BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐẶNG MINH CHIẾN
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Hà
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được
thực hiện độc lập và dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Lê Thị Hà.
Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Trong quá trình thực hiện, Luận văn có tham khảo một số chuyên đề, các bài
viết có liên quan nhưng được trích dẫn nguyên văn, nguồn tài liệu trích dẫn được nêu
ra tại danh mục tài liệu tham khảo ở phần cuối Luận văn này.
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
VKS
: Viện Kiểm sát
UBND
: Ủy ban nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
PLTTGQCVAKT
: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
PLTTGQCVADS
: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
~MỤC LỤC~
---o0o--PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: ................................................................................................. 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ........................................... 4
1.1. Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự ................................... 4
1.1.1. Khái niệm chứng minh và chứng cứ...................................................... 4
1.2.2. Hoạt động cung cấp chứng cứ .............................................................. 5
3.1. Thực tiễn áp dụng các kỹ năng, biện pháp, và quy định của pháp luật
tố tụng dân sự về hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư qua một số
vụ án. ........................................................................................................... 55
3.2. So sánh hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư với các chủ thể
khác ............................................................................................................. 66
3.2.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư và của các cơ quan tiến hành
tố tụng. ......................................................................................................... 66
3.2.2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư và của đương sự ............... 69
3.3. Đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về hoạt
động thu thập chứng cứ của Luật sư ......................................................... 70
3.4. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và
một số giải pháp khác để nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập
chứng cứ của Luật sư trong Tố tụng Dân sự. ........................................... 78
KẾT LUẬN ................................................................................................. 86
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực
hiện chủ trương cải cách tư pháp, trong đó, việc tăng cường vai trò của Luật sư
trong hoạt động tố tụng dân sự là điều hết sức cần thiết. Với sự am hiểu pháp luật
cũng như các kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp của mình, sự tham gia của Luật
sư góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, giúp Tòa án đưa ra
phán quyết công bằng, đúng pháp luật.
Nhằm bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp
luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong
quá trình tham gia tố tụng. Do vậy, việc thu thập chứng cứ nói chung và việc thu
thập chứng cứ của Luật sư nói riêng góp phần rất lớn vào việc làm sáng tỏ các tình
trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng, hay đề tài khóa
luận tốt nghiệp năm 2010 “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố
tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Nhung. Hoặc có đề cập đến với tư cách là một
hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự như đề tài luận văn thạc sĩ năm 2004
“Vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả Trần Phương Thảo; đề
tài khóa luận tốt nghiệp năm 2011 “Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả
Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
có liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ như bài viết “Về sự tham gia của
Luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả Đinh Văn Thanh đăng trên tạp chí Dân
chủ và Pháp luật số 4 năm 2004; bài viết “Luật sư với việc thu thập chứng cứ và
hòa giải trong tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Thu Yến đăng trên tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 9 năm 2007.
Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập
nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về hoạt động thu
thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự.
3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận cũng như
thực tiễn của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự. Ngoài
ra việc nghiên cứ đề tài cũng so sánh, chỉ ra những điểm bất cập trong quy định của
pháp luật cũng như những hạn chế trong thực tiễn áp dụng, tìm ra các giải pháp
hoàn thiện hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư trong tố tụng dân sự. Từ đó góp
phần hiểu rõ được phần nào đó trách nhiệm chứng minh của đương sự cũng như
một phần hoạt động của Luật sư (hoạt động bổ trợ tư pháp) trong tố tụng dân sự.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là
hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành, và thực tiễn áp dụng. Với mục tiêu nghiên cứu nên trên, trong khuôn khổ
luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chủ yếu tập trung trong giới hạn những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của
Luật sư trong tố tụng dân sự;
Luật sư có thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người đại diện của
đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và cùng với
thân chủ trở thành một bên trong quan hệ tố tụng dân sự. Trong tố tụng dân sự để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đương sự có quyền, nghĩa vụ chứng
minh, và để có cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của
đương sự khác đòi hỏi đương sự, Luật sư của đương sự phải cung cấp chứng cứ cho
Tòa án. Chứng cứ là căn cứ quan trọng nhất để xác định sự thật khách quan của vụ
án, là cơ sở để Tòa án đưa ra phán quyết công bằng, hợp tình, hợp lý. Vì thế, để
thực hiện tốt hoạt động chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ,
Luật sư cũng có quyền, nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án.
