§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
94 T¹p chÝ luËt häc
ThS. TrÇn Anh TuÊn *
ục đích của tố tụng dân sự là nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự trong vụ việc dân sự. Do vậy, để có thể
bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, đảm bảo việc xét xử của
toà án được đúng đắn thì pháp luật tố tụng dân sự
cần phải xây dựng được một cơ chế tố tụng thích
hợp. Để góp phần làm rõ cơ chế tố tụng theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bài
viết này đề cập một số vấn đề của chế định giám
đốc thẩm, tái thẩm dân sự.
1. Những điểm mới của chế định giám đốc
thẩm, tái thẩm
- Về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994
(PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động năm 1996
(PLTTGQCTCLĐ) được ban hành trước đây
không có những quy định mang tính định nghĩa
về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy vậy, các
thống nhất.
BLTTDS hiện nay đã khắc phục được những
bất cập của các pháp lệnh trước đó và đã có quy
định thống nhất về phạm vi xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm đối với tất cả các tranh chấp về
dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động. Theo Điều 296 và 310 BLTTDS
thì hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm “chỉ xem
M
* Giảng viên Khoa luật dân sự
Trường Đại học Luật Hà Nội §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc 95
xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên
quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị”.
Ngoài ra, hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có
quyền “xem xét phần quyết định của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị
kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc
xem xét nội dung kháng nghị nếu phần quyết
định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi
ích của người thứ ba không phải là đương sự
trong vụ án”.
- Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Điều 71 PLTTGQCVADS đã quy định bốn
bản án, quyết định không phù hợp với những
tình tiết khách quan của vụ án”. Thực chất đây là
trường hợp toà án trong quá trình giải quyết vụ
án đã có những sai lầm khi đánh giá về các tình
tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Còn căn cứ “Có
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và “Có sai
lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật”
thực chất là trường hợp khi toà án tiến hành giải
quyết vụ việc đã có những sai lầm nghiêm trọng
trong việc vận dụng pháp luật về dân sự, hôn
nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
và tố tụng dân sự.
- Về thời hạn kháng nghị
BLTTDS cũng đã có những quy định mang
tính thống nhất về thời hạn kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định về
dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động.
Trước khi ban hành BLTTDS, thời hạn kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được pháp luật quy
định đối với các bản án, quyết định này là khác
nhau. Theo PLTTGQCVADS, thời hạn kháng
nghị giám đốc thẩm là 3 năm, kể từ ngày bản án,
quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; thời
hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày
phát hiện được những tình tiết mới là căn cứ để
kháng nghị tái thẩm. Đối với việc kháng nghị
không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì
không bị hạn chế về thời gian. Theo các điều 77,
83 PLTTGQCVAKT thì thời hạn kháng nghị
giám đốc thẩm là 9 tháng, thời hạn kháng nghị
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
- Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định
kháng nghị
Các văn bản pháp luật về thủ tục được ban
hành trước đó không có quy định về việc thay
đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị sau khi
người có thẩm quyền đã tiến hành kháng nghị
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Khắc
phục những bất cập này, lần đầu tiên các quy
định về việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định
kháng nghị đã được ghi nhận tại Điều 289 và
Điều 310 BLTTDS.
Theo các quy định của BLTTDS thì người
đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền
thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu
chưa hết thời hạn kháng nghị; có quyền rút một
phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước
khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc
thẩm, tái thẩm. Các quy định này là một điểm
mới so với các quy định tại các văn bản pháp luật
trước đó.
Qua các vấn đề nêu ở trên có thể thấy rằng
các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
trong BLTTDS đã có nhiều sửa đổi, bổ sung và
tiến bộ so với các văn bản pháp luật trước đó.
Tuy vậy, việc vận dụng các quy định này trong
thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề đòi hỏi các cơ
quan có thẩm quyền cần phải có những nghiên
cứu và hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.
2. Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi
tụng dân sự. Do vậy, quy định về tính chất của
thủ tục giám đốc thẩm như Điều 282 BLTTDS là
chưa đầy đủ và không lột tả được hết bản chất
của thủ tục giám đốc thẩm. Mặt khác, quy định
này cũng không thể hiện đầy đủ các căn cứ
kháng nghị theo Điều 283 BLTTDS. Theo chúng
tôi, Điều 282 BLTTDS về tính chất của thủ tục
giám đốc thẩm cần được sửa đổi như sau:“ Giám
đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của
toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng
nghị vì phát hiện có sai lầm của toà án khi nhận
định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc
giải quyết vụ án”.
- Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
Các quy định về phạm vi xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm trong BLTTDS là chưa thật sự
hợp lý, cần phải mở rộng phạm vi xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm đối với toàn bộ bản án, quyết
định như đã từng quy định trong
PLTTGQCVADS trước đây. Quy định của
BLTTDS hiện nay về phạm vi xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm có thể dẫn tới những bất cập trong
việc áp dụng. Cụ thể là đối với trường hợp
những người có thẩm quyền chỉ tiến hành kháng
nghị đối với một phần bản án, quyết định thì một
vụ án có thể bị kháng nghị và xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm nhiều lần gây kéo dài thời gian
giải quyết vụ án.
- Về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
+ Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm
hoặc phúc thẩm không đúng quy định của
BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về
thủ tục tố tụng.
