BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN THÀNH
CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRIỀU DƢƠNG
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong Luận văn là trung thực. Các kết luận khoa học trong Luận
văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong các công trình khác.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
TTDS
Tố tụng dân sự
6
PLTTGQVADS
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự
7
PLTTDS
Pháp luật tố tụng dân sự
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BIỆN PHÁP THU
THẬP CHỨNG CỨ .......................................................................................... 1
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các biện pháp thu thập chứng cứ. ........ 1
1.1.1. Khái niệm biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án............................... 1
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp thu thập chứng cứ...................................... 3
1.1.3. Ý nghĩa của các biện pháp thu thập chứng cứ. ....................................... 4
1.2. Cơ sở quy định các biện pháp thu thập chứng cứ. ..................................... 5
1.2.1. Cơ sở về mô hình tố tụng ......................................................................... 5
1.2.2. Cơ sở về mặt lịch sử các quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ
trong PL TTDS Việt Nam. ................................................................................. 8
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 67
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Thu thập chứng cứ là hoạt động đặc biệt quan trọng của TTDS, việc thu thập
chứng cứ đầy đủ sẽ là cơ sở để có kết luận khách quan và toàn diện về các tình tiết,
sự kiện khách quan của vụ việc dân sự, từ đó Tòa án có thể ra những bản án, quyết
định đúng đắn, phù hợp với hiện thực khách quan của vụ việc dân sự đã xảy ra trên
thực tế. Qua đó quyền, lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự đƣợc bảo đảm. Do vậy,
PLTTDS đã có những quy định về chứng cứ và chứng minh nói chung và những
quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói riêng khá đầy đủ và ngày
càng hoàn thiện.
PLTTGQVADS 1989 ra đời điều chỉnh các quan hệ trong việc giải quyết các vụ
án dân sự, chấm dứt thời kỳ điều chỉnh quan hệ TTDS bằng các sắc lệnh và các nghị
định, là mốc đánh dấu bƣớc phát triển mới của công tác lập pháp cũng nhƣ
PLTTDS. Kế thừa các quy định của PLTTDS trong giai đoạn trƣớc đó khi quy định
về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, PLTTGQVADS năm 1989 khẳng định
vai trò của Tòa án trong hoạt động thu thập chứng cứ trong toàn bộ quá trình giải
quyết vụ án dân sự thì Tòa án có nhiệm vụ thu thập chứng cứ, “xem xét mọi tình tiết
của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải
quyết vụ án được chính xác”, quy định này của PLTTGQVADS đã đáp ứng đƣợc
yêu cầu của hoạt động thực tiễn của Tòa án trong giải quyết các vụ án dân sự trong
điều kiện trình độ dân trí còn chƣa cao, các hoạt động trợ giúp pháp lý còn chƣa
phát triển. Quy định của PLTTGQVADS là phù hợp với điều kiện thực tế và đã hỗ
trợ đƣợc các đƣơng sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy
nhiên, Tòa án phải tiến hành việc xác minh, thu thập chứng cứ, xây dựng và củng cố
hồ sơ vụ án. Nhƣng việc xác minh, thu thập chứng cứ là “làm thay” đƣơng sự trong
việc chứng minh để bảo vệ quyền lợi của chính đƣơng sự lại là nguyên nhân chính
dẫn đến sự quá tải các công việc của Tòa án trong khi cán bộ ngành Tòa án vừa
đổi, bổ sung của về biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong BLTTDS 2011
vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế trong các quy định về hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án, khiến cho các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án không đạt
đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn.
Ngoài ra, trong thực tiễn vẫn còn diễn ra khá phổ biến những việc vi phạm các
quy định của BLTTDS khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án,
các Tòa án lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong việc tiến hành thu thập chứng cứ
để giải quyết vụ việc dân sự vì quy định của BLTTDS chƣa đầy đủ và chặt chẽ. Đây
là một nguyên nhân phổ biến dẫn đến việc Tòa án cấp trên hủy bản án của các Tòa
án cấp dƣới, nên không ít vụ án phải xét xử đi xét xử lại nhiều lần, kéo dài nhiều
năm chƣa chấm dứt, gây bức xúc cho các đƣơng sự.
