Tiểu luận Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ - Pdf 28

HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
I. Khái niệm sở hữu trí tuệ 3
i. Các văn bản liên quan đến sở hữu trí tuệ 3
ii. Khái niệm sở hữu trí tuệ 4
I.3. Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ 9
II. Một số vấn đề liên quan đến việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng
cứ trong vụ án hành chính về quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ 11
II.1. Vấn đề quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ 11
I.1. Căn cứ xác định hành vi, tính chất và mức độ vi phạm 13
I.2. Yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý vi phạm 16
I.3. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 18
II. Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ của Luật sư trong vụ
án hành chính về quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ 21
I.4. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của việc, xác minh, thu thập chứng cứ 22
I.5. Nội dung của việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử 22
I.6. Các công việc chính khi điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ 23
3.4. Các yêu cầu khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính 25
3.5. Nội dung của việc nghiên cứu hồ sơ vụ án 26
PHẦN KẾT LUẬN 31
Trang 1 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
LỜI MỞ ĐẦU
Sở hữu trí tuệ là một vấn đề không mới trên thế giới nhưng dường như khá
mới mẻ đối với nước ta. Vấn đề sở hữu trí tuệ chỉ thật sự được nhà nước ta quan
tâm kể từ khi Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 8 nước ta thông qua ngày 29/11/2005.

với giống cây trồng;
• Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
• Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định xử
phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp;
• Nghị định 47/2009/NĐ-CP ngày 13/05/2009 của Chính phủ Quy định xử
phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả,quyền liên quan;
• Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 03/09/2006 của Chính phủ về nhãn hàng
hóa;
• Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh
doanh;
Trang 3 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
• Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết
Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại;
ii. Khái niệm sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là thuật ngữ có tính pháp lý có nội dung đề cập tới việc xác lập
và bảo vệ quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với tài sản trí tuệ của mình. Cá nhân
hay tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền thực hiện thiết
lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ về đối với Bản quyền tác giả, sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết thương mại, tên
thương mại
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao
gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp
và quyền đối với giống cây trồng.
- Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng
tạo ra hoặc sở hữu.
- Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền

học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
− Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác,
tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.
− Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình
đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền
liên quan để phổ biến đến công chúng với một số lượng bản sao hợp lý.
− Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi
âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ
thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
− Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình
ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến
công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua
Trang 5 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính họ
lựa chọn.
− Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải
quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
− Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện
bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
− Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành
phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả
các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm
thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi
điện tử.
− Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu
trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch
tích hợp bán dẫn.
− Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,

biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.
- Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ
chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây
trồng.
1.3. Vấn đề áp dụng pháp luật
Theo Điều 5 Luật sở hữu trí tuệ, trong trường hợp có những vấn đề dân sự liên
quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ thì áp dụng
quy định của Bộ luật dân sự. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở
hữu trí tuệ của Luật sở hữu trí tuệ với quy định của luật khác thì áp dụng quy định
của Luật sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật sở hữu trí tuệ
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Trang 7 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
1.4. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
- Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d-
ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình
thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa
đăng ký.
- Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định
hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
- Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
o Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng
bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật
này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở

khác của pháp luật có liên quan.
I.3. Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
1.3.1. Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ
Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo
đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không
bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại
cho quốc phòng, an ninh.
Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp
phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân.
Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Trang 9 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên
cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ.
- Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở
hữu trí tuệ.
- Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký
quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối
tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

chính phủ thì tùy theo tính chất và mức độ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự theo quy định tại
Phần thứ năm của Luật sở hữu trí tuệ theo biện pháp dân sự, biện pháp hành chính
hoặc biện pháp hình sự.
- Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm
phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính
hoặc biện pháp hình sự.
Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp
dụng biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 211 của Luật Sở hữu trí tuệ, theo yêu cầu
của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm
Trang 11 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
gây ra, tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm hoặc do cơ quan có thẩm
quyền chủ động phát hiện.
Hình thức, mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt hành vi xâm phạm và các
biện pháp khắc phục hậu quả tuân theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan,
quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng.
- Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường
hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp hình sự tuân theo quy định
của pháp luật về tố tụng hình sự.
2.1.1. Nguyên tắc thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Việc tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ quy
định tại Điều 10, Điều 11 của Luật Sở hữu trí tuệ dựa trên nguyên tắc thống nhất về
mục tiêu, nội dung và biện pháp dưới sự chỉ đạo chung của Chính phủ, có sự phân

Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định
tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi có đủ các căn
cứ sau đây:
1. Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
3. Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí
tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép
theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133,
Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.
4. Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.
Trang 13 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra
trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt
Nam.
2.2.1. Căn cứ xác định đối tượng được bảo hộ
- Việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các
tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền theo quy định tại
Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ.
- Đối với các loại quyền sở hữu trí tuệ đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm
quyền, đối tượng được bảo hộ được xác định theo giấy chứng nhận đăng ký, văn
bằng bảo hộ và các tài liệu kèm theo giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ đó.
- Đối với quyền tác giả, quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất
bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng không đăng ký tại cơ quan có
thẩm quyền thì các quyền này được xác định trên cơ sở bản gốc tác phẩm, bản định
hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các
tài liệu liên quan (nếu có).
Trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu

được xác định dựa trên các căn cứ sau đây:
o Hoàn cảnh, động cơ xâm phạm: xâm phạm do vô ý, xâm phạm cố ý, xâm
phạm do bị khống chế hoặc bị lệ thuộc, xâm phạm lần đầu, tái phạm;
o Cách thức thực hiện hành vi xâm phạm: xâm phạm riêng lẻ, xâm phạm có
tổ chức, tự thực hiện hành vi xâm phạm, mua chuộc, lừa dối, cưỡng ép người khác
thực hiện hành vi xâm phạm.
- Mức độ xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 199 của Luật Sở hữu trí tuệ
được xác định dựa trên các căn cứ sau đây:
o Phạm vi lãnh thổ, thời gian, khối lượng, quy mô thực hiện hành vi xâm
phạm;
o Ảnh hưởng, hậu quả của hành vi xâm phạm.
Trang 15 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
2.2.3. Xác định thiệt hại
Theo quy định tại Nghị định 105/2005/NĐ-CP, việc xác định thiệt hại phải
dựa trên nguyên tắc xác định thiệt hại (Điều 16); tổn thất về tài sản (Điều 17); giảm
sút về thu nhập, lợi nhuận (Điều 18); tổn thất về cơ hội kinh doanh (Điều 19); chi
phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại (Điều 20).
I.2. Yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý vi phạm
Khi cá nhân, tổ chức có cơ sở cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình
về sở hữu trí tuệ bị xâm hại thì có quyền thực hiện quyền tự bảo vệ theo quy định
tại Điều 198 của Luật sở hữu trí tuệ và Điều 21 Nghị định 105/2005/NĐ-CP.
Để thực hiện được quyền tự bảo vệ, cá nhân, tổ chức phải có đơn yêu cầu xử
lý vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định 105/2005/NĐ-CP. Khi nộp đơn yêu
cầu xử lý vi phạm, phải nộp kèm theo đơn yêu cầu xử lý xâm phạm các tài liệu,
chứng cứ, hiện vật sau đây để chứng minh yêu cầu của mình:
Trang 16 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính

đại diện theo uỷ quyền thì phải kèm theo giấy ủy quyền hoặc hợp đồng uỷ quyền có
công chứng hoặc có xác nhận của chính quyền địa phương; nếu thông qua người đại
diện theo pháp luật thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh tư cách của người đại diện
theo pháp luật.
Căn cứ theo các quy định từ các Điều 28 đến Điều 33 Nghị định
105/2005/NĐ-CP mà người có hành vi vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ sẽ bị
buộc phân phối hoặc đưa và sử dụng không nhằm mục đích thương mại; buộc tiêu
hủy; tịch thu hoặc sẽ bị áp dụng các biện pháp hành chính khác.
I.3. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
2.4.1. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở địa
phương mình.
- Chánh Thanh tra và Thanh tra viên chuyên ngành khoa học và công nghệ của
các cơ quan: Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và Sở Khoa học và Công nghệ.
Trường hợp hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền của Chánh Thanh tra Sở
Khoa học và Công nghệ thì chuyển hồ sơ vi phạm để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
2.4.2. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực quyền tác giả,
quyền liên quan
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan ở địa phương mình.
- Chánh Thanh tra và Thanh tra viên chuyên ngành thuộc Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thẩm quyền xử phạt
Trang 18 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính

sở hữu công nghiệp
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp mà vi phạm các quy định về xử phạt hành chính thì bị xử lý theo quy định
tại Điều 121 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
2.4.6. Xử lý vi phạm của người bị xử phạt vi phạm trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp
Người bị xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp nếu có hành vi vi
phạm trong quá trình chấp hành quyết định xử phạt hoặc có những hành vi vi phạm
khác thì bị xử lý theo quy định tại Điều 122 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính.
2.4.7. Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan
- Công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
những vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân về quyền tác giả, quyền liên
quan quy định tại Nghị định 49/2009/NĐ-CP hoặc tố cáo những vi phạm của
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền
liên quan theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo.
- Việc khởi kiện hành chính đối với quyết định xử phạt vi phạm hành
chính thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo và thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo về vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng
theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Trang 20 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
2.4.8. Xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính về quyền tác giả, quyền liên quan
- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền

án qua đó xác lập các căn cứ cần thiết, khách quan trong việc đưa ra các đề xuất giải
quyết đúng đắn vụ án hành chính.
Trong trường hợp luật sư được mời tham gia sau khi vụ án đã được tòa án
thụ lý, việc xác minh, thu thập chứng cứ, kết hợp vối một loạt các hoạt động khác,
sẽ giúp luật sư hệ thống từ đầu các tình tiết liên quan cũng như điều tra và thu thập
thêm được những chứng cứ cần thiết.
Trường hợp luật sư tham gia giúp đỡ khách hàng ngay từ khi trước khi khởi
kiện, việc xác minh, thu thập chứng cứ cũng rất cần thiết vì nó là sự bổ sung chứng
cứ cho luật sư trong giải quyết vụ việc, củng cố các tài liệu, lý lẽ để đạt được hiệu
quả tham gia tốt nhất tại phiên tòa. Các hoạt động này thực sự thiết yếu, đảm bảo
chất lượng tham gia của luật sư trong cả quá trình tố tụng nói chung cũng như trong
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói riêng.
I.5. Nội dung của việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử
Khi chuẩn bị cho một phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính, người luật sư cần
xác định cho mình một loạt những vấn đề cụ thể để điều tra, xác minh, thu thập
chứng cứ mà cụ thể là:
- Trả lời câu hỏi về sự phù hợp với các quy định pháp luật của yêu cầu khởi
kiện.
- Xác định quan hệ giữa các đương sự, từ đó có định hướng nhất định trong
việc điều tra xác minh, thu thập chứng cứ.
- Có thiệt hại xảy ra do các quyết định, hành vi hành chinh bị kiện gây ra hay
không, mức độ thiệt hại, người khởi kiện có yêu cầu được bồi thường thiệt hại hay
không.
Trang 22 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
- Năng lực chủ thể của người khởi kiện
- Xác định vị trí, vai trò của những người tham gia tố tụng; xác định những
thành phần không thể thiếu trong vụ án để lấy lời trình bày hoặc cần thiết thì yêu

sử dụng của từng văn bản pháp luật trong việc giải quyết vụ án.
Trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích của những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính, luật sư vẫn cần tiến hành những công
việc thu thập, xác minh nêu trên song không nhất thiết phải là xác định toàn bộ sự
việc mà chỉ cần xác định theo những phần quyền và lợi ích liên quan tới khách hàng
của mình.
Trong giai đoạn này, luật sư cũng cần từng bước tiếp cận người bị kiện và
yêu cầu, đề nghị họ cung cấp các loại tài liệu, giấy tờ có liên quan. Thông thường,
sự tiến hành các công việc này của luật sư gặp phải sự bất hợp tác của người đang
bị kiện. Tuy nhiên, do người bị kiện trong vụ án hành chính lại là các cơ quan nhà
nước, cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước nên việc tiếp xúc và thu
thập chứng cứ vẫn có thể được các cá nhân, cơ quan này đáp ứng. Tất cả các tài
liệu, chứng cứ thu thập được từ người bị kiện nếu luật sư không có được do tự đi
điều tra thì cũng vẫn có thể đọc được trong hồ sơ vụ án song nếu có thể tiếp xúc với
người bị kiện và lấy được các tài liệu, chứng cứ này trong thời gian sớm hơn sẽ giúp
luật sư chuẩn bị cho việc bảo vệ của mình chu đáo hơn và hợp lý hơn.
Ngoài ra, trong quá trình này, người luật sư cũng cần tiếp xúc với các cơ
quan, tổ chức, cá nhân hữu quan để có thể thu thập được các tài liệu liên quan trong
quá trình hình thành quyết định, hành vi hành chính, biết được lập luận liên quan
trong việc giải quyết ban đầu theo thủ tục hành chính cũng như quan điểm khi giải
quyết theo thủ tục tố tụng tại phiên toà.
Việc tiếp xúc với những người làm chứng trong giai đoạn này là hết sức cần
thiết và nó càng đặc biệt ý nghĩa đối với các vụ kiện liên quan đến các hành vi hành
chính. Đối với các quyết định hành chính, việc hỏi người làm chứng trong việc thi
hành các quyết định này cũng là công việc cần tiến hành và có thể chính là mấu
chốt để giải quyết vấn đề.
Trang 24 | Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính về
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
HV: Nguyễn Văn Kha – SBD: LS 8.2MN-101 – Lớp A - HP: Kỹ năng của luật sư trong vụ án hành chính
3.3.2. Xác minh tại chỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status