Vấn đề là ở chỗ cần phải hiểu “có vi phạm
nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” là như thế
nào? Theo chúng tôi, những vi phạm nghiêm
trọng khác về thủ tục tố tụng có thể được hiểu là
toà án khi tiến hành giải quyết vụ việc đã vi §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
98 T¹p chÝ luËt häc
phạm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự
như nguyên tắc hoà giải, nguyên tắc xét xử công
khai, nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc về
tiếng nói chữ viết trong tố tụng dân sự hoặc vi
phạm các quyền tố tụng cơ bản của đương sự
như quyền tham gia phiên toà; xác định sai thẩm
quyền của toà án, xác định sai tư cách đương sự
v.v Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải
hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để tránh cách
hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn.
Theo Điều 304 của BLTTDS thì tái thẩm là
xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết
mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản
nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các
đương sự không biết được khi toà án ra bản án,
kế trong vụ án chia thừa kế biết là có một bản di
chúc nhưng cố tình giấu đi để yêu cầu chia thừa
kế theo pháp luật, gây bất lợi cho người thừa kế
được định đoạt di sản theo di chúc, trong khi đó
bản thân người này cũng không biết được là
người có di sản đã có di chúc định đoạt tài sản
cho mình. Nếu coi đây là trường hợp “Kết luận
trong bản án, quyết định không phù hợp với
những tình tiết khách quan của vụ án” để kháng
nghị giám đốc thẩm thì có thể gây bất lợi cho
đương sự ngay tình “không thể biết” được các
tình tiết đó vì lý do đã hết thời hạn kháng nghị
giám đốc thẩm. Bởi lẽ, thời hạn kháng nghị giám
đốc thẩm được quy định là ba năm nhưng lại
được tính từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật. Do vậy, cần phải có những hướng
dẫn về vấn đề này theo hướng coi là căn cứ để
kháng nghị tái thẩm khi “mới phát hiện được tình
tiết quan trọng của vụ án mà một trong các
đương sự hoặc các đương sự trong vụ việc dân
sự đã không thể biết được trong quá trình giải
quyết vụ việc”.
- Về việc phát hiện căn cứ kháng nghị và thời
hạn kháng nghị
Hiện nay, các quy định tại Điều 284 và Điều
306 BLTTDS chỉ dừng lại ở chỗ ghi nhận quyền
phát hiện và thông báo những vi phạm pháp luật,
những tình tiết mới của vụ việc của đương sự, cá
thẩm, tái thẩm sẽ dẫn đến những bất cập trong
việc áp dụng, không đảm bảo được sự công bằng
và quyền lợi hợp pháp của các đương sự.
Theo quy định của BLTTDS thì thời hạn
kháng nghị tái thẩm là một năm, kể từ ngày
người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn
cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Như vậy,
việc kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ
tục tái thẩm hiện nay là phụ thuộc vào việc người
có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết
các căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Và việc người
có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết
các căn cứ để kháng nghị tái thẩm chủ yếu lại
phụ thuộc vào việc thẩm tra viên có đề xuất việc
kháng nghị hay không. Do vậy, cần phải xây
dựng một cơ chế phối hợp giữa các thẩm tra viên
và người có thẩm quyền kháng nghị cũng như
trách nhiệm của họ đối với việc không kháng
nghị các bản án, quyết định của toà án mặc dù rõ
ràng có căn cứ để tiến hành kháng nghị. Quy
định này cùng với các quy định về thời gian
không tính vào thời hạn kháng nghị sẽ góp phần
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, đảm
bảo công bằng xã hội.
- Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định
kháng nghị
BLTTDS hiện nay không có những quy định
về thủ tục giải quyết trong trường hợp người đã
kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở
phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái
BLTTDS thì yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố
một người mất tích hoặc đã chết lại thuộc thẩm
quyền của toà án cấp sơ thẩm. Ngoài ra, toà án
cấp sơ thẩm cũng có thẩm quyền giải quyết đối
với các yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
mất năng lực hành vi dân sự. Do vậy, có thể suy
luận việc xem xét lại theo thủ tục tái thẩm đối
với các loại việc này không được đặt ra. Tuy
nhiên, đối với các việc dân sự khác mà quyết
định về việc dân sự đã có hiệu pháp luật mà có
sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình
tiết mới thì có được kháng nghị để xem xét lại
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không ?
Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS về
nguyên tắc giải quyết việc dân sự thì khi giải
quyết việc dân sự, toà án áp dụng những quy
định của Chương XX đồng thời áp dụng những
quy định khác của BLTTDS không trái với
những quy định của Chương này để giải quyết
những việc dân sự. Như vậy, các quy định tại
Điều 311 BLTTDS cũng không thể hiện rõ ràng
về việc có áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm đối với các việc dân sự hay không và nếu
có áp dụng thì sẽ được áp dụng đối với các loại
việc dân sự nào? Thiết nghĩ, các quyết định về
việc dân sự mặc dù đã có hiệu lực pháp luật vẫn
có thể có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát
hiện có tình tiết mới làm thay đổi về cơ bản nội
dung vụ việc. Do vậy, cũng cần phải có những
quan có thẩm quyền lưu tâm tham khảo trong
việc hướng dẫn áp dụng BLTTDS./.