Tạp chí luật học số 6/2003 33
nghiên cứu - trao đổi
TS. Nguyễn Quốc Hoàn *
rong h thng cỏc khỏi nim ca lớ lun
v phỏp lut, quy phm phỏp lut
(QPPL) l khỏi nim cú ý ngha rt ln c v
mt lớ lun v thc tin. Thụng qua khỏi
nim ny, chỳng ta cú th tỡm hiu c th
hn v phỏp lut vi cỏc khỏi nim khỏc nh
gi nh, quy nh ch ti. Cng nh cú lớ
thuyt v QPPL m trong thc tin hot
ng xõy dng phỏp lut, cỏc ch th cú
thm quyn mi cú th xỏc nh c hỡnh
thc th hin cỏc QPPL vi t cỏch l s
biu t c th ý chớ ca nh nc trong cỏc
vn bn QPPL.
Tuy nhiờn, cựng vi s phỏt trin ca h
thng lớ lun v phỏp lut, nhng quan im
lớ lun v QPPL ó bc l nhiu bt cp, ũi
hi phi cú s nghiờn cu mt cỏch y v
ton din hn. Bi vit ny nhm chia s vi
cỏc nh lut hc c bit l cỏc nh nghiờn
cu lớ lun v phỏp lut mt s vn trong
lớ thuyt v QPPL.
1. V khỏi nim quy phm phỏp lut
quỏt v ton din. Thc t tn ti ca cỏc
QPPL cho thy khụng phi mi QPPL u
bt buc cỏc ch th phi thc hin. Cú rt
nhiu QPPL m ni dung ca nú khụng buc
ch th phi thc hin, chng hn nh cỏc
QPPL cho phộp. Vớ d: "Trong thi hn bo
hnh nu bờn mua phỏt hin c khuyt tt
ca vt mua bỏn, thỡ cú quyn yờu cu bờn
bỏn sa cha khụng phi tr tin, gim giỏ,
T
* Ging viờn Khoa hnh chớnh - nh nc
Trng i hc lut H Ni 34
T¹p chÝ luËt häc sè 6/2003
nghiªn cøu - trao ®æi
đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại
vật và lấy lại tiền" (Điều 439 Bộ luật dân
sự). Quy định này không bắt buộc chủ thể
phải thực hiện.
Mặt khác, việc khẳng định là tất cả các cá
nhân, tổ chức khi ở vào điều kiện và hoàn
cảnh mà QPPL xác định đều thực hiện QPPL
cũng cần phải được xem xét kĩ hơn xuất phát
từ lí thuyết về hiệu lực của văn bản QPPL và
thực tế trình bày các QPPL trong các văn bản
QPPL. Khi nghiên cứu về các văn bản QPPL
và các QPPL, chúng ta thấy rằng các văn bản
pháp cưỡng chế của nhà nước không phải là
những biện pháp duy nhất. Bên cạnh các biện
pháp cưỡng chế nhà nước như các chế tài để
áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật,
nhà nước còn sử dụng các biện pháp khác
nhằm động viên, khuyến khích mọi người thực
hiện pháp luật như các biện pháp khen thưởng.
Vì vậy, nếu chỉ dừng lại ở khẳng định về sự
đảm bảo thực hiện QPPL bằng các biện pháp
cưỡng chế của nhà nước chưa toàn diện và sẽ
dẫn đến bất cập trong lí thuyết về cơ cấu của
QPPL. Mặc khác, việc khẳng định như vậy
có thể dẫn đến việc thu hẹp nội dung chức
năng giáo dục của pháp luật.
Thứ ba là vấn đề thừa nhận các quy tắc
xử sự. Hầu như chưa có công trình nào giải
quyết một cách thấu đáo vấn đề thừa nhận
các quy tắc xử sự để chúng trở thành các
QPPL. Khi đặt ra vấn đề thừa nhận các quy
tắc xử sự chúng ta cần phải trả lời được câu
hỏi: Nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự
dưới những hình thức nào? Nếu trả lời được
câu hỏi này thì mới có thể xác định được các
QPPL được thừa nhận tồn tại trên thực tế
như thế nào.
