Nhóm 7 - Kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư
A.
Khái Quát Chung
1.
Tính cấp thiết của đề tài
-
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Để quá
trình hội nhập được nhanh chóng và thuận lợi, Nhà nước cần có những chính
sách phù hợp nhằm thúc đẩy các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống,
đặc biệt là lĩnh vực dân sự. Tuy nhiên, sự phát triển ngày càng nhanh của xã hội
cũng kéo theo ngày càng nhiều những bất đồng, mâu thuẫn xảy ra trong mối
quan hệ giữa các chủ thể với nhau. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân thì cần có những cơ chế giải quyết tranh chấp công bằng, nhanh chóng
và hiệu quả.
Để góp phần giải quyết thực trạng đó, không thể không nói tới vai trò của Luật
sư, là người tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các
đương sự. Với Luật sư tranh tụng kỹ năng từ giai đoạn khởi kiện đến kỹ năng
thu thập chứng cứ phân tích, đánh giá, sử dụng chứng cứ, kỹ năng viết bản luận
cứ, kỹ năng chuẩn bị các việc liên quan đến trước khi ra phiên tòa, kỹ năng tại
phiên tòa sơ thẩm và kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn giám đốc thẩm và tái
thẩm thực sự là cần thiết. Xuất phát từ mục đích đó, trong khuôn khổ bài viết
này chúng tôi muốn giới thiệu sâu một số kỹ năng cơ bản quan trọng nhất của
Luật sư trong tranh tụng dân sự là : Kỹ năng thu thập chứng cứ.
-
như: phương pháp đối chiếu, so sánh và phương pháp phân tích.
5. Bố cục bài nghiên cứu
Nội dung của bài nghiên cứu gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng cứ
Chương 2: Kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư trong giải quyết vụ việc
dân sự
B. NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng cứ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, quy định về thu thập chứng cứ:
1.1.1 Khái Niệm
-
-
Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là
những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp,
xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để
xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”
Theo quy định này, thì trước hết chứng cứ là những gì có thật, chỉ những thứ có
thật mới có thể là chứng cứ và chứng cứ phải được giao nộp cho Tòa án hoặc
do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định thì mới được
•
Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ
sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự.
Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc chứng minh của
đương sự và việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.
Chủ thể hoạt động thu thập chứng cứ :
Giai đoạn thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự đương sự có nghĩa vụ chứng
minh chủ yếu nên đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự là các chủ thể chủ yếu phải tiến hành thu thập chứng cứ để
cung cấp cho tòa. Tuy nhiên, đối với thu thập chứng có thể có thêm số chủ thể
khác tham gia như Tòa án và Viện kiểm sát.
Theo quy định tại các Điều từ Điều 98 đến Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự đã
có thể thấy Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ trong các trường hợp đương sự
không thể tự mình thu thập được chứng cứ và đương sự có yêu cầu. Tuy nhiên,
Tòa án cũng có thể tự mình thu thập chứng cứ khi đương sự không có yêu cầu.
•
Thẩm tra viên,Viện kiểm sát cũng là một chủ thể của hoạt động thu thập chứng
cứ bằng cách yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài
liệu, vật chứng (Khoản 4, 6 Điều 97).
1.1.4. Ý nghĩa của chứng cứ
-
-
Về nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ : Đ94, Đ95 Bộ luật tố tụng dân sự
2015:
-
Đối với Tài liệu đọc được:
•
Tài liệu đọc được: Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản
chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận(Khoản 1 Đ95).Ví dụ : Đối với một vụ
tranh chấp hợp đồng mà hợp đồng được lập thành văn bản thì bản hợp đồng đó
là một tài liệu quan trọng trong hồ sơ.
Trong tương hợp này luật sư nên hướng dẫn đương sự sao bản hợp đông thành
nhiều bản để đề phòng trường hợp mất hoặc thất lạc.
