Ổn định thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra - Pdf 75

Ổn định thị trường tài chính và những vấn đề đặt ra
Ổn định thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng của nền kinh tế. Bởi lẽ,
thị trường tài chính là nơi giao dịch các nguồn lực tài chính, mà thực chất là nó
giao dịch các khối tài sản của nền kinh tế, được thể hiện dưới hình thức tiền tệ và
các công cụ có giá trị như tiền tệ, thường được gọi là các công cụ tài chính hay
hàng hóa tài chính.
1. Ổn định thị trường tài chính
Ổn định thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng của nền kinh tế. Bởi lẽ,
thị trường tài chính là nơi giao dịch các nguồn lực tài chính, mà thực chất là nó
giao dịch các khối tài sản của nền kinh tế, được thể hiện dưới hình thức tiền tệ và
các công cụ có giá trị như tiền tệ, thường được gọi là các công cụ tài chính hay
hàng hóa tài chính. Ở đó, nó bao gồm việc chuyển giao các quyền sử dụng các
khoản tài chính (đó là các khoản vay nợ: tín dụng, trái phiếu, tín phiếu) hoặc
chuyển giao các quyền sở hữu các tài sản tài chính (các cổ phiếu, các phần vốn
góp vào các công ty,...), và các hợp đồng tài chính phái sinh (các quyền chọn, hợp
đồng tương lai,…)
Các tài sản trên được định giá bằng một giá trị bằng tiền khi mỗi lần giao dịch và
do sự tác động của quy luật cung cầu nên giá cả của một công cụ tài chính qua mỗi
lần giao dịch là khác nhau.
Vì vậy, những người giữ các công cụ tài chính sẽ cảm thấy rằng tài sản của mình
được tăng lên, hoặc giảm xuống khi giá cả của công cụ tài chính đó tăng lên hay
giảm xuống so với thời kỳ so sánh trước đó.
Sẽ có sự phản ứng thông thường là khi các tài sản tài chính có khuynh hướng bị
giảm giá, người sở hữu những tài sản tài chính muốn bán nó đi cho người khác để
tránh thua thiệt. Đây là những phản ứng bình thường. Song, điều đó có thể làm
cho giá cả của các công cụ tài chính sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, gây ra sự hoảng
loạn của thị trường tài chính. Trong đó, nhiều người sẽ mất hết tài sản của mình,
đó là hiện tượng bất ổn của thị trường tài chính.
Truyền thống hơn, trên thị trường tài chính đã xuất hiện rất lâu đời việc chuyển
giao quyền sử dụng các khoản tài chính bằng tiền dưới hình thức vay mượn (ngày
nay là tín dụng). Khi sức mua của đơn vị tiền tệ vay mượn tăng hay giảm sẽ làm

Về sản xuất phải gắn chặt với nhu cầu thực của thị trường, nghĩa là sản xuất ra sản
phẩm và cung ứng dịch vụ phải có thị trường tiêu thụ.Vì vậy, nghiên cứu dung
lượng của thị trường luôn là một vấn đề bức thiết của nhà cung ứng háng hóa –
dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại. Vai trò của nhà nước cũng rất quan trọng trong
việc dự đoán khả năng tiêu thụ của thị trường để định hướng cho nền kinh tế phát
triển theo một chiều hướng tối ưu nhất – “chiều hướng sản xuất = tiêu thụ”.
Ở đây, chúng ta có khái niệm “chiều hướng sản xuất = tiêu thụ” có nghĩa là, sản
xuất luôn phải quay quanh đường khả năng tiêu thụ, không được thoát ly quá xa
khả năng tiêu thụ dẫn đến khủng hoảng thừa hay thiếu.
Có thể nhận thấy rằng, hầu hết những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trước đây như
khủng hoảng 1919, khủng hoảng 1929 -1933 đều thể hiện khủng hoảng thừa.
Khủng hoảng thừa là do sức mua của xã hội quá thấp so với giá trị hàng hóa được
sản xuất ra cùng thời kỳ.
Tại sao có hiện tượng như vậy? Có thể là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường, các chủ doanh nghiệp đã thu hoạch được một khối lượng lớn lợi nhuận
khổng lồ và họ tiếp tục đầu tư tái mở rộng nền kinh tế với một tốc độ rất nhanh.
Trong lúc đó, thu nhập của người lao động lại tăng lên không tương ứng.
Ta có thể xét thêm trong trường hợp có xuất khẩu thì sự cân bằng sẽ diễn ra trong
một thời gian nhất định cho đến khi thị trường xuất khẩu có vấn đề. Đó là khi xuất
khẩu bị thu hẹp lại bởi bất cứ lý do gì.
Ví dụ như trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua, khi các thị trường nhập khẩu
lớn bị suy thoái, lập tức nền kinh tế các nước nói chung, ở nước ta nói riêng bị ảnh
hưởng nặng nề.
Cái gì sẽ xẩy ra khi một nền kinh tế có xuất khẩu tăng lên, nhưng sức mua nội địa
kém, như nền kinh tế nước ta? Một nền kinh tế có xuất khẩu tăng lên nhưng sức
mua nội địa không tăng, điều đó hàm ý rằng, sản xuất của quốc gia đó chủ yếu
phục vụ cho thị trường nước ngoài là chính, mặc dù điều đó sẽ làm cho dự trữ
ngoại hối của quốc gia tăng lên, nếu nhập khẩu < xuất khẩu. Khối cung nội tệ sẽ
tăng lên khi khối ngoại tệ này được mua vào bằng nội tệ.
Bên cạnh lượng ngoại hối của một quốc gia tăng lên nhờ xuất khẩu thì lượng ngoại

kém hấp dẫn những nhà đầu tư cả trực tiếp vào sản xuất lẫn đầu tư vào thị trường
chứng khoán. Bởi một lẽ như sau, nhà đầu tư vào các doanh nghiệp phi tài chính
hiện đại cũng chỉ mong giá cổ phiếu tăng lên nhanh để họ có thể thu hồi vốn và lợi
tức ngay tức khắc sau khi pháp luật cho phép bán phần đầu tư của mình. Nói khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status