Nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu – những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết - Pdf 38

Đại học kinh tế quốc dân Khoa quản trị kinh doanh
Lời nói đầu

Nhìn lại hơn 10 năm đổi mới, bộ mặt nước ta đã có nhiều thay đổi đáng
kể đó là đời sống nhân dân dã được cải thiện, các doanh nghiệp trong nước đã
thích nghi được với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng
trong công nghiệp và dịch vụ. Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục sự nghiệp đổi
mới phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Chính sách mở cửa
của Nhà Nước đã góp phần đẩy mạnh trao đổi hàng hoá, khuyến khích xuất
khẩu, nâng cao hiệu quả nhập khẩu. Nhà nước đồng thời mở rộng sự quan hệ
hợp tác kinh tế với tất cả các nước khác trên phạm vi toàn thế giới.
Tuy nhiên khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vấn đề nổi lên là tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém,
hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa thực sự thúc đẩy được nội lực cũng như
ngoại lực cho sự phát triển của đất nước. Thương mại quốc tế có vai trò hết sức
quan trọng đưa nền kinh tế tăng trưởng phát triển. Đặc biệt đối với một nước
đang phát triển như nước ta thì việc nhập khẩu là không thể thiếu được. Hàng
hoá nhập khẩu nói chung,nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp công nghiệp
nói riêng là nguồn bổ sung và thay thế những mặt mất cân đối của nền kinh tế,
bảo đảm một sự phát triển kinh tế ổn định đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy
nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập với nền kinh tế thế
giới chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Nguồn nguyên liệu nhập khẩu có ý nghĩa rất to lớn.Không chỉ có ý nghĩa
đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp mà còn có ý nghĩa trong
việc tiếp thu công nghệ hiện đại thế giới.
GV: ThS. Mai Xuân Được SV: Nguyễn Huy Cường 1

thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà
các chủ thể trong nước tham gia xuất nhập khẩu không dễ dàng khống chế
được.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, không có một quốc gia nào trên thế giới phủ
nhận vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế của quốc gia mình.
Dưới đây, em xin đề cập tới vai trò của hoạt động nhập khẩu, đó là:
GV: ThS. Mai Xuân Được SV: Nguyễn Huy Cường 3
Đại học kinh tế quốc dân Khoa quản trị kinh doanh
Thứ nhất, nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh
tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối ổn định, khai thác tối đa tiềm năng của
nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
Thứ hai, Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép
tiêu dùng một lượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước.
Thứ 3, nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho
người lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống nhân dân.
Thứ 4, nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Thứ 5, nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế
đóng cửa, chế độ tự cung, tự cấp.
Thứ 6, nhập khẩu tác động trực tiếp vào sản xuất và kinh doanh Thương
mại Quốc tế làm cho khối lượng và giá trị hàng nhập khẩu ngày càng gia tăng
cùng với sự phát triển kinh tế. Nhập khẩu giúp cho sản xuất được liên tục và ổn
định
Thứ 7, nhập khẩu có vai trò thúc đẩy sản xuất góp phần nâng cao chất
lượng hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng Việt Nam ra
nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.

của mình. Một số nước tập trung vào công cụ thuế, những nước khác lại quản lý
nhập khẩu qua giấy phép, hạn ngạch, ngoại tệ, phi thuế quan... nhằm mục đích
là nhập khẩu phải đảm bảo phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân, các
nhà kinh doanh phải hiểu được những chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà
nước.
ở Việt Nam, những chính sách quản lý nhập khẩu quan trọng nhất là:
Thứ nhất là thuế nhập khẩu.
Thứ 2 : Hạn ngạch nhập khẩu
GV: ThS. Mai Xuân Được SV: Nguyễn Huy Cường 5
Đại học kinh tế quốc dân Khoa quản trị kinh doanh
Thứ 3: Giấy phép nhập khẩu.
Thứ 4 : Quản lý ngoại tệ.
1.4. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu hiện nay .
Hoạt động nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu trực tiếp. Trong thực tế, do các tác động của điều kiện kinh doanh cũng
như sự năng động sáng tạo của người làm kinh doanh đã taọ ra nhiều hình thức
nhập khẩu đa dạng khác nhau. Dưới đây là một vài hình thức thông dụng đang
được áp dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay là:
- Nhập khẩu trực tiếp
- Nhập khẩu uỷ thác.
- Nhập khẩu liên doanh.
- Nhập khẩu tái xuất.
- Nhập khẩu gia công hàng xuất khẩu.
2.Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu
thời gian qua.
Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nói chung bình quân giai đoạn 1991 - 2000