1.1.1. Khái niệm chứng minh và chứng cứ
Theo từ điển Tiếng Việt thì cụm từ “chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt
động phổ biến của con người trong đời thường nhằm “làm cho thấy rõ là có thật, là
đúng bằng sự việc hoặc lý lẽ”1. Trong TTDS chứng minh cũng có nghĩa là một
dạng hoạt động, nhưng là hoạt động tố tụng, bằng việc sử dụng chứng cứ nhằm làm
sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự giúp Tòa án có thể đưa ra được một
phán quyết công bằng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện chủ yếu để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình. Do là một hoạt động mang tính chất pháp lý nên việc chứng minh
trong tố tụng dân sự được điều chỉnh và chi phối chặt chẽ bởi các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự và pháp luật có liên quan. Hoạt động chứng minh trong tố tụng
dân sự là một quá trình gồm hoạt động của Tòa án, viện kiểm sát và những người
tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ
làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của Tòa án trên cơ
sở quy định của pháp luật.
Khái niệm chứng cứ được luật tố tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến. Cá
biệt còn có một số nước xây dựng luật về chứng cứ thể hiện sự quan trọng của vấn
đề này. Điều 401 Luật chứng cứ của Mỹ định nghĩa “Chứng cứ là những gì mà hàm
1
hợp pháp của đương sự.
1.2.2. Hoạt động cung cấp chứng cứ
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn
ra xuyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho
đến khi Tòa án ra phán quyết. Các đương sự, cá nhân, cơ quan tổ chức đang quản
2
“Đương sự - Chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất trong tố tụng dân sự” tại địa chỉ:
/>3
Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
6
lý, lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ giao nộp cho Tòa án các chứng cứ. Việc cung cấp
chứng cứ có thể được tiến hành ngay từ khi khởi kiện và trong cả quá trình Tòa án
giải quyết vụ việc dân sự. Luật sư khi tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có trách nhiệm cung cấp chứng cứ
theo Khoản 2 Điều 76 BLTTDS năm 2015. Còn với tư cách là người đại diện của
đương sự Luật sư có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Điều 86 BLTTDS năm
2015.
Về nguyên tắc, các chứng cứ sẽ được lần lượt cung cấp cho Tòa án để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Ngay từ khi nộp đơn khởi kiện, theo
quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì người khởi kiện đã có
trách nhiệm nộp kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Trách nhiệm cung cấp chứng
cứ cho Tòa án đã được quy định ngay từ khi đương sự tiến hành nộp đơn khởi kiện.
Cung cấp chứng cứ chính là hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án, chứng
cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, chính
xác bao nhiêu thì việc tranh luận và vai trò phân xử của Tòa án càng đơn giản bấy
có, việc cung cấp chứng cứ hoàn toàn do đương sự chủ động. Do vậy, cần cân nhắc
kỹ cung cấp chứng cứ nào vào thời điểm nào, Luật sư sẽ đóng một vai trò rất quan
trọng trong trường hợp này. Luật sư sẽ giúp đương sự thu thập và cung cấp chứng
cứ một cách phù hợp, hiệu quả nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự. Để làm rõ các yêu cầu của mình và phản bác các yêu cầu của đối phương
Luật sư hướng dẫn để các đương sự chỉ cung cấp cho Tòa án các chứng cứ theo lộ
trình và mục đích đã được tính toán từ trước. Những chứng cứ chưa thực sự cần
thiết phải cho bên đối tụng biết hoặc các chứng cứ có thể gây bất lợi cho đương sự,
Luật sư nên khuyên đương sự chưa cung cấp hoặc không cung cấp cho Tòa án.
