H. 2001). Gần đây nhất là đề tài khoa học cấp trƣờng “Một số vấn đề lý luận về chứng
minh trong tố tụng dân sự” do TS. Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm năm 2012. Ngoài các
công trình trên cũng có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến hoạt
động thu thập chứng cứ của Tòa án. Chẳng hạn nhƣ bài viết “Vai trò của thẩm phán trong thu
thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp); bài viết “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” của tác
giả Hoàng Ngọc Thỉnh (Tạp chí Luật học - số đặc san góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự,
tháng 4-2004.).v.v.
chứng cứ của Tòa án và thực tiễn áp dụng chúng tại các Toà án. Từ đó chỉ ra những điểm bất
cập, thiếu hợp lý trong các quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
- Đƣa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn không nghiên cứu sâu về hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án nƣớc ngoài mà chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật một số nƣớc
về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm so sánh tham khảo. Luận văn tập trung
nghiên cứu chủ yếu về pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện hoạt động này tại một số
Tòa án địa phƣơng. Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ
của Tòa án cũng đƣợc tiến hành nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá luật thực định
và đề xuất kiến nghị. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ đƣợc giới hạn trong phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu về bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng
dân sự;
- Nghiên cứu lƣợc sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt
động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đƣợc mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu đƣợc tiến hành dựa
trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp
luật. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng
một số phƣơng pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác nhƣ phƣơng pháp phân tích hệ
4
thống; phƣơng pháp tổng hợp; phƣơng pháp so sánh; phƣơng pháp thống kê...v.v.
5
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của
Tòa án trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng
dân sự
Tòa án muốn giải quyết vụ án đúng đắn vụ việc dân sự thì trƣớc hết cần phải có trong
tay những giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin có đủ độ tin cậy để xác định sự thật khách quan của
vụ việc. Để những tài liệu hoặc thông tin mà Tòa án thu thập đƣợc có giá trị chứng minh,
phản ánh trung thực sự việc thì việc thu thập những tài liệu, thông tin này phải tuân theo trình
tự nghiêm ngặt mà pháp luật quy định nhằm đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp của chứng cứ.
Việc luận giải và làm rõ về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân
sự phải đƣợc bắt đầu từ chứng cứ - đối tƣợng của hoạt động thu thập của Tòa án. Do vậy, để
làm rõ những vấn đề lý luận căn bản về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án thì cần phải
làm rõ bản chất của chứng cứ với tƣ cách là đối tƣợng của hoạt động thu thập.
Theo nghĩa thông thƣờng thì “Chứng cứ là những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật
làm chứng, tài liệu tỏ rõ điều đó có thật nhất” [46, tr 186]. Chứng cứ với vai trò là nền tảng
cơ bản để giải quyết các vụ việc dân sự, là yếu tố cốt lõi của quá trình chứng minh, do vậy
trong quy định của pháp luật tố tụng dân sự của từng quốc gia, khái niệm chứng cứ luôn giữ
một vị trí quan trọng.
Theo BLTTDS Nhật Bản thì “Chứng cứ là một tƣ liệu thông qua đó một tình tiết đƣợc
Tòa án công nhận và là một tƣ liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án đƣợc thuyết phục là một tình
tiết có tồn tại hay không” [13, tr. 453-454]. Trong Điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ quy định:
“Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản
thân sự hàm chứa đó ảnh hƣởng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn”. Khái
niệm chứng cứ cũng đƣợc thể hiện tại Điều 55 Trong BLTTDS Liên bang Nga. Theo đó,
“Chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì đƣợc thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật
cơ bản mà chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ cần phải chú trọng trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự.
Vậy xét về lý luận thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
cần đƣợc hiểu nhƣ thế nào cho phù hợp. hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
của Tòa án có phải là hoạt động chứng minh giải quyết vụ việc dân sự dân sự hay không?
Đây là vấn đề cần phải làm rõ về lý luận để tạo cơ sở cho việc đánh giá các quy định của pháp
luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tƣợng khác nhau đòi hỏi con
ngƣời phải nhận thức và đánh giá. Trong mỗi sự vật, hiện tƣợng lại có nhiều đặc tính khác
7
nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan
nhƣng cũng tồn tại những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tƣ
duy, giải thích, móc nối các sự kiện để có thể đi đến đƣợc kết luận và việc đầu tiên là phải đƣa
ra những giả thuyết để định hƣớng tƣ duy. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tƣ duy,
móc nối các sự kiện đó chính là chứng minh. Theo Từ điển tiếng Việt thì chứng minh là
nhằm “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ” [46, tr.192].