Từ những thực trạng đó, việc nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp thu thập chứng
cứ của Tòa án” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Qua việc tìm hiểu các quy
định của PLTTDS về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và đồng thời với
đó là thực tiễn áp dụng và những vƣớng mắc của Tòa án trong việc áp dụng các
biện pháp này, những khó khăn của đƣơng sự khi yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập
chứng cứ trong trƣờng hợp đƣơng sự không thể tự mình thu thập đƣợc. Từ đó đƣa
ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTDS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của
hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, đồng thời hỗ trợ đƣơng sự trong quá trình
thu thập chứng cứ nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án là một trong những nội dung quan
trọng của PLTTDS. Hoạt động thu thập chứng cứ có vai trò quan trọng trong việc
đáp ứng những yêu cầu của chiến lƣợc cải cách tƣ pháp về việc xây dựng nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, đây là một đề tài luôn giành đƣợc sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề này ở nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận khác
nhau, có thể kể đến nhƣ:
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Minh Hằng với đề tài: “Chế định
pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trên thực tế. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng có
sự đối chiếu, so sánh với pháp luật một số nƣớc khi quy định về các biện pháp thu
thập chứng cứ.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài, xuất phát từ việc nghiên cứu quy định của
PLTTDS về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trên cơ sở đó chỉ ra những
điểm hạn chế và đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định của PLTTDS quy định
về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn
phân tích đánh giá đƣợc thực tiễn trong hoạt động áp dụng các quy định BLTTDS
về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, qua đó đóng góp những kiến nghị
bảo đảm cho Tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ có hiệu quả trong
hoạt động thực tiễn.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Với phạm vi của một đề tài luận văn thạc sĩ luật học, luận văn không nghiên cứu
toàn bộ các vấn đề về chứng minh và chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự, mà
chỉ nghiên cứu về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong pháp luật tố
tụng và trên cơ sở áp dụng quy định này trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân
sự.
Luận văn cũng có đề cập đến một số quy định liên quan về chứng minh và thu
thập chứng cứ trong quy định của pháp luật tố tụng của Cộng hòa liên bang Đức,
của Hoa Kỳ; hay tố tụng dân sự của Anh, Trung Quốc, Cộng hòa liên bang Nga.
Nhƣng chỉ có tính chất đối chiếu, so sánh và mang tính tham khảo mà không đi sâu
nghiên cứu về lĩnh vực này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLê Nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nƣớc
pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, luận văn còn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu nhƣ: phân tích, tổng hợp, logic, phƣơng pháp lịch sử, quy nạp, so
sánh… để làm sáng tỏ vấn đề trong phạm vi nghiên cứu.
việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có sức thuyết phục và có căn cứ thực tê và
căn cứ pháp lý.
Tòa án mặc dù không có nghĩa vụ chứng minh trong TTDS vẫn phải làm rõ
những cơ sở của quyết định, bản án của mình, tức là phải chứng minh những tình
tiết, sự kiện làm cơ sở cho các kết luận của Tòa án thông qua các hoạt động thu
thập chứng cứ, củng cố hồ sơ vụ việc dân sự. Vì vậy, sự tích cực chứng minh của
Tòa án nhằm bảo đảm tìm ra chân lý, có thể là giảm được những hậu quả bất lợi
cho đương sự trong trường hợp đương sự không thực hiện được, không thực hiện
tốt nghĩa vụ chứng minh của mình[5, tr 144].
BLTTDS quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án xuất phát từ
chức năng vai trò của Tòa án trong TTDS trong việc giải quyết các vụ việc dân sự,
ngoài ra trong điều kiện thực tế của nƣớc ta thì việc quy định Tòa án trong những
điều kiện, những trƣờng hợp cụ thể nhất định tiến hành các biện pháp thu thập
chứng cứ có ý nghĩa hỗ trợ các đƣơng sự và ý nghĩa xã hội sâu sắc. Vậy các biện
pháp thu thập chứng cứ của Tòa án là gì ?