Mặt khác, với các thông tin, tài liệu đã có, Luật sư giúp đương sự phân loại
chứng cứ trước khi giao nộp cho Tòa án. Bởi lẽ, trên thực tế trong quá trình thu thập
chứng cứ sẽ có rất nhiều thông tin, tài liệu được đương sự và Luật sư thu thập, tập
hợp về. Tuy nhiên, không phải bất cứ thông tin, tài liệu nào trong đó cũng được coi
là chứng cứ và có giá trị chứng minh. Bằng kiến thức sâu rộng và trình độ hiểu biết
pháp luật cao, Luật sư sẽ giúp đương sự phân loại các thông tin, tài liệu thu thập
được dựa trên cơ sở quy định của pháp luật và sự đánh giá giá trị chứng minh của
các thông tin, tài liệu này mà Luật sư tư vấn cho đương sự cung cấp chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu của mình.
Sau khi phân loại, sắp xếp các tài liệu, chứng cứ, Luật sư tư vấn giúp đương
sự giao nộp các tài liệu, chứng cứ này theo những mục đích khác nhau. Luật sư
cũng lưu ý khách hàng khi giao nộp chứng cứ cho Tòa án cần phải được lập Biên
bản giao nhận tài liệu, chứng cứ, trong đó liệt kê đầy đủ các chứng cứ đương sự
giao nộp, và ghi rõ các tài liệu bản gốc, bản sao, thời gian giao nhận, chữ ký hoặc
điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và con dấu của Tòa án, biên
bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án và một bản giao cho đương
8
sự nộp chứng cứ giữ để làm rõ trách nhiệm trong trường hợp thất lạc chứng cứ sau
được sự chú ý của Tòa án, Viện kiểm sát, cũng có trường hợp đó là các chứng cứ
mà khi cung cấp tại Tòa làm thay đổi cục diện vụ án giúp Tòa án nhìn nhận lại vụ
việc một cách có lợi cho khách hàng hơn.
9
Như vậy, họat động thu thập chứng cứ từ việc tiếp xúc khách hàng đóng một
vai trò quan trọng trong việc định hướng các hoạt động thu thập chứng cứ tiếp theo
và ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
nói chung. Việc thu thập chứng cứ từ khách hàng đòi hỏi Luật sư phải bảo đảm tính
chuyên nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, tuân thủ các quy định của pháp
luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình nhằm tạo uy tín nghề nghiệp, nâng
cao vai trò, vị trí của Luật sư trong tố tụng dân sự nói riêng và trong xã hội nói
chung, góp phần quan trọng vào sự thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của khách hàng.
1.2.3. Quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong việc cung cấp chứng cứ và chứng
minh
Bản chất của chứng minh trong tố tụng dân sự chính là việc cung cấp, sử
dụng chứng cứ. “Dùng chứng cứ để chứng minh không chỉ là nguyên tắc tố tụng mà
còn thể hiện sự văn minh, tính lôgic và khoa học mà con người đã đạt được trong
lĩnh vực khoa học pháp lý nói chung, khoa học xét xử nói riêng”4 . Quan điểm của
chủ nghĩa Mác LêNin nguyên tắc là kết quả cuối cùng trong sự nghiên cứu “không
phải giới tự nhiên và lịch sử loài người thích ứng với các nguyên tắc mà ngược lại,
nguyên tắc chỉ đúng khi nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử loài người”5. Các
nguyên tắc trong pháp luật nói chung và luật tố tụng dân sự nói riêng chỉ đúng khi
nó phù hợp với bản chất của ngành luật, với thực tế các quan hệ xã hội mà ngành
luật đó điều chỉnh.
Chương II BLTTDS năm 2015 với 23 điều quy định về các nguyên tắc của
hoạt động tố tụng dân sự. Và một trong số đó là nguyên tắc về việc cung cấp chứng
Tòa án. Hầu hết các đương sự thì hoàn toàn phụ thuộc vào việc điều tra của Tòa án,
còn các Luật sư tham gia tố tụng một cách thụ động qua việc nghiên cứu hồ sơ
tương đối hoàn chỉnh với các tài liệu, chứng cứ đã có sẵn trong hồ sơ dẫn đến hiệu
quả hoạt động chứng minh không cao. Đến khi BLTTDS năm 2004 ra đời và bỏ
quy định về giai đoạn điều tra của Tòa án trong tố tụng dân sự thì lúc này vai trò
chứng minh của Luật sư mới được khẳng định và được đề cao.