Có quan điểm cho rằng việc thừa nhận
một quy tắc xử sự nào đó cần phải được
tuyên bố một cách chính thức của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong một văn bản
QPPL. Ở quan điểm này cũng còn có những
trình giải quyết các vụ việc cụ thể ở các nước
thuộc hệ thống pháp luật Common law.
Với cách đặt vấn đề như vậy thì câu hỏi
khác được đặt ra xuất phát từ nội dung này là
những quy tắc xử sự không phải do nhà nước
ban hành nhưng nhà nước xác định nghĩa vụ
của các chủ thể phải thực hiện các quy tắc xử
sự đó hoặc nhà nước đảm bảo việc thực hiện
các quy tắc xử sự đó thì chúng có phải là
QPPL hay không? Ở đây, có hai câu trả lời
không đồng nhất với nhau:
Câu trả lời thứ nhất là các quy tắc này
mặc dù không phải do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành nhưng nó lại được
nhà nước xác định nghĩa vụ của chủ thể pháp
luật phải tuân thủ quy tắc đó và trong những
trường hợp cần thiết nhà nước cũng xác định
biện pháp chế tài đối với chủ thể vi phạm các
quy tắc xử sự này, vì vậy phải coi đó như là
hình thức thừa nhận của nhà nước đối với
quy tắc xử sự. Do đó, các quy tắc này phải
được coi là QPPL. Ví dụ, khoản 6 Điều 6
Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định nghĩa
vụ của cán bộ công chức: “Có ý thức tổ chức
kỉ luật và trách nhiệm trong công tác; thực
hiện nghiêm chỉnh nội quy của cơ quan, tổ
chức ”. Quy định này xác định nghĩa vụ
phải thực hiện nội quy cơ quan của cán bộ,
công chức, vì vậy với cách lí giải nêu trên thì
nội quy đó đã được nhà nước thừa nhận. Nếu
trái pháp luật của hành vi này không phải là
các điều khoản trong nội quy của cơ quan
bởi vì quy phạm trong nội quy đó không
phải là QPPL.
2. Về cơ cấu của quy phạm pháp luật
Hiện nay, phần lớn các nhà luật học xác
định ba bộ phận của các QPPL là giả định,
quy định và chế tài. Trong đó, bộ phận giả
định nêu lên hoàn cảnh, điều kiện khi chủ thể
ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó thì xử sự theo
cách thức được xác định trong phần quy
định; bộ phận quy định nêu lên cách xử sự
của chủ thể khi ở vào điều kiện và hoàn cảnh
được nêu trong phần quy định còn bộ phận
chế tài xác định biện pháp áp dụng đối với
chủ thể vi phạm pháp luật tức là không thực
hiện đúng yêu cầu được nêu trong phần quy
định. Việc xác định các bộ phận của QPPL
như vậy cho phép chúng ta nghiên cứu được
từng nội dung cụ thể trong khái niệm của quy
phạm phạm pháp luật và nó là cơ sở để
nghiên cứu kĩ hơn về pháp luật với các khái
niệm như giả định, quy định, chế tài
Tuy nhiên, chúng ta thấy ngoài các chế
tài, nhà làm luật còn đưa ra những biện pháp
khen thưởng đối với chủ thể thực hiện tốt các
quyền và nghĩa vụ của mình. Như đã phân
tích ở trên thì những biện pháp này cũng là
những biện pháp để đảm bảo cho pháp luật
được thực hiện. Ví dụ: Điều 38 Pháp lệnh cán
không phù hợp với nội dung của khái niệm
QPPL. Nội dung chính của QPPL là quy tắc
xử sự hay cách xử sự mẫu của các chủ thể
chứ không phải là biện pháp để áp dụng đối
với chủ thể vi phạm pháp luật. Nếu chúng ta
hiểu quy tắc xử sự là khuôn mẫu cho hành vi
của con người gắn liền với những điều kiện
và hoàn cảnh nhất định thì một điều luật nào
đó chỉ nêu lên phần chế tài để áp dụng đối
với chủ thể vi phạm pháp luật mà coi đó là T¹p chÝ luËt häc sè 6/2003 37
nghiªn cøu - trao ®æi
QPPL thì dường như chưa thực sự phù hợp
với quan niệm về QPPL là “quy tắc xử sự”.