1.1.1. Khái niệm biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án.
2
Tìm hiểu khái niệm “biện pháp thu thập chứng cứ” trƣớc hết nghiên cứu dƣới
góc độ ngôn ngữ học thì khái niệm này đƣợc ghép bởi ba từ “biện pháp”; “thu thập”
và “chứng cứ”, việc lý giải dƣới góc độ ngôn ngữ học và dƣới góc độ là một thuật
ngữ khoa học pháp lý sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát hơn về khái niệm “biện
pháp thu thập chứng cứ”.
Theo giải nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì: “Biện pháp” là một danh từ dùng để
chỉ: cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.[10, tr 161]
“Thu thập” đƣợc hiểu là hoạt động: nhặt nhạnh, thu góp lại”[10, tr 1593]; “chứng
cứ” đƣợc hiểu: là những cái cụ thể nhƣ lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ
điều gì đó có thật[17, tr 186]
thu thập chứng cứ, đã làm nổi bật lên đƣợc ở góc độ pháp lý, Tòa án khi tiến hành
các biện pháp thu thập chứng cứ, không phải là Tòa án thu thập từ đầu mà chỉ là thu
thập thêm những chứng cứ để củng cố hồ sơ cũng nhƣ có cái nhìn toàn diện hơn về
vụ việc dân sự đang phải giải quyết, cũng nhƣ đã thể hiện trong nội hàm khái niệm
tƣơng đối rõ về mục đích của các biện pháp thu thập chứng cứ đó là “nhằm tìm,
phát hiện, thu giữ… những bằng chứng…”. Tuy nhiên, khái niệm trên không thể
hiện đƣợc nội dung là trong trƣờng hợp nào thì Tòa án tiến hành áp dụng một hoặc
một số biện pháp thu thập chứng cứ? hoặc Tòa án có thể linh hoạt áp dụng biện
pháp thu thập chứng cứ nào không và trong điều kiện nào, cũng nhƣ trình tự, thủ tục
áp dụng các biện pháp đó để đảm bảo tính pháp lý của chứng cứ thu thập đƣợc.
Qua tham khảo những khái niệm trên về “biện pháp thu thập chứng cứ” trong
TTDS, ta có thể xây dựng khái niệm về biện pháp thu thập chứng cứ dƣới góc độ
khoa học pháp lý nhƣ sau:
“Biện pháp thu thập chứng cứ trong TTDS là tổng thể các cách thức, phương
pháp do luật TTDS quy định đối với việc Tòa án trong những điều kiện nhất định
được sử dụng những cách thức do BLTTDS quy định, nhằm thu thập thêm những
tình tiết, sự kiện, thông tin dùng làm căn cứ để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp thu thập chứng cứ
Thứ nhất: về chủ thể có quyền thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ ở đây
là Tòa án. Hoạt động thu thập chứng cứ nói chung bao gồm rất rộng và đó là quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể chứng minh trong TTDS, trong đó đƣơng sự, ngƣời đại
diện của đƣơng sự, ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự là chủ thể có
nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, Viện kiểm sát cũng thu
thập chứng cứ để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, việc áp
dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS thuộc về thẩm
quyền của Tòa án, chỉ có Tòa án trong những điều kiện nhất định thỏa mãn quy
định tại Điều 85 BLTTDS mới có quyền ra các quyết định áp dụng các biện pháp
thu thập chứng cứ này theo những trình tự thủ tục nhất định.
và triệt để hơn.
Đƣơng sự khi tham gia vào TTDS xuất phát từ quyền, lợi ích của mình vì
thế chứng cứ mà các bên đƣơng sự cung cấp sẽ thiên lệch về phía mình hơn, xuất
phát từ vị trí của Tòa án là ngƣời phải đứng ra phân xử vụ việc, vì thế cần phải có
5
cái nhìn khách quan và toàn diện về vụ việc cần phải giải quyết, ngoài ra đối với
những vụ việc đặc thù nhƣ chia tài sản là đất đai, nếu Tòa án chỉ căn cứ vào lời khai
của đƣơng sự và các giấy tờ cũng nhƣ sơ đồ mà các đƣơng sự cung cấp để chia thì
bản án, quyết định của Tòa án có thể không phù hợp với thực địa và sẽ không thể
thi hành án đƣợc (diện tích trong giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu có thể lớn hơn
hoặc nhỏ hơn diện tích trên thực tế; trên đất có cây lâu năm và tài sản khác mà sơ
đồ không thể hiện đƣợc…).