Dƣới góc độ khoa học pháp lý thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những dấu vết lƣu lại
trong thế giới vật chất hay trong tƣ duy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quan hệ đã
hình thành, hành vi đã diễn ra và các sự việc liên quan. Về lý luận thì vật chất khi đã đƣợc
sinh ra thì không bao giờ mất đi, nó chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác; mọi
sự vật hiện tƣợng có mối liên hệ phổ biến. Khi một quan hệ phát luật đƣợc hình thành, quan
hệ đó phải đƣợc thể hiện dƣới những hình thức khác nhau của vật chất. Điều này có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng đối với quá trình chứng minh nói chung và đối với quá trình xác định sự
thật khách quan thông qua việc đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự nói riêng.
Khi thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan
đến vụ việc dân sự, để thực hiện đƣợc điều này Tòa án phải nghiên cứu những chứng cứ khác
nhau do đƣơng sự cung cấp cũng nhƣ những chứng cứ tự mình thu thập đƣợc nhƣ lời khai
Đối với Tòa án, hoạt động chứng minh là công cụ để Tòa án có thể nhận thức đƣợc
chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để đƣa ra phán quyết giải quyết các vụ việc
phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan. Đối với các đƣơng sự, hoạt động
chứng minh là phƣơng tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ đƣợc các quyền và lợi ích của mình.
Hoạt động chứng minh đƣợc thực hiện thông qua các hoạt động cụ thể bao gồm cung
cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Trong đó, cung cấp chứng cứ là hoạt động tố
tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đƣa lại cho Tòa án, viện kiểm sát các chứng cứ của vụ
việc dân sự. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đƣơng sự, ngƣời đại diện của họ và cá
nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lƣu giữ chứng cứ. Thu thập chứng cứ là hoạt động tiếp
theo do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm phát hiện các chứng cứ của vụ việc dân sự.
Nghiên cứu chứng cứ là hoạt động do các chủ thể tố tụng tiến hành trong suốt quá trình tố
tụng dân sự nhằm kiểm tra các thuộc tính của chứng cứ, tài liệu thu thập đƣợc. Đây là hoạt
động có tính tiền đề, cơ sở cho hoạt động đánh giá chứng cứ. Đánh giá chứng cứ là hoạt động
cuối cùng của quá trình chứng minh do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm xác định giá
trị chứng minh của chứng cứ. Trong đó, việc đánh giá chứng cứ của Tòa án là quan trọng
nhất vì Tòa án là chủ thể có quyền sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
Xét về thực chất thì thu thập chứng cứ có thể do nhiều chủ thể tố tụng tiến hành nhằm
phát hiện, tập hợp chứng cứ trong vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải
quyết vụ việc dân sự. Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với đƣơng sự trong
việc chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình và có ý nghĩa đối với Tòa án trong việc làm rõ
9
đƣợc các vấn đề của vụ việc dân sự .
Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh gắn liền với chủ thể có yêu cầu, phản đối
yêu cầu trƣớc Tòa án nên đƣơng sự, ngƣời đại diện, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đƣơng sự phải tiến hành thu thập các chứng cứ nhằm cung cấp cho Tòa án để bảo vệ yêu
cầu tố tụng của mình hay phản bác yêu cầu tố tụng của đối phƣơng. Tuy nhiên, hoạt động thu
thập chứng cứ này không mang tính quyền lực nhà nƣớc nhƣ hoạt động thu thập chứng cứ
của Tòa án và Viện kiểm sát.