Nếu cho rằng với cơ cấu giả định - chế tài
thì quy phạm này là quy tắc cho hoạt động
áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm
quyền thì không đảm bảo tính lôgíc của các
bộ phận trong QPPL bởi vì quy tắc đó phải
được đặt ra cho chủ thể được nêu trong phần
giả định của nó.
Hơn nữa, ngay cả khi cho rằng nó là quy
tắc xử sự của chủ thể được nêu lên trong
phần giả định của QPPL, nếu nghiên cứu một
cách thấu đáo chúng ta có thể thấy nhiều biện
pháp chế tài pháp luật quy định khi chủ thể vi
phạm pháp luật phải gánh chịu nhưng đó
định khái niệm pháp lí. Các tác giả này đều
cho rằng QPPL định nghĩa hay quy định khái
niệm là “quy phạm quy định khái niệm pháp
lí nào đó ví dụ như Điều 8 Bộ luật hình sự”.
Nếu chúng ta quay trở lại khái niệm về QPPL
là "quy tắc xử sự" thì những điều luật nêu lên
một khái niệm pháp lí không phải là QPPL
bởi vì trong đó nó không chứa đựng bất kì
một quy tắc xử sự nào và vì thế không thể coi
các điều luật này là một QPPL. Mặc khác,
chúng ta cũng không thể xác định cơ cấu giả
định, quy định và chế tài của QPPL trong nội
dung của quy phạm định nghĩa nêu trên như
lí thuyết về cấu trúc của QPPL. Với cách lập
luận như vậy, thì dường như nhận định không
phải tất cả các điều luật trong một văn bản
QPPL đều chứa đựng các bộ phận của QPPL
là có cơ sở. Bởi vì, có những điều luật trong
một văn bản QPPL không phải là QPPL cũng
như không phải là một bộ phận nào của
QPPL. Các điều luật nên lên một khái niệm
pháp lí hoặc giải thích một thuật ngữ nào đó
trong các văn bản QPPL là những ví dụ điển
hình của các trường hợp như vậy.
Tương tự như vậy, cần phải nghiên cứu
một cách cụ thể hơn đối với việc xác định
loại “quy phạm bảo vệ” - có nội dung xác
định các biện pháp cưỡng chế nhà nước liên
quan đến trách nhiệm pháp lí hoặc xác định
xử sự cho người phạm tội mà nó “quy định
tội phạm và hình phạt đối với người phạm
tội”. Thứ hai, việc cho rằng có quy định “ẩn”
như vậy dường như cố gắng áp đặt một cách
cứng nhắc các bộ phận của một QPPL được
trình bày gắn liền với nhau trong một điều
luật. Điều này lại không phù hợp với lí thuyết
về cách trình bày của QPPL. Một QPPL có
thể được trình bày trong nhiều điều luật tức là
các bộ phận của QPPL nằm trong các điều
luật khác nhau của cùng một văn bản hoặc ở
các văn bản khác nhau. Trong thực tế, chúng
ta có thể tìm thấy các bộ phận của một QPPL
trong các điều luật khác nhau tức là bộ phận
“ẩn” của QPPL được thể hiện một cách rõ
ràng trong điều luật khác. Nói một cách khái
quát, việc cho rằng có bộ phận quy định “ẩn”
trong một số QPPL chỉ là việc cố gắng tìm
kiếm đầy đủ các bộ phận của QPPL trong
một điều luật mà thôi. Vì vậy, việc cho rằng
điều luật xác định biện pháp chế tài đối với
chủ thể khi họ vi phạm pháp luật là một
QPPL độc lập chỉ chứa đựng bộ phận chế tài
và giả định cho phần chế tài của một QPPL
nào đó thì chưa hoàn toàn thuyết phục, ví
dụ: Khoản 1 Điều 102 Bộ luật hình sự quy
định: “Người thấy người khác đang ở trong
tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có
khả năng cứu giúp mà không cứu giúp dẫn
đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh
định này:
Khoản 2 Điều 4 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định: “Nghiêm cấm việc
tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân
tự nguyện tiến bộ; cấm kết hôn giả tạo, lừa
dối để kết hôn, li hôn; cấm cưỡng ép li hôn, li
hôn giả tạo, cấm yêu sách của cải trong việc
cưới hỏi” và Điều 146 Bộ luật hình sự quy
định: “Người nào cưỡng ép người khác kết
hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở hôn
nhân tự nguyện tiến bộ bằng cách hành hạ
ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của
cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi này mà còn vi
phạm, thì vị phạt cảnh cáo, cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba
tháng đến ba năm”. Nếu theo quan điểm về
sự phân chia ngành luật nêu trên thì hai điều
luật này chứa đựng hai QPPL của hai ngành
luật khác nhau, còn nếu nghiên cứu về cấu
trúc của QPPL và cách thức trình bày các
QPPL thì hai điều luật này chỉ là các phần
khác nhau của một QPPL được trình bày ở
hai điều luật khác nhau của hai văn bản
QPPL khác nhau.