Vì vậy, việc Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong những
trƣờng hợp cần thiết để thu thập chứng cứ, củng cố hồ sơ vụ việc sẽ giúp Tòa án có
đƣợc những chứng cứ sát đáng làm căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc dân sự
đúng đắn, khách quan và toàn diện.
Đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự: thì việc
đƣơng sự có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ đƣơng sự trong hoạt động thu thập chứng
cứ khi đƣơng sự “tự mình không thể thực hiện được” là cứu cánh đối với đƣơng sự
trong quá trình chứng minh, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Hiện nay
BLTTDS quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đƣơng sự là một nguyên tắc trong
TTDS, tuy nhiên việc chƣa tạo ra đƣợc cơ chế để các bên đƣơng sự có thể làm tốt
nghĩa vụ chứng minh của mình, đặc biệt là những khó khăn mà đƣơng sự gặp phải
trong quá trình thu thập chứng cứ. Điều này ảnh hƣớng trực tiếp đến việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự, vì vậy sự hỗ trợ của Tòa án đối với đƣơng sự
trong một số trƣờng hợp nhất định Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp thu
thập chứng cứ sẽ có tác dụng hỗ trợ các đƣơng sự trong quá trình TTDS chứng
ra tại phiên tòa cũng có thể đƣợc các bên dùng làm chứng cứ chống lại nhau. Để đƣa ra
phán quyết, Thẩm phán chỉ dựa trên các chứng cứ đƣa ra tại phiên tòa và không có
quyền biết đến các chứng cứ đó trƣớc khi phiên tòa diễn ra. Trong suốt quá trình tố
tụng, các bên đƣơng sự bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng
cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền, lợi ích hợp pháp của
mình trƣớc Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Với mô hình tố tụng xét hỏi “Thẩm cứu” có nguyên gốc trong tiếng Pháp
xuất phát từ từ “Inquisitions” đƣợc sử dụng để chỉ việc thẩm tra, thẩm vấn của các
Tòa án thiên chúa giáo kể từ thế kỷ 13. Đặc trƣng của loại hình tố tụng này đó là đề
cao vai trò chủ động của Thẩm phán. Thẩm phán là ngƣời đƣa ra quyết định điều tra
khi xảy ra một vụ án nào đó. Thẩm phán là ngƣời có trách nhiệm tìm ra sự thật trên
cơ sở các sự việc, chứng cứ.