Từ những phân tích trên có thể kết luận hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là
hoạt động của Thẩm phán trong việc tiến hành các biện pháp pháp lý theo quy định của pháp
luật nhằm tập hợp các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự đã đƣợc Tòa án thụ lý để xây
dựng, hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự
thật khách quan của vụ việc dân sự. Hoạt động này thể hiện ở việc Thẩm phán yêu cầu đƣơng
sự bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc chƣa
đủ cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự hay tự mình thu thập chứng cứ trong các trƣờng hợp
luật định.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng
dân sự
- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là hoạt động có tính
quyền lực nhà nước
Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể
tố tụng khác nhƣ đƣơng sự, ngƣời đại diện, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đƣơng sự. Bởi vì, hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể trên là nhằm thu thập các
chứng cứ cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu tố tụng của mình hay phản bác
yêu cầu tố tụng của đối phƣơng. Các hoạt động thu thập chứng cứ này không mang tính
quyền lực nhà nƣớc nhƣ hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
Tính quyền lực nhà nƣớc đƣợc thể hiện ở chỗ biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án
tiến hành có tính ràng buộc trách nhiệm với các chủ thể liên quan. Chẳng hạn, nhƣ đƣơng sự,
ngƣời làm chứng có nghĩa vụ phải có mặt theo triệu tập lấy lời khai của Tòa án, cơ quan hữu
quan phải phối hợp với Tòa án trong việc tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ; cử ngƣời
tham gia Hội đồng định giá; Tòa án nhận đƣợc ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc ủy
thác thu thập chứng cứ trong thời hạn luật định; các chủ thể đang quản lý, lƣu giữ chứng cứ
phải thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án đúng thời hạn và phải chịu trách nhiệm
pháp lý về hành vi vi phạm của mình...
- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự do Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ việc dân sự tiến hành
Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng
đƣơng sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ bảo vệ quyền và
lợi ích của mình. Tuy nhiên do đặc thù của tố tụng hành chính là bên bị kiện là cơ quan nhà
nƣớc, bên khởi kiện là bên yếu thế hơn nên việc thu thập chứng cứ của nguyên đơn có thể gặp
khó khăn, do vậy vai trò của Tòa án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ là rất quan trọng
và cần thiết nhằm đảm bảo việc xác định sự thật khách quan, giúp cho việc giải quyết vụ án
công bằng, minh bạch.
Có thể nhận thấy, trong bất kể một vụ án nào thì việc thu thập chứng cứ của Tòa án
cũng là cần thiết nhƣng tùy thuộc vào đặc thù của từng loại vụ việc mà vai trò này của Tòa án
nhiều hay ít. BLTTDS đƣợc xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở đôi bên”, quyền, nghĩa
12
vụ và điều kiện của các bên là ngang nhau nên nghĩa vụ chứng minh là của đƣơng sự, Tòa án
chỉ thu thập chứng cứ trong một số trƣờng hợp luật định. Luật Tố tụng hành chính, do đặc thù
là phía bên bị kiện luôn là cơ quan nhà nƣớc nên bên khởi kiện luôn là bên yếu thế, do vậy
việc thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án phục vụ cho việc chứng minh đôi khi gặp khó
khăn, chính vì vậy vai trò thu thập chứng cứ của Tòa vẫn cần đƣợc đề cao hơn. Đối với tố
tụng hình sự thì lại hoàn toàn khác, mục đích của hoạt động tố tụng hình sự là truy tố những
hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nguy hiểm cho xã hội để bảo vệ tính nghiêm minh của
pháp luật. Trong tố tụng hình sự, tâm lý của bị can, bị cáo hoàn toàn không muốn mình bị
khởi tố, truy tố và xét xử mà luôn muốn che dấu hành vi, trốn tránh trách nhiệm, né tránh việc
bị trừng phạt. Do vậy pháp luật tố tụng hình sự không quy định họ phải có nghĩa vụ chứng
minh, họ cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng nếu không khai báo hoặc khai báo gian dối.
Nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm trong trƣờng hợp này thuộc về nhà nƣớc
mà vụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng.