Như vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015
đương sự, Luật sư là người đóng vai trò chính trong việc đi tìm và cung cấp các
chứng cứ có giá trị chứng minh cho quyền lợi của mình chứ không còn thuộc về cơ
quan tiến hành tố tụng. Luật sư với vai trò trợ giúp đương sự, cùng với đương sự trở
thành một bên trong tố tụng dân sự, nên khi tham gia tố tụng Luật sư cũng có quyền
và trách nhiệm thu thập chứng cứ, chứng minh. Cùng với sự chuyển giao trách
nhiệm thu thập chứng cứ, chứng minh cho đương sự thì đây cũng chính là nhiệm vụ
hết sức quan trọng của luật sư khi tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
đương sự. Với các quy định của BLTTDS năm 2015, do nghĩa vụ chứng minh thuộc
về đương sự nên vai trò và trách nhiệm của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng
cứ càng trở nên quan trọng hơn, không còn bó hẹp và thụ động như trước đây. Dù
với tư cách là người đại diện cho đương sự hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự thì hoạt động thu thập chứng cứ nói riêng và hoạt động chứng
minh của Luật sư nói chung cũng ảnh hưởng và quyết định trực tiếp tới quyền lợi
của đương sự và phán quyết của Tòa án.
11
Hiện nay Tòa án chỉ còn tham gia thu thập chứng cứ trong một số ít trường
hợp như như lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều
99 BLTTDS năm 2015), đối chất khi thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các
đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 100 BLTTDS năm 2015), định giá tài
sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế
12
của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
(sau đây gọi chung là khách hàng)”. Tiêu chuẩn Luật sư là một điểm mới của Luật
Luật sư năm 2006: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào
tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm
hành nghề Luật sư thì có thể trở thành Luật sư”6. Những điều kiện này xuất phát từ
tính chất đặc thù của nghề Luật sư là một nghề đòi hỏi có trình độ hiểu biết pháp
luật cao, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, và sự đúc kết kinh nghiệm thông
qua thực tế. Về điều kiện hành nghề Luật sư, Điều 11 Luật Luật sư năm 2006 quy
định: “Muốn hành nghề Luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập
một Đoàn Luật sư”.
Như vậy, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 thì có thể hiểu
Luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và Thẻ Luật sư, được thực hiện
dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng. Việc thực hiện dịch vụ pháp lý theo
yêu cầu của khách hàng có thể được hiểu là việc Luật sư tham gia hoạt động tố
tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân,
tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật, tất
cả được gọi chung là việc hành nghề Luật sư. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều quan niệm Luật sư là một nghề, và yêu cầu cần thiết đối với các Luật sư
là có kỹ năng hành nghề thành thục. Một Luật sư thường phải có các kỹ năng cần
thiết như kỹ năng phán đoán, kỹ năng tư duy tổng quát, kỹ năng phân tích, tổng
hợp, đánh giá sự việc, kỹ năng thuyết trình hùng biện, nghệ thuật đặt câu hỏi, đàm
phán thương lượng...
Xét về tính chất, có thể hiểu nghề Luật sư có ba tính chất cơ bản như sau:
+ Thứ nhất, tính chất trợ giúp, hỗ trợ: Nói đến trợ giúp nghĩa là nói đến sự giúp đỡ,
bênh vực của Luật sư cho những người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm
phạm. Do đó, tính chất này thể hiện hoạt động của nghề Luật sư không chỉ là trách
nhiệm, là việc thực hiện dịch vụ pháp lý mà còn là thước đo lòng nhân ái và tư cách
5. Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này.7
Nhìn chung, Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề
nghiệp của cá nhân Luật sư, phẩm chất và năng lực cá nhân của Luật sư là yếu tố
quyết định trong nghề Luật sư. Luật sư là một nghề góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ
pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, các tổ chức kinh
tế - xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về Luật sư như sau: Luật sư là người có
trình độ hiểu biết và năng lực chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý, được cấp Chứng
chỉ hành nghề Luật sư và Thẻ Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của
7
Điều 22 Luật Luật sư năm 2006
14
khách hàng. Đối với khái niệm nghề Luật sư thì có thể hiểu: Là việc Luật sư dùng
kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của mình để tham gia giải quyết các yêu
cầu của khách hàng.