•
-
Đối với những tài liệu đọc được được lưu giữ tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc do cá nhân, tổ chức khác lưu giữ như giấy tờ liên quan đên sở hữu
nhà ở hoặc quyền sử dụng đất, các biên bản hiện trường trong một vụ tai nạn
Ví dụ: Trong một vụ tai nạn giao thông, người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường
vụ tai nạn giao thông, qua đó có thể xác định được biển số xe của người đã gây
tai nạn. Băng ghi hình này được cung cấp bởi một người đang tham gia giao
thông và tình cờ chứng kiến vụ tai nạn. Để băng ghi hình có giá trị chứng cứ,
người giao nộp phải xuất trình được bản xác nhận của người đã cung cấp băng
hình. Đây là những quy định bắt buộc mà luật sư phải nắm bắt được khi thu
thập loại chứng cứ này.
-
Đối với thông điệp dữ liệu điện tử:
•
Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện
tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương
tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. (Khoản 3 Đ95)
Giao dịch dân sự bằng dữ liệu điện tử được các bên thực hiện truyền thông tin
từ máy tính đến máy tính nhằm góp phần giản tiện về thời gian, chi phí... nhưng
vẫn bảo đảm được hiệu quả của công việc. Đây là phương tiện hiện nay trong
các mối quan hệ về dân sự, kinh doanh, thương mại được sử dụng khá phố biến
và phù hợp với Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Do đó, việc bổ sung
nguồn chứng cứ này là cần thiết nhằm đáp ứng được những yêu cầu thực tế đặt
ra.
•
-
hướng dẫn của mình. Thông thường chứng cứ có thể được sắp xếp theo thứ tự
ngày tháng, nội dung, hoặc theo hình thức chứng cứ đó. Đới với chứng cứ là
bản gốc duy nhất Luật sư cần hướng dẫn các đương sự photo công chứng lại
các bản gốc. Đới với những tài liệu không phải bằng tiếng Việt cần hướng dẫn
cần hướng dẫn đương sự thuê dịch có công chứng. Một bản dịch hợp pháp khi
đã có công chứng, chứng thực được gửi kè theo chứng cứ( là bản tài liệu bằng
tiếng nước ngoài) sẽ làm tăng giá trị của tài liệu. Tất cả chứng cứ mà đương sự
đã thu thập được nhất thiết phải nhân làm hai bản trở lên. Một bản nộp cho Toà
án và một bản do đương sự hoặc Luật sư giữ.
-
Đối với Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ:
•
Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định
được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. (Khoản 7 Đ95)
Đối với biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ thì phải được tiến hành theo thủ
tục do luật định và phải có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định.
Kết quả thẩm định, thẩm định giá tài sản thì phải được tiến hành theo thủ tục
luật định hoặc do chuyên gia về giá cung cấp.
Theo Điều 101 BLTTDS 2015:
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành
việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng
cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để
đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Biên bản phải
ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người
Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu
việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy
định. (Khoản 8 Đ95)
Luật sư có quyền giúp thân chủ yêu cầu Tòa án thẩm định giá, thẩm định giá tài
sản có liên quan đến vụ kiện. Hội đồng định giá do Tòa án quyết định thành lập,
gồm chủ tịch hội đồng là đại diện cơ quan tài chính và các thành viên là đại
diện cơ quan chuyên môn liên quan. Quyết định về giá tài sản phải được quá
nửa số thành viên biểu quyết tán thành và phải được lập thành biên bản.
•
•
Đối với văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý:
Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ
được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. (Khoản 9 Đ95)
•
Đối với văn bản công chứng, chứng thực:
Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng,
chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. (Khoản 10
Đ95)
•
Đối với các nguồn khác:
Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều
kiện, thủ tục mà pháp luật quy định. (Khoản 11 Đ95)
lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ giúp đương sự về mặt pháp lý liên
quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của h, trong đó bao gồm cả
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho
Tòa án nhằm chứng minh các tình tiết liên quan đến vụ kiện, cũng như chứng
minh các yêu cầu của thân chủ. Nguyên tắc chung, việc thu thập chứng cứ của
Luật sư phải dựa trên mục đích cơ bản là nhầm chứng minh quyền và lợi ích
hợp pháp của thân chủ.
Xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh của đương sự, BLTTDS quy định việc giao
nộp chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự là quyền và nghĩa vụ của
đương sự. Nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu
quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó. Việc hướng dẫn đương sự
thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án ngay từ khi khởi kiện và trong quá
trình Tòa án giải quyết vụ án được xác định theo tính chất của yêu cầu kiện và
vị trí tố tụng của thân chủ là nguyên đơn , bị đơn hay người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan mà Luật sư tham gia bảo vệ. Do vậy, tính chất thu thập
chứng cứ của Luật sư có thể xác định qua 4 nhóm cơ bản sau:
Luật sư hướg dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu
cầu khởi kiện. Tùy từng yêu cầu khởi kiện, quan hệ phap luật tranh chấp mà
những giấy tờ cần thiết kèm theo đơn khởi kiện để làm cưn cứ Tòa án thụ lý vụ
kiện và giải quyết tranh chấp.
Hướng dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu phân
tố.
Hướng dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu của
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập . Luật su cần căn
cứ vào yêu caafucuj thể của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập. Luật sư cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan để thu thập chứng cứ xác định sự thật khách quan của vụ án
và chứng minh yêu cầu có cơ sở pháp lý.
2.1.3. Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ
-
•
•
Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ, nếu theo quy
định của BLTTDS, dương sự phải làm đơn yêu cầu Thẩm phán tiến hành một
hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ. Việc yêu cầu có thể bằng hình thức :
Thứ nhất: làm đơn yêu cầu Thẩm phán tiế hành thu thập chứng cứ bằng biện
pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ. Kèm theo phải có
những tài liệu thể hiện việc đương sự đã tự mình tiến hành biện pháp dó nhưng
không thể được.
Thứ hai: ngoài hình thức làm dơn, theo quy định trong Nghị quyết số
04/2012/NQ-HĐTP ngày 01-7-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao, đương sự cũng có thể đề nghị Tòa án tiến hành biện pháp thu thập
chứng cứ trong các bản khai, trong biên ản ghi lời khai hoặc trong biên bản đối
chất.
2.2. Những khó khăn của Luật sư trong hoạt động thu thập
-
-
-
-
2.3. Một số kiến nghị để nâng cao kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư
-
-
Đào tạo phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo
đức, có trình độ chuyên môn.
Hoàn thiện cơ chế để Luật sư thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời
xác định rõ trách nhiệm đối với Luật sư… phát huy vai trò của Luật sư trong
hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
Việc nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn nghiêp vụ của Luật sư làm thay
đổi cách nhìn nhận, đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với vai trò
của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án.
-
-
-
Nâng cao văn hoá pháp lý trong tranh tụng để tạo ra sự uy nghiêm của chốn
pháp đình nói chung cũng như nâng cao vị thế của Luật sư nói riêng khi tham
gia tranh tụng
Liên đoàn luật sư Việt Nam cần tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức
pháp luật, kỹ năng hành nghề và tổng kết, trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật
sư trong cả nước. Cùng với đó Liên đoàn cũng đã thực hiện tương đối tốt công
tác giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp luật sư, Điều lệ Đoàn luật sư của luật sư, tổ chức hành nghề luật
sư; kịp thời nhắc nhở, uốn nắn và có biện pháp xử lý nghiêm minh các trường
sử dụng chứng cứ phần sẽ giúp cho các Luật sư, những người tiến hành tố tụng
và cũng như những người có cùng quan tâm vận dụng trong thực tiễn, để từ đó
đem lại một hiệu quả hơn trong lĩnh vực tố tụng.