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự do Thẩm phán giải
quyết vụ việc tiến hành. Đây cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập
chứng cứ của các chủ thể khác trong tố tụng dân sự nhƣ đƣơng sự, ngƣời đại diện, ngƣời bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự và Viện kiểm sát. Ngoài ra, đặc điểm “hoạt động
thu thập chứng cứ do Thẩm phán trực tiếp thụ lý giải quyết vụ việc dân sự tiến hành” là dấu
sự yếu, chứng cứ đƣơng sự không tự thu thập đƣợc…, nếu đợi chứng cứ do đƣơng sự giao
nộp, cung cấp thì vụ việc sẽ bị kéo dài mà không có hƣớng giải quyết, dẫn đến tình trạng án
tồn, án quá hạn, án bị hủy hoặc sửa. Ví dụ: Trong vụ việc hôn nhân gia đình, nếu các đƣơng
sự thỏa thuận đƣợc về mọi mối quan hệ, hoặc nếu không thỏa thuận đƣợc nhƣng đƣơng sự đã
xuất trình đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nộp bản tự khai có nội
dung đầy đủ, rõ ràng thì Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nữa mà chỉ căn cứ
vào các chứng cứ đƣơng sự cung cấp, đánh giá chứng cứ và ra quyết định, bản án theo quy
định của pháp luật. Tuy nhiên cũng trong vụ việc hôn nhân gia đình, nếu có tranh chấp xảy ra,
các đƣơng sự không thống nhất về việc giải quyết một vẫn đề nào đó mà lại không cung cấp
đƣợc chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì Tòa án phải tiến hành nhiều biện pháp
thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án nhƣ tiến hành lấy lời khai của đƣơng sự, xác minh, đối
chất, định giá tài sản…, từ đó mới có căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải được tiến hành theo quy định của
pháp luật
Nhƣ đã phân tích ở trên thì một trong những thuộc tính cơ bản của chứng cứ là tính
hợp pháp. Theo đó, những thông tin thực tế về vụ việc dân sự phải đƣợc Thẩm phán thu thập
từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Đặc điểm này
nhằm bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ, tránh sự lạm quyền hay tùy tiện của Thẩm phán,
ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến quyền của đƣơng sự.
Các sự kiện, tình tiết để trở thành chứng cứ trong vụ việc dân sự có giá trị chứng minh
cho yêu cầu hay phản đối của các bên thì cần phải đƣợc thu thập, bảo quản, củng cố, nghiên
14
cứu và đánh giá theo một thủ tục do luật định, trình tự này nhằm bảo đảm giá trị của chứng
cứ, buộc Thẩm phán tiến hành tố tụng dân sự một cách thận trọng, chặt chẽ; vừa đảm bảo độ
tin cậy và tính khách quan của các chứng cứ do Tòa án thu thập và sử dụng, từ đó các phán
quyết của Tòa án có đƣợc sức thuyết phục cao, thể hiện tính công bằng, nghiêm minh của
pháp luật. Chứng cứ sẽ mất giá trị nếu trong quá trình thu thập có sự vi phạm quy định của
pháp luật. Chẳng hạn, khi Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đƣơng sự ngoài trụ sở Tòa án
cho đƣơng sự này nhƣng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đƣơng sự khác. Tòa
án là cơ quan bảo vệ công lý, có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự. Để giải quyết đúng đắn
vụ việc dân sự thì Tòa án phải xác định xem trong vụ việc dân sự phải chứng minh, làm rõ
những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu đƣơng sự và những ngƣời tham gia tố
tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ việc dân sự chƣa?
Mặc dù đề cao vai trò chứng minh của đƣơng sự trong tố tụng dân sự, nhƣng cần phải
nhận thức rằng trong điều kiện của Việt Nam hiện nay thì hoạt động thu thập chứng cứ của
Tòa án vẫn giữ vai trò là một hoạt động tiền đề quan trọng trong quá trình chứng minh vụ
việc dân sự.
Tòa án, mà cụ thể là Thẩm phán trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án dân sự là ngƣời tiếp
xúc trực tiếp với chứng cứ, với các đƣơng sự trong vụ án dân sự, nghe đƣơng sự trình bày yêu
cầu cũng nhƣ chứng minh cho yêu cầu của mình. Từ đó, bằng sự hiểu biết pháp luật cũng nhƣ
nghiệp vụ của mình Thẩm phán hiểu rõ những vấn đề khúc mắc trong vụ án, những vấn đề gì
đã rõ và vấn đề nào cần làm rõ, từ đó xác định đƣợc phƣơng hƣớng, vấn đề cần chứng minh,
yêu cầu đƣơng sự cung cấp chứng cứ chứng minh hoặc tự thu thập chứng cứ chứng minh. Do
vậy hiệu quả chứng minh sẽ cao hơn, tránh tình trạng thu thập chứng cứ tràn lan, không có
trọng tâm dẫn đến chứng cứ thu thập đƣợc không có giá trị chứng minh.
- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giữ vai trò hỗ trợ các đương sự trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình
Với đặc thù là một nƣớc có nền kinh tế đang phát triển, mặt bằng về kinh tế của ngƣời
dân nói chung còn thấp, hiểu biết và sự tiếp cận pháp luật còn chƣa cao nên mặc dù đề cao vai
trò chứng minh của đƣơng sự trong tố tụng dân sự, nhƣng vẫn chƣa thể xóa bỏ vai trò của
Tòa án trong việc chứng minh nhƣ pháp luật tố tụng dân sự một số nƣớc. Sở dĩ nhƣ vậy vì
nếu đƣơng sự tự mình thu thập toàn bộ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì sẽ
gặp rất nhiều khó khăn do bản thân họ hiểu biết về pháp luật có hạn, không xác định đƣợc
những chứng cứ nào cần thiết cho vấn đề mình cần chứng minh, hơn nữa có nhiều tài liệu,
chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức quản lý nếu để tự đƣơng sự thu thập nhiều khi rất khó
khăn. Trong điều kiện hiện nay, khả năng tự bảo vệ của các đƣơng sự trong vụ án dân sự còn
rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế. Nhất là đƣơng sự ở những vùng nông thôn
và miền núi, họ không có điều kiện mời luật sƣ để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, khi có
vào hệ thống pháp luật dân sự và theo thủ tục tố tụng xét hỏi. Xu hƣớng cải tổ của pháp luật
Việt Nam là kết hợp những yếu tố tranh tụng của tố tụng tranh tụng vào thủ tục xét hỏi. Tòa
án Việt Nam ngoài nhiệm vụ xét xử những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động và
các vụ án khác theo quy định của pháp luật thì trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có
nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ
của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nƣớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh
dự và nhân phẩm của công dân. Trong điều kiện Việt Nam là một đất nƣớc mà đa phần số
dân đều làm nông nghiệp, do vậy, việc Tòa án thu thập chứng cứ trong một số trƣờng hợp
mặc dù không có vai trò quá lớn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhƣng đối
17
với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại là một vấn đề giữ vai trò hết sức quan
trọng. Ngƣời dân Việt Nam vốn xa lạ với việc phải tự mình tìm kiếm chứng cứ chứng minh
để bảo vệ quyền lợi của mình, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thƣờng phó mặc cho Tòa án giải
quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng minh, do
vậy nhiều khi quyền lợi chính đáng của họ sẽ bị ảnh hƣởng. Hơn nữa đặc thù của tố tụng dân
sự là quyền của bên này thƣờng tƣơng ứng với nghĩa vụ của bên kia, lợi ích của các bên
đƣơng sự thƣờng đối lập nhau nên sẽ có việc là bên nguyên đơn cung cấp chứng cứ gây bất
lợi cho bị đơn và ngƣợc lại, hành vi này nhiều khi làm sai lệch một vụ án nếu Tòa án không
công tâm, không có các biện pháp thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ chính xác, công tâm.
Chính vì vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án còn giữ vai trò bảo vệ lẽ phải, thực
hiện vai trò là cơ quan bảo vệ công lý.
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động
thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
phải xuất phát từ đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp
Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng đã
xác định mục tiêu của Cải cách tƣ pháp là “Xây dựng một nền tƣ pháp trong sạch, vững
nền văn hóa, lịch sử của mỗi dân tộc thì các quy định đó sẽ xa lạ và không thể tồn tại lâu dài.
Các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự cũng
đƣợc xây dựng xuất phát từ cơ sở đó.
Là một nƣớc nông nghiệp, văn hóa làng xã phát triển, ngƣời dân đa phần có tâm lý
duy tình hơn duy lý nên sự chủ động trong việc chứng minh bảo vệ cho quan điểm của mình
rất hạn chế nên việc quy định vai trò của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ là rất cần thiết,
giúp pháp luật tố tụng dân sự dễ đi vào cuộc sống nhờ sự phù hợp với đặc điểm truyền thống,
văn hóa của dân tộc.
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
phải xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
Pháp luật là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thƣợng tầng xã hội. Nó do cơ sở hạ
tầng quyết định nhƣng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng. Nếu pháp luật phản ánh đúng
đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội thì sẽ có tác động tích cực đối với sự phát
triển của xã hội và ngƣợc lại. Yêu cầu đặt ra đối với bất kì một văn bản pháp luật nào là phải
vừa phản ảnh đƣợc những quy luật chung về sự phát triển của xã hội, vừa phản ánh đƣợc
những quy luật mang tính đặc thù trong từng giai đoạn, từng lĩnh vực.
Một trong những nội dung quan trọng phải đƣợc thẩm định tại Khoản 3 Điều 36 Luật
Ban hành văn bản pháp luật là “tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa
quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện
để đảm bảo thực hiện”. Sẽ là vô nghĩa và gây ra những tốn kém không cần thiết cả về thời
gian và tiền bạc khi cho ra đời một văn bản pháp luật xa rời thực tế.