Cũng chính Thẩm phán là ngƣời chỉ đạo toàn bộ quá trình tố tụng, kể cả giai
đoạn điều tra. Ở các nƣớc theo truyền thống tố tụng này nhƣ Cộng hòa Pháp, Cộng
hòa liên bang Nga, theo đó, pháp luật tố tụng dân sự luôn ghi nhận và đều cao vai
trò chủ động của Thẩm phán trong việc chứng minh sự việc. Trƣớc khi mở phiên
tòa, tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu đều đƣợc điều tra thu thập đầy đủ và phản
7
ánh trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa thẩm phán thẩm tra lại tính hợp pháp và tính có
căn cứ của các chứng cứ, tài liệu này và làm rõ thêm các tình tiết của vụ án bằng
việc xét hỏi, hƣớng dẫn cho các bên đƣơng sự tranh luận với nhau về đánh giá
chứng cứ, căn cứ pháp lý và đề xuất hƣớng giải quyết vụ án. Thẩm phán trong tố
tụng xét hỏi không phải là ngƣời trọng tài mà là ngƣời điều khiển phiên tòa, bảo
đảm phiên tòa đƣợc tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
Hiện nay trên thế giới việc xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng hay tố tụng
xét hỏi tại các nƣớc, thì dù mô hình tố tụng nào cũng có những mặt hạn chế của nó
và các mô hình tố tụng này cũng đƣợc cải biến đi nhiều cho phù hợp với thực tế của
thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, trên thực tế đƣơng sự trong TTDS đã
không thực hiện đƣợc nghĩa vụ chứng minh của mình. Trong khi Tòa án trong
TTDS để giải quyết vụ việc dân sự thì bắt buộc phải có đƣợc một lƣợng chứng cứ
cần thiết để căn cứ vào đó bản án, quyết định đƣợc ban hành ra, khi đƣơng sự không
thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh đã ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động TTDS của
Tòa án, đến hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự phát sinh, đến tính có căn cứ và
hợp pháp của bản án, quyết định Tòa án tuyên, đến chất lƣợng của hoạt động xét xử
của Tòa án…, còn BLTTDS 2004 để đảm bảo nguyên tắc đƣơng sự có quyền và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh (Điều 6 BLTTDS) đã thu hẹp sự tham
gia của Tòa án vào hoạt động thu thập chứng cứ, và Tòa án chỉ có thể tiến hành một
số biện pháp thu thập chứng cứ khi mà đƣơng sự “Không thể tự mình thu thập được
chứng cứ” và “có đơn yêu cầu”. Thực tế này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động
giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc thu thập chứng cứ để chứng minh
bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự.
Chính vì vậy việc BLTTDS đã đƣợc sửa đổi, bổ sung 2011 đã có những quy định
về điều kiện mà Tòa án có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo
hƣớng mở sẽ đem lại sự tích cực chủ động hơn cho Tòa án trong hoạt động TTDS
hƣớng đến việc giải quyết các vụ việc dân sự chính xác và đạt hiệu quả cao, đối với
các đƣơng sự thì sẽ có đƣợc sự trợ giúp cần thiết của Tòa án trong quá trình thu thập
chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình.
1.2.2. Cơ sở về mặt lịch sử các quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ
trong PL TTDS Việt Nam.
1.2.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989
Năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nƣớc dân chủ nhân dân đầu
tiên ở khu vực Đông Nam Á đƣợc thành lập. Đánh dấu những sự thay đổi sâu sắc và
toàn diện trong đời sống xã hội và pháp lý. Vị thế của nhân dân ta từ ngƣời nô lệ
mất nƣớc trở thành ngƣời làm chủ đất nƣớc, làm chủ vận mệnh dân tộc và tự mỗi
ngƣời làm chủ chính bản thân mình, điều này đƣợc ghi nhận trong bản hiến pháp
chất lƣợng, nó là nguyên nhân tạo ra sự chậm trễ trong việc giải quyết các vụ việc
dân sự, và các vụ kiện dân sự bị hủy án, sửa án do Tòa án không tiến hành đầy đủ
biện pháp thu thập chứng cứ.
10
Để nhằm giảm bớt sự quá tải của các Tòa án địa phƣơng, TANDTC đã có
những hƣớng dẫn cụ thể về việc xác định chứng cứ tùy vào những vụ việc cụ thể.
Trong báo cáo tổng kết nghành Tòa án 1965 có hƣớng dẫn cụ thể về chứng cứ trong
việc tranh chấp về quan hệ cha con; Thông tƣ số 15/TANDTC ngày 27/9/1974 của
TANDTC nhắc lại đƣờng lối xử lý một vài loại tranh chấp về dân sự và hôn nhân
gia đình; Công văn số 06/NCLP ngày 29/6/1966 của TANDTC về thủ tục xét xử bắt
ngƣời đàn ông thông gian chịu phí tổn nuôi con ngoại tình; Công văn số 86/DS
ngày 18/2/1970 của Tòa dân sự TANDTC tổng hợp nhận xét thỉnh thị trong năm
1969; Chứng cứ về hôn nhân thực tế đƣợc hƣớng dẫn cụ thể tại thông tƣ số
112/NCLP ngày 19/8/1972 của TANDTC hƣớng dẫn việc xử lý về dân sự những
hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn do luật định….
