Đặc san về bộ luật tố tụng dân sự
78
Tạp chí luật học ThS. Trần Phơng Thảo *
in phỏp khn cp tm thi l bin phỏp
to ỏn quyt nh ỏp dng trong quỏ
trỡnh gii quyt v ỏn dõn s nhm gii quyt
nhu cu cp bỏch ca ng s, bo v bng
chng hoc bo m cho vic thi hnh ỏn.
K tha v phỏt trin cỏc quy nh ca cỏc
vn bn phỏp lut t tng dõn s trc õy,
B lut t tng dõn s (BLTTDS) ó cú
Chng VIII vi 28 iu lut (t iu 99
n iu 126) quy nh v cỏc bin phỏp
khn cp tm thi.
1. Nhng im mi ca ch nh bin
phỏp khn cp tm thi
- V cỏc bin phỏp khn cp tm thi
iu 102 BLTTDS ó quy nh 12 bin
phỏp khn cp tm thi m to ỏn c ỏp
dng. õy l s k tha cỏc quy nh ti
iu 41 Phỏp lnh th tc gii quyt cỏc v
ỏn dõn s, iu 42 Phỏp lnh th tc gii
quyt cỏc v ỏn kinh t, iu 44 Phỏp lnh
th tc gii quyt cỏc tranh chp lao ng.
Tuy vy, cng cú mt s bin phỏp ln u
tiờn c b sung quy nh trong BLTTDS
ỏn nhõn dõn ti cao ngy 27/4/2005 hng
dn thi hnh mt s quy nh ca B lut t
tng dõn s v bin phỏp khn cp tm thi
thỡ nhng ch th ny bao gm ng s,
ngi i din hp phỏp ca ng s; c
quan v dõn s, gia ỡnh v tr em; hi liờn
hip ph n khi kin v ỏn v hụn nhõn v
gia ỡnh trong trng hp do Lut hụn nhõn
v gia ỡnh quy nh; cụng on cp trờn ca
B
* Gi
ng vi
ờn Khoa lu
t dõn s
Trng i hc Lut H Ni §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 79
công đoàn cơ sở khởi kiện vụ án lao động
trong trường hợp bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của tập thể người lao động do Bộ luật lao
động và các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan quy định. Việc mở rộng
hơn các chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp
dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của
BLTTDS sẽ góp phần bảo vệ kịp thời, đầy
bách của đương sự, giúp họ nhanh chóng ổn
định cuộc sống, bảo vệ được bằng chứng,
bảo vệ được tài sản Vì vậy, việc xác định
thời điểm toà án được áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời là rất quan trọng. Theo
quy định tại Điều 99 BLTTDS, biện pháp
khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong
suốt quá trình toà án giải quyết vụ việc dân
sự. Điều này có nghĩa toà án có thể áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời
điểm nào trước và trong khi xét xử. Thậm
chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong
trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ
ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm
trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền yêu cầu toà án áp dụng ngay
biện pháp khẩn cấp tạm thời vào cùng thời
điểm nộp đơn khởi kiện. Quy định này của
BLTTDS đã tạo ra sự năng động, kịp thời
trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
đương sự đồng thời khắc phục được hạn chế
của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho phép
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào
thời điểm trước khi xét xử.
- Về việc ra quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Người có quyền yêu cầu toà án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có quyền
yêu cầu toà thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm
thời nếu thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đã
tạm thời được quy định cụ thể tại Điều 100
BLTTDS. Theo điều luật này, nếu yêu cầu
áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời được đưa ra vào thời điểm
trước khi mở phiên toà thì thẩm quyền quyết
định sẽ do một thẩm phán thực hiện. Nếu
yêu cầu đó đưa ra vào thời điểm tại phiên toà
thì thẩm quyền xem xét, quyết định sẽ do hội
đồng xét xử. Các quyết định này có hiệu lực
thi hành ngay, toà án phải thông báo quyết
định này tới các chủ thể liên quan.
- Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
Buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện nghĩa
vụ bảo đảm là một trong những quy định rất
mới của BLTTDS (Điều 120). Tương ứng
với quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu phải
thực hiện nghĩa vụ bảo đảm mà cụ thể là họ
phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý
hoặc giấy tờ có giá do toà án ấn định tương
đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa
vụ phải thực hiện. Theo hướng dẫn tại Nghị
quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005
của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao thì “nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải
bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho
người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
người có nghĩa vụ.
Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản
phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của toà
án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong thời hạn do toà án ấn định.
Đối với những trường hợp khẩn cấp, cần
phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu
quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì thời hạn
thực hiện biện pháp bảo đảm này không quá
48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu.
Nếu việc thực hiện biện pháo bảo đảm vào
ngày lễ, ngày nghỉ, khoản tiền thực hiện biện
pháp bảo đảm sẽ được giữ lại toà án. Toà án
phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay
khoản tiền đó vào ngân hàng trong ngày làm
việc tiếp theo.
- Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
Điều 117 BLTTDS quy định người đưa
ra yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không chỉ phải nộp đơn gửi đến
toà án có thẩm quyền mà đơn đó phải thể
hiện được các nội dung theo luật định. Tùy
từng trường hợp, kèm theo đơn, người đưa ra
yêu cầu phải cung cấp cho toà án những
chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chính
quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra
yêu cầu không có căn cứ từ phía những
pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng là
phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài
sản ở nơi gửi giữ hoặc phong tỏa tài sản của
người có nghĩa vụ thì toà án chỉ được phong
tỏa tài khoản, tài sản tương đương với nghĩa
vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.