19
Những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án xuất phát từ điều kiện
của Việt Nam với một nền kinh tế mà thành phần chủ yếu là kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi chuyển sang kinh tế thị trƣờng, Tòa án
đứng trƣớc thực trạng là đất nƣớc đã và đang từng bƣớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một
xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất rất thấp. Đất
nƣớc lại phải trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại rất nặng nề. Những tàn dƣ
dụng trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình, vừa là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các quan
hệ xã hội đã, đang và sẽ phát sinh trong cuộc sống. Muốn vậy, việc xây dựng các quy định
điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải gắn với các yêu cầu bảo vệ công lý,
bảo đảm các quyền tố tụng của đƣơng sự.
Theo kết quả nghiên cứu thì tiếp cận công lý là khả năng của công dân có thể tìm
kiếm và đạt đƣợc một sự đền bù hoặc khắc phục cho những bất công hoặc thiệt hại do cá
nhân hay chủ thể khác gây ra, thông qua các cơ chế tƣ pháp chính thống hoặc không chính
thống phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về quyền con ngƣời (Vũ Công Giao
– Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nƣớc pháp quyền – Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Luật học 25/2009 188-194). Nhƣ vậy quyền tiếp cận công lý là khả năng
chủ thể yêu cầu nhà nƣớc tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng pháp luật nhằm mục
đích bảo vệ quyền lợi của mình tại cơ quan nhà nƣớc khi có tranh chấp hoặc xử lý vi phạm
pháp luật.
Việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân luôn gắn với vấn đề thực thi công
lý của Tòa án. Khi có tranh chấp không tự hòa giải đƣợc, ngƣời dân phải tìm đến Tòa án để
phân giải đúng sai, khi có vi phạm thì Tòa án là nơi cuối cùng để xử lý trách nhiệm trên cơ sở
công lý. Quá trình yêu cầu Tòa án thực thi công lý chính là quá trình tiếp cận công lý của
công dân. Quá trình đó bắt đầu từ nhu cầu đƣợc tiếp cận công lý và kết thúc là phán quyết và
thực hiện phán quyết của Tòa án. Để tiếp cận đƣợc với công lý ngƣời dân phải đƣợc biết và
có khả năng để biết công lý nằm ở đâu? Đến với công lý bằng con đƣờng nào và với phƣơng
tiện gì? Muốn vậy, những quy định về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự cần
phải tạo điều kiện để công dân biết và thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, vừa phải tạo
điều kiện để Tòa án thu thập chứng trong các trƣờng hợp cần thiết để tìm ra sự thật khách
quan, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự thực sự công bằng và thuyết phục, bảo vệ quyền
và lợi ích của công dân trƣớc những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, vô tư trong việc thu thập
Tính trung thực, khách quan, vô tƣ thể hiện ở việc tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp
luật, tiến hành công việc của mình với thái độ thực sự công tâm, khách quan, vô tƣ, không
đƣợc để những quan hệ, tình cảm cá nhân chi phối vào công việc. Không đƣợc có thái độ
của một trọng tài, phân xử căn cứ vào các chứng cứ mà các đƣơng sự đƣa ra tranh luận tại phiên
tòa, Thẩm phán hoàn toàn không tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ.
Ở Hoa Kỳ, một vụ kiện thƣờng bắt đầu bằng việc bên khiếu kiện đệ đơn lên thƣ ký
Tòa án quận trong đó nêu rõ yêu cầu của mình và viện dẫn những cơ sở pháp lý và thực tiễn
ủng hộ cho yêu cầu đó. Thƣ ký Tòa sẽ phát hành trát đòi hầu tòa gửi tới bị đơn kèm theo bản
sao của đơn khiếu kiện để báo cho bị đơn biết về việc họ đang bị kiện và khoảng thời gian họ
có để tìm cách bảo vệ mình. Trƣớc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử, các bên sẽ phải trao đổi
chứng cứ và các nhận định dựa trên những gì họ dự kiến tranh luận trong phiên tòa. Phiên tòa
sẽ đƣợc tiến hành bằng cách các bên đƣa ra các chứng cứ, thẩm phán hoặc bồi thẩm sẽ dựa
hoàn toàn vào các bằng chứng đó để ra phán quyết. Tƣơng tự nhƣ vậy, ở Anh, phiên tòa xét