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa việc
phân loại QPPL và cơ cấu của QPPL chúng
ta cũng có thể thấy được sự không nhất quán
ở một khía cạnh khác, đó là vấn đề cơ cấu
của loại QPPL bảo vệ. Nếu cho rằng QPPL là
bộ phận đó lại là QPPL của hai ngành luật
khác nhau theo quan niệm truyền thống. Với
cách nhìn nhận như vậy thì việc định nghĩa
ngành luật là một hệ thống QPPL điều chỉnh
các quan hệ xã hội cùng loại trong một lĩnh
vực nhất định của đời sống xã hội cần phải
được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn. Vả lại, 40
Tạp chí luật học số 6/2003
nghiên cứu - trao đổi
mi QPPL khụng phi l iu chnh mt
quan h xó hi m mi quan h xó hi c
iu chnh bi nhiu QPPL khỏc nhau.
Vn th ba liờn quan n vic phõn
loi QPPL l cn c phõn loi v cỏc loi
QPPL. Vi cỏc cn c c a ra trong vic
phõn chia QPPL thnh cỏc loi khỏc nhau, dự
da vo bt kỡ tiờu chớ no thỡ mt QPPL c
th cng u cú th xp c vo mt loi
nht nh. Cỏc tiờu chớ phõn loi c
trỡnh by trong cỏc ti liu liờn quan cha ỏp
ng c yờu cu nh vy. iu 146 BLHS
l vớ d c th minh ho cho nhn nh
ny. Nu cn c vo vai trũ trong vic iu
chnh cỏc quan h xó hi hoc cn c vo ni
dung ca QPPL thỡ quy phm trong iu 146
nờu l QPPL bo v. Tuy nhiờn, nu cn c
vo cỏch trỡnh by QPPL hoc da vo phm
Vic tham gia cỏc cụng c quc t mt
mt to cho Vit Nam ch ng trong h
thng cỏc ch th ca lut phỏp quc t, mt
khỏc, giỳp Vit Nam cú iu kin tng cng
giao lu, hp tỏc, hc tp kinh nghim quý
bỏu v mi mt, trong ú cú lnh vc lao ng
v phỏp lớ quc t. Hn na, Vit Nam mong
mun v t quyt tõm sn sng chuyn i h
thng phỏp lut lao ng núi riờng v h thng
phỏp lut núi chung theo xu hng hi nhp
phỏp lớ hi nhp kinh t.
Trờn c s vic kớ kt, tham gia cỏc iu
c quc t v lao ng, Vit Nam cú trỏch
nhim chuyn hoỏ cỏc quy nh ú vo h
thng phỏp lut lao ng quc gia hoc s
dng vo vic iu chnh cỏc quan h lao
ng xó hi theo hng u tiờn ỏp dng trong
trng hp cha cú s chuyn hoỏ. Nu nhỡn
nhn mt cỏch bỡnh thng cng cú th d
dng nhn thy cỏc quy nh ca lut lao ng
Vit Nam cú chiu hng tip cn khỏ gn gi
vi cỏc quy nh ca UNO v ILO. iu ny
chng t mi quan h cú tớnh hu c gia lut
lao ng Vit Nam v phỏp lut quc t./.