Như vậy, so với các quy định trước đây,
thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong Bộ luật tố tụng dân sự đã được
quy định cụ thể và phù hợp hơn. Điều này có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp
thời quyền lợi hợp pháp của đương sự. §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
82
T¹p chÝ luËt häc
- Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Việc toà án ra quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ hoặc không ra quyết định áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự đều có thể ảnh hưởng tới quyền lợi
hợp pháp cho đương sự. Vì vậy, BLTTDS
quy định đương sự có quyền khiếu nại, viện
kiểm sát, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện để
định mới này là cần thiết bởi trong thực tế đã
có trường hợp vì toà án không ra quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời nên đã không bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của đương sự.
- Về trách nhiệm do áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không đúng
Theo Điều 101, người yêu cầu toà án áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của
mình. Vì vậy, nếu yêu cầu của họ không
đúng, gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng
hoặc người thứ ba thì theo quy định của
pháp luật, họ phải bồi thường cho người bị
thiệt hại. Quy định này buộc người có quyền
yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời phải suy nghĩ chín chắn trước khi
đưa ra yêu cầu, buộc họ phải có trách nhiệm
với hành vi của mình.
Ngoài quy định trách nhiệm bồi thường
của đương sự và những chủ thể có quyền yêu
cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, BLTTDS còn quy định trách nhiệm bồi
thường của toà án nếu quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà gây
thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người
thứ ba. Theo khoản 2 Điều 101 BLTTDS,
toà án sẽ phải bồi thường trong trường hợp
toà án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp
ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, khoản 13
Điều 102 BLTTDS nên được bổ sung theo
hướng toà án có quyền áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy
định và cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác mà pháp luật chưa có quy định nếu
không trái với các quy định của Bộ luật này.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 99
BLTTDS, đương sự chỉ có quyền yêu cầu
toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời nếu họ khởi kiện vụ án dân sự. Trong
thực tế có nhiều trường hợp đương sự chỉ
muốn yêu cầu toà án áp dụng ngay một biện
pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, để bảo vệ
quyền và lợi ích của mình mà không muốn
khởi kiện bởi họ không có tranh chấp hoặc
có tranh chấp nhưng tranh chấp đó đã được
giải quyết sau khi toà án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời cần thiết. Với quy định
như hiện nay trong BLTTDS thì vô hình
trung đã buộc đương sự phải khởi kiện vụ án
dân sự ngay cả khi họ không muốn. Theo
chúng tôi BLTTDS nên thừa nhận quyền yêu
cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của đương sự khi họ không khởi kiện vụ
án dân sự tại toà án. Yêu cầu này sẽ được
giải quyết giống như một việc dân sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của toà án.
Thứ ba, khoản 1 Điều 102 BLTTDS có
quy định biện pháp khẩn cấp tạm thời áp
khoản 2 Điều 102 BLTTDS nhưng các căn
cứ này mới chỉ đề cập trách nhiệm của toà án
khi áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp
tạm thời mà chưa đề cập trách nhiệm của toà
án trong trường hợp toà án đã không ra hoặc
chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời. Trong thực tế, việc toà án đã
không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể gây thiệt
hại không nhỏ cho đương sự. Vì vậy, để xác
định được đầy đủ hơn trách nhiệm của toà
án, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 102
BLTTDS thêm một căn cứ nữa, đó là toà án
phải bồi thường thiệt hại cho người đưa ra
yêu cầu nếu toà án có lỗi trong việc không ra
hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời gây thiệt hại cho người bị
áp dụng hoặc người thứ ba.
Thứ năm, mục đích của việc toà án ra
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời là nhằm kịp thời bảo vệ quyền lợi cho
đương sự. Tuy nhiên, theo quy định tại các
điều 108, 109 và 110 BLTTDS thì các biện
pháp kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền
về tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp chỉ được toà án
ra quyết định áp dụng nếu có căn cứ cho
thấy người đang nắm giữ tài sản này có hành
vi tẩu tán, chuyển dịch quyền tài sản hoặc
làm thay đổi hiện trạng tài sản. Điều này có
§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 85
định trong những trường hợp cấp bách
đương sự có thể yêu cầu toà án ra ngay quyết
định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời. Kể cả trong ngày lễ, ngày nghỉ đương
sự vẫn có quyền yêu cầu toà án áp dụng các
biện pháp khẩn cấp tạm thời. Dựa vào yêu
cầu của đương sự, thẩm phán sẽ ra ngay
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời nếu xét thấy cần thiết.
Thứ bảy, về quy định buộc thực hiện
biện pháp bảo đảm tại Điều 120 BLTTDS
cũng có chỗ chưa hợp lý. Cụ thể là khi chấp
nhận đơn yêu cầu áp dụng một trong các
biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định
tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102
BLTTDS, thẩm phán hoặc hội đồng xét xử
buộc người yêu cầu phải gửi một khoản tiền,
kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do
thẩm phán hoặc hội đồng xét xử ấn định
nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản
mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Cụ thể
hơn, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
02/2005/HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì
nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ phải bồi thường
thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị
toà án giải quyết tranh chấp thì thời hiệu
khởi kiện được tính như thế nào? Khoảng
thời gian giải quyết tranh chấp tại trọng tài
có tính vào thời hiệu khởi kiện không? Tác
giả cho rằng, ngày bắt đầu tính thời hiệu
khởi kiện trong trường hợp này là ngày tiếp
theo của ngày toà án ra quyết định huỷ
quyết định trọng tài. Có như vậy mới bảo vệ
được quyền khởi kiện của bên có quyền và
lợi ích hợp pháp bị vi phạm./.