Hoạt động của Luật sư trong tố tụng dân sự tuy không phải là hoạt động tư
pháp, nhưng lại có mối liên hệ gắn chặt với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động
tư pháp. Sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự có thể xem như một biện
pháp hữu hiệu để giúp cho các cá nhân, tổ chức bảo vệ được các quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Chính vì vậy trong xã hội nói chung và trong tố tụng dân sự nói
riêng, vị trí, và vai trò của Luật sư là rất lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
* Vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự trước tòa. Trong tố tụng dân sự, Luật sư có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phần trong việc xác định sự thật
khách quan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác,
khách quan và toàn diện.
Có thể thấy rằng vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự là rất quan trọng nhằm giúp các đương sự hiểu đúng, hiểu đủ
quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tránh bị các cơ quan tiến hành tố tụng
lạm quyền làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình cũng như hiểu được bản án,
quyết định của các cơ quan tố tụng tuyên đối với đương sự đã đúng pháp luật hay
chưa tránh khiếu kiện, khiếu nại kéo dài làm ảnh hưởng đến thời gian, kinh tế cho
các đương sự. Cùng với sự phát triển nền tư pháp Việt Nam, Luật sư đang từng
bước khẳng định vị trí và vai trò của mình khi tham gia tố tụng dân sự.
1.2.2. Hoạt động thu thập chứng cứ và biện pháp thu thập chứng cứ
Chứng cứ cung cấp cho Tòa án có hai loại, một là các chứng cứ có sẵn và các
chứng cứ cần phải đi tìm, thu thập. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “thu thập”
được hiểu là hoạt động “góp nhặt và tập hợp lại”8. Như vậy, nếu kết hợp hai định
nghĩa “thu thập” và “chứng cứ” đã nêu ở trên thì có thể hiểu một cách khái quát
khái niệm thu thập chứng cứ trong TTDS là: hoạt động tìm kiếm, tập hợp, góp nhặt
các tài liệu, các tình tiết có liên quan tới một vụ việc dân sự nhằm khôi phục lại sự
thật khách quan của vụ việc đó. Do vậy, về mặt khoa học pháp lý có thể thống nhất
với quan điểm cho rằng, “thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ,
tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết
vụ việc dân sự”9.
Xét trên góc độ thông tin, thì thu thập chứng cứ là quá trình thu thập thông
tin để làm căn cứ xác định sự thật của vụ án. Xem xét dưới góc độ pháp luật tố tụng
dân sự, hoạt động thu thập chứng cứ là một hoạt động tố tụng dân sự do các chủ thể
8
Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.958.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.164.