Việc điều chỉnh hoạt động tố tụng dân sự nói chung đặc biệt là hoạt động
chứng minh của Tòa án bằng các công văn, thông tƣ liên tịch hƣớng dẫn hoạt động
xét xử. Điều này cho thấy sự thiếu hoàn chỉnh của pháp luật, việc cứ vƣớng mắc ở
đâu đó trong hoạt động thực tế thì lại có văn bản hƣớng dẫn điều này gây khó khăn
cho hoạt động xét xử của Tòa án và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
đƣơng sự. Tuy nhiên, điều này cũng dễ hiểu khi trong giai đoạn này đất nƣớc ta vẫn
đang tiến hành cuộc kháng chiến để thống nhất đất nƣớc.
Pháp luật tố tụng dân sự giai đoạn này cũng đã có những quy định tƣơng đối
hoàn chỉnh về các nguyên tắc và thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án, các biện
pháp điều tra trong giai đoạn này đã đem đến những hiệu quả nhất định trong thực
tiễn và khi xây dựng BLTTDS sau này về các biện pháp thu thập chứng cứ đã có sự
kế thừa và phát triển các quy định đƣợc bắt nguồn từ các hƣớng dẫn của TANDTC
chứng; Nghiên cứu tài liệu, đồ vật và tài sản bị tranh chấp; Trưng cầu giám định;
Cử Hội đồng định giá tài sản, đồ vật; Giữ lại đồ vật, tài sản bị tranh chấp khi thấy
cần thiết; Điều tra trong quần chúng; Ủy thác điều tra”
Nhƣ vậy, điểm qua một loạt các văn bản pháp luật điều chỉnh về tố tụng dân sự
trong giai đoạn này ta có thể nhận thấy rõ trách nhiệm thu thập chứng cứ, điều tra
lập hồ sơ vụ việc dân sự khi có đơn kiện là nhiệm vụ của TAND. Thông tƣ
06/TATC ngày 25/2/1974 TATD là một văn bản hƣớng dẫn có giá trị thực tiễn rất
cao của TANDTC cho các TAND hiện nay trong pháp luật TTDS hiện hành có
nhiều quy định mang tính kế thừa về các biện pháp thu thập chứng cứ của TA còn
phản ánh rõ nét dấu ấn sự kế thừa này.
Việc điều chỉnh pháp luật tố tụng bằng các thông tƣ, nghị định, thông tƣ liên tịch
trong giai đoạn này cho thấy những hạn chế của nó, thiếu tính khái quát cao và giá
trị pháp lý. Trong khi thực tế tố tụng dân sự còn nhiều vụ việc nhiều trƣờng hợp mà
12
các Thông tƣ này không thể bao quát hết đƣợc. Đối với những quan hệ pháp luật
tranh chấp mà không đƣợc hƣớng dẫn, khi xét xử các Thẩm phán sẽ gặp khó khăn
thiếu cơ sở để viện dận và đánh giá vụ việc.
Tuy nhiên, những quy định về tố tụng dân sự trong giai đoạn này đặc biệt về các
biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, việc xác định chứng cứ trong từng quan hệ
pháp luật cụ thể, cũng nhƣ cách phân loại chứng cứ, đánh giá chứng cứ đối với một
số loại vụ việc dân sự đã tạo nên nền tảng cơ bản trong việc hình thành những quy
định sau này trong PLTTGQVADS và BLTTDS.
1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến BLTTDS 2004.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đƣợc ban hành ngày 29/11/1989 là
một dấu mốc đánh dấu sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự nƣớc ta. Đề cập
đến góc độ nghĩa vụ chứng minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự thì đã có
những chuyển biến nhất định.