dựng
14,9 15,2 6,2 6,4 6,9 10,4 8,7
Thực phẩm 2,5 3,5 1,9 2,3 2,4 - -
Hàng y tế 1,5 0,9 2,2 1,6 1,9 1,4 1,2
Hàng tiêu dùng khác 10,9 10,8 2,1 2,5 2,6 8,9 7,5
Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của nhóm nghiên cứu
Trị giá nhập khẩu tăng và xu hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất là kết quả tất
yếu của tăng cường xuất khẩu. Tuy nhiên, tốc độ tăng cao của nhóm nguyên
nhiên vật liệu cũng cho thấy sự phụ thuộc của hàng xuất khẩu vào nguyên liệu
nhập khẩu cũng khá lớn. Chẳng hạn, nguyên liệu nhập khẩu trong ngành may
mặc chiếm đến 70%, da giày: 80%, ngành gỗ 50%, ngành nhựa: 85%, ngành
điện tử: 90%. Điều đó nói lên tính chất gia công cũng cao, giá trị gia tăng trong
tổng kim ngạch xuất khẩu cũng thấp. Tỷ trọng nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu
cũng có những thay đổi. Nếu so sánh số liệu 10 mặt hàng chủ yếu nhập khẩu
GV: ThS. Mai Xuân Được SV: Nguyễn Huy Cường 7
Đại học kinh tế quốc dân Khoa quản trị kinh doanh
bình quân giai đoạn 2001-2006 với giai đoạn 1996-2000 có thể thấy mức tiêu
thụ các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu tăng khá. Xăng dầu, nguyên phụ liệu
may mặc, da giầy, phân bón và sắt thép vẫn là những mặt hàng có kim ngạch
nhập khẩu lớn nhất. Bên cạnh đó, nhập khẩu các mặt hàng phân bón, xe máy có
xu hướng chững lại, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu ô tô những năm gần đây
tăng khá nhanh.
So với các nước đang phát triển trong khu vực tỷ lệ nhập khẩu máy móc -
thiết bị của họ thường chiếm 30% - 40% tổng kim ngạch nhập khẩu thì tỷ trọng
nhập khẩu máy móc ở Việt Nam như vừa qua vẫn cứ thấp. Điều này cho thấy
việc Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp nước ta vào hàng rất thấp về đổi mới công

Bảng: Cơ cấu nhập khẩu phân theo thành phần kinh tế, 1995-2006
Năm 1995 2000 2003 2004 2005 2006
Tổng kim ngạch
(tr. USD)
8.155 15.636 25.226 31.969 36.978 44.410
Tốc độ tăng trưởng
(%)
34,4 33,2 27,8 26,7 15,7 20,1
DN 100% vốn trong
nước (tr. USD)
6.687 11.284 16.412 20.554 23.400 28.050
- Tỷ trọng 80,2 72,2 65,1 65,2 63 63,2
- Tăng trưởng (%) 27,9 34,9 25,8 25,2 13,8 19,9
Cân đối XNK (tr.
USD)
-2.711 -3.612 -6.397 -8.812 -9.511 -11.310
DN có vốn ĐTNN
(tr. USD)
1.468 4.352 8.815 10.962 13.600 16.360
- Tỷ trọng 18,0 27,8 34,9 34,8 37 36,8
- Tăng trưởng (%) 144,3 28,7 31,5 24,4 24,1 20,3
Cânđôí XNK(tr. USD)5,0 1.813 1.346 3.299 4.953 6.505
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của nhóm nghiên cứu
Tỷ trọng nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu cao thể
hiện giá trị gia tăng thấp của nhiều mặt hàng xuất khẩu như dệt may, da giày, đồ
gỗ, điện tử. Nhập khẩu chưa kích thích xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, nâng cao giá trị gia tăng. Hạn chế này cũng sẽ gây khó khăn cho
việc cải thiện cán cân thương mại.
GV: ThS. Mai Xuân Được SV: Nguyễn Huy Cường

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status