cách giải quyết một vấn đề cụ thể”10. Như vậy, nếu kết hợp khái niệm “biện pháp”
và khái niệm hoạt động “thu thập chứng cứ” thì khái niệm biện pháp thu thập
chứng cứ được hiểu là: cách làm, cách thực hiện hoạt động tìm kiếm, tập hợp, góp
nhặt các tài liệu, các tình tiết có liên quan tới một vụ việc dân sự nhằm khôi phục lại
sự thật khách quan của vụ việc đó. Công tác thu thập chứng cứ là khâu quan trọng
nhất trong quá trình chứng minh, là tiền đề cho các hoạt động chứng minh còn lại
như cung cấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Do vậy, việc tiến hành thu thập
10
Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.64
17
chứng cứ của Luật sư cần phải đảm bảo tính hiệu quả và tính hợp pháp của chứng
cứ thu thập được. Thu thập chứng cứ vừa là hoạt động mang tính khoa học, vừa
mang tính pháp lý nên quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ vừa phải thực hiện
theo những nguyên tắc, quy luật của nhận thức, vừa phải bảo đảm tính pháp lý, hay
nói cách khác là phải khách quan và phải tuân thủ đúng quy định về biện pháp, trình
tự, thủ tục của pháp luật. Nói cách khác để mang lại hiệu quả cao nhất cũng như bảo
đảm chứng cứ thu thập được có giá trị chứng minh trước tòa thì việc tiến hành hoạt
động thu thập chứng cứ, cần phải được Luật sư thực hiện theo những biện pháp thu
thập chứng cứ đã được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Việc quy định tương đối cụ thể về các biện pháp thu thập chứng cứ, đã tạo cơ
sở cho hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư được tiến hành một cách chặt chẽ,
khách quan và đạt hiệu quả cao nhằm mục đích bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp
pháp của khách hàng.
1.2.3. Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền của người bảo vệ quyền
nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự. Đồng thời năm 2011, khi sửa đổi bổ sung
BLTTDS 2004, lần đầu tiên nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được Nhà nước
ta ghi nhận trong Điều 23a của BLTTDS sửa đổi 2011 với nội dung: “Điều 23a. Bảo
đảm quyền tranh luận tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án
bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”. Đây là
sự thay đổi quan trọng, mang tính đột phá trong cải cách tư pháp của nước ta. Các quy
định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư tham ra sâu rộng vào quá trình tố
tụng dân sự, đặc biệt qua việc chủ động thu thập chứng cứ để bảo đảm nguyên tắc
tranh tụng và hoạt động chứng minh. Hơn thế nữa, Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 không chỉ kế thừa Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 trong việc ghi nhận nguyên tắc
tranh tụng và quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà còn quy định cụ thể
nguyên tắc tranh tụng và các biện pháp thu thập chứng cứ, tạo hành lang pháp lý
cho việc gỡ bỏ những khó khăn trong quá trình thu thập chứng của đương sự, Luật
sư trong quá trình thu thập chứng cứ khi áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Thông qua BLTTDS năm 2015, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng đã được quy định rõ
ràng, cụ thể hơn:
Điều 24. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử:
1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu
thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ
thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu
quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu,
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của
Bộ luật này…
19
quyết định đúng pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan trên cơ sở bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên đương sự. Tuy nhiên, do bản thân Tòa
án không thu thập chứng cứ với ý nghĩa là bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm của mình
12
Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn
thạc sĩ, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.4
20
nên có những hạn chế nhất định về mặt khách quan cũng như chủ quan trong quá
trình thu thập chứng cứ đối với mục đích chứng minh của đương sự.
Do vậy, có thể thấy sự tham gia thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính
chất hỗ trợ cho các đương sự, còn để bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp
của chính mình, thì đương sự cần chủ động thu thập chứng cứ. Và để mang lại hiệu
quả cao nhất trong việc thu thập chứng cứ của đương sự thì cần phải có sự tham gia,
giúp đỡ của Luật sư – những người có trình độ hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm
tham gia tố tụng.
Hiện nay, pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm chứng minh thuộc về
các bên đương sự, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế khi chưa tạo ra được cơ chế tốt
nhất để các bên đương sự có thể thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình
dẫn đến việc gặp phải rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập
chứng cứ. Đồng thời cũng do trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế mà phần lớn
đương sự khi tham gia tố tụng dân sự không thể thực hiện tốt việc thu thập, sử dụng
chứng cứ cũng như trách nhiệm chứng minh.
Với sự tham gia của Luật sư trong hoạt động thu thập chứng cứ sẽ bảo đảm
tính chính xác cao, có độ tin cậy gần như tuyệt đối, là căn cứ cho việc bảo vệ các
yêu cầu của đương sự hoặc bác bỏ yêu cầu của đương sự khác. Đồng thời hoạt động
thu thập chứng cứ của Luật sư cũng là căn cứ quan trọng cho việc đưa ra các kết