tịch, các Thông tƣ hƣớng dẫn của TANDTC thì bây giờ đƣợc hệ thống hóa và tổng
hợp lại điều chỉnh chung tại một Pháp lệnh thống nhất. Ngoài ra, khi quy định về
hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, chế định điều tra đã trở thành trung tâm
của PLTTGQVADS trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng dân sự
bằng một pháp lệnh chỉ có vài chục điều luật thì không bao giờ là đủ cả, trong quá
trình thực tiễn các Thẩm phán nói riêng và hệ thống Tòa án nói chung đã gặp
không ít những khó khăn: mặc dù đã quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của
đƣơng sự khi khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình, tuy nhiên trong
suốt một thời gian dài trách nhiệm này thuộc về Tòa án, đặc biệt trong hoàn cảnh
điều kiện nƣớc ta các hoạt động bổ trợ tƣ pháp, trợ giúp pháp lý còn chƣa đƣợc
triển khai một cách có hệ thống và chƣa phát triển để hỗ trợ ngƣời dân nên việc
chứng cứ do đƣơng sự xuất trình để chứng minh cho yêu cầu của mình là không
nhiều, nếu có thì cũng không đủ điều kiện về hìh thức pháp lý cũng nhƣ về mặt
nội dung. Trách nhiệm điều tra và chứng minh vẫn nằm trên vai của Tòa án. Hệ
thống Tòa án lúc này còn thiếu cả về số lƣợng nhân lực, cơ sở vật chất và cả chất
lƣợng nguồn nhân lực của Tòa, khi trách nhiệm điều tra, chứng minh thuộc về họ,
đã có những Tòa án khi giải quyết vụ việc dân sự đã tiến hành việc xác minh thu
thập chứng cứ không đầu đủ, xây dựng hồ sơ vụ án sơ sài, không vô tƣ khách quan
trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ; Thẩm phán khi nghiên cứu, đánh giá lời
khai mang tính chủ quan, tin ngay vào lời khai của đƣơng sự hoặc của một bên
đƣơng sự để kết luận mà không kiểm tra, xác minh bằng những nguồn chứng cứ
khác; Thậm trí có trƣờng hợp xác định sai cả quan hệ pháp luật nội dung dẫn đến
việc điều tra và thu thập chứng cứ sai lệch, không bảo vệ đƣợc quyền và lợi ích
của đƣơng sự…
14
1.2.2.3. Giai đoạn từ 2004 đến nay
15
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp thu thập chứng
cứ có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Biện pháp thu thập chứng cứ trong TTDS là tổng thể các cách thức, phƣơng
pháp do luật TTDS quy định đối với việc Tòa án trong những điều kiện
nhất định sử dụng những cách thức do BLTTDS quy định, nhằm thu thập
thêm những tình tiết, sự kiện, thông tin dùng làm căn cứ để giải quyết
đúng đắn vụ việc dân sự
2. Các biện pháp thu thập chứng cứ trong TTDS có một số đặc điểm đặc trƣng
nhƣ sau: đặc trƣng về chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp thu
thập chứng cứ trong quy định của BLTTDS đó là Tòa án (Thẩm phán
đƣợc phân công giải quyết vụ việc dân sự cụ thể); Về điều kiện để Tòa án
áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ; Về tính đảm bảo thời hạn tố
tụng trong TTDS việc áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ phải nhanh
chóng, đúng pháp luật.
3. Việc quy định các biện pháp thu thập chứng cứ trong BLTTDS có ý nghĩa to
lớn đối với Tòa án trong việc có đƣợc những chứng cứ quan trọng trong
TTDS giải quyết vụ việc dân sự cụ thể đảm bảo cơ sở và căn cứ pháp lý
của bản án, quyết định của Tòa án; đối với đƣơng sự thì có đƣợc sự trợ
giúp quan trọng của Tòa án trong việc phát hiện và thu thập đƣợc những
chứng cứ phục vụ việc chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Đồng thời thể hiện chức năng xã hội của Tòa án.
4. Cơ sở của việc quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án xuất
phát từ đặc điểm mô hình tố tụng, đồng thời cũng xuất phát từ điều kiện
thực tế của nƣớc ta khi trình độ dân trí còn chƣa cao, đƣơng sự không thể
thực hiện tốt quyền nghĩa vụ chứng minh của mình thì việc quy định Tòa
án trong những trƣờng hợp nhất định tiến hành thu thập chứng cứ là một