vai trò của luật sư trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự - Pdf 20


1
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG VIỆC THU THẬP, ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG
VỤ ÁN HÌNH SỰ

LS.Vũ Gia Trưởng
Văn phòng Luật sư Phạm Hồng Hải và cộng sự

Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) năm 2003 là một bước phát triển quan
trọng của ngành luật TTHS ở nước ta. Qua đó, thể hiện sự dân chủ hơn trong quá trình giải quy
ết
các vụ án hình sự, vừa tạo những điều kiện tốt hơn để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, người bào chữa, người bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện
đầy đủ và có hiệu quả nghĩa vụ pháp lý c
ủa mình. Rất nhiều điều luật mới đã được quy định
trong Bộ luật TTHS 2003 liên quan đến chứng cứ, như: Quyền thu thập chứng cứ của người bào
chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự, nghĩa vụ của người này trong việc cung cấp tài
liệu kịp thời cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, quyề
n của người bào
chữa được tham dự trong các buổi hỏi cung bị can và quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện một số hoạt động để làm sáng tỏ thêm chứng cứ vụ án
như yêu cầu đối chất, nhận dạng, xem xét các dấu vết trên thân thể, trưng cầu giám định… Với
các quy định trên, nhà làm luật một mặt đã mong muố
n nâng cao vai trò đối trọng, vai trò kiểm
tra giám sát của từ giới Luật sư để phản biện trước quan điểm buộc tội của các cơ quan tiến hành
tố tụng hoặc quan điểm của những người tham gia tố tụng có quyền lợi đối lập với người mà luật
sự có trách nhiệm bào chữa hay bảo vệ. Mặt khác, đã tạo ra sự hợp tác chặt chẽ giữ
a Luật sư với
các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích bảo đảm cho quá trình giải quyết các vụ án hình sự

xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành
vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”.
Chứng cứ được xác định bằng: Vật chứng; Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắ
t,
người bị tạm giữ, bị can bị cáo; Kết luận giám định; Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và
các tài liệu, đồ vật khác”
3 2
1. Vai trò của Luật sư trong việc thu thập chứng cứ
Thu thập chứng cứ được hiểu là việc ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ của cơ quan
tiến hành tố tụng làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh và hiệu quả sử dụng
4
. Như vậy,
chứng cứ cần phải có sự ghi nhận theo thủ tục tố tụng hình sự mới có thể sử dụng làm chứng cứ
chứng minh tội phạm. Khác với các vụ án dân sự là nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về các đương
sự, có nghĩa là các đương sự phải có nghĩa vụ đưa ra những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu của mình là có c
ăn cứ và hợp pháp, đối với các vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh
tội phạm hoàn toàn thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không
buộc phải chứng minh là mình vô tội. Điều 10 Bộ luật TTHS đã nêu rõ “Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách,
quan toàn diện và đầy
đủ làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô
tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo”

5
Cơ quan tiến hành tố tụng không thể chứng minh tội phạm nếu không đưa ra được những

nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác
7


Ngoài ra Bộ luật TTHS cũng quy định rất cụ thể quyền của của người tham gia tố tụng bị
can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan… trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Điều 19 Bộ luật TTHS quy định “ … bị cáo ng
ười bào chữa, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp
pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra
chứng cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước toà án. Toà án có trách
nhiệm tạo đ
iều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”
8
Tuy nhiên cho đến nay pháp luật vẫn chưa có những hướng dẫn cụ thể tạo ra hành lang
pháp lý thuận lợi cho Luật sư thực hiện điều này nên việc Luật sư tự mình thu thập tài liệu chứng
cứ là một việc làm rất khó khăn, nhiều khi bị coi là hành vi không hợp pháp. Pháp luật còn quy
định tuỳ theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được các tài liệu liên quan đến vụ án thì người
bào chữa phả
i có trách nhiệm giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng, không công khai nên rất dễ
bị vô hiệu hoá hoặc bị làm sai lệch. Việc Luật sư giữ chứng cứ do mình thu thập được và lựa
chọn thời điểm đưa ra phù hợp trong quá trình tố tụng của vụ án nhằm mục đích bào chữa và bảo
vệ tối đa quyền lợi của thân chủ là cần thiết. Tuy nhiên trong thực tế, quyền củ
a Luật sư đưa ra

3
một số chứng cứ tài liệu nhằm bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ
gặp rất nhiều khó khăn, thông thường không được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận.
Ngoài ra, khi luật sư cung cấp tài liệu, đồ vật thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành

kiến nghị của Lu
ật sư trong nhiều trường hợp ít khi được toà án xem xét một cách đầy đủ, chỉ
những kiến nghị quá rõ ràng về việc vi phạm thủ tục tố tụng của Cơ quan điều tra mới được Toà
án chấp nhận, những kiến nghị thu thập thêm chứng cứ có lợi cho bị cáo thì lại rất ít khi được
chấp nhận.
Để khắc phục hiện tượng trên, cần thiết phải
đưa ra những quy định pháp luật cụ thể để
tạo ra sự bình đẳng hơn nữa trong việc thu thập, cung cấp và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình
sự đảm bảo giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực sự bình đẳng trong
việc đưa ra chứng cứ có liên quan đến vụ án. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện
để
người tham gia tố tụng thực sự được thực hiện các quyền của họ theo đúng các quy định của
pháp luật. Đây là một trong những quyền cơ bản của người tham gia tố tụng.

2. Vai trò của Luật sư trong việc đánh giá và sử dụng chứng cứ
Đánh giá chứng cứ có vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa pháp lý rất lớn đối với việc lựa
chọn các ch
ứng cứ đưa vào sử dụng làm căn cứ buộc tội hay bác bỏ sự buộc tội trong quá trình tố
tụng. Đây là một khâu của quá trình chứng minh vụ án hình sự, trong đó những người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện việc xác định giá trị của các tài liệu, vật chứng đã thu
thập được nhằm chứng minh những vấn đề cần thiết trong v
ụ án cụ thể.
Đánh giá chứng cứ là quá trình hoạt động phân tích của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm
xác định giá trị chứng minh của chứng cứ đối với những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án
hình sự”
10
. Như vậy, có thể thấy rằng đánh giá chứng cứ là hoạt động của con người trong tố tụng
hình sự và hoạt động này thể hiện quan điểm, nhận thức, tư duy của người tiến hành tố tụng. Vì
vậy, có thể thấy rằng, việc đánh giá chứng cứ sẽ phần nào chịu ảnh hưởng bởi tư cách tố tụng,
trình độ chuyên môn, khả nă

khai bị can bị cáo bị ép cung, bức cung… thì khi đánh giá chứng cứ những lời khai trên sẽ không
được coi là chứng cứ.
- Thứ hai,
yêu cầu về tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ. Tính khách quan
của chứng cứ thể hiện ở chỗ các tài liệu, vật chứng đã thu thập được phải phán ánh quy luật
khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Tính liên quan của chứng cứ thể
hiện ở chỗ, các chứng cứ đó có liên quan đến vụ án hình sự đang được giải quyết hay không; các
chứng cứ đó có giá trị và ý nghĩa th
ế nào trong mối quan hệ với đối tượng chứng minh? Do vậy,
khi đánh giá chứng cứ phải đánh giá từng chứng cứ, xác định giá trị của chứng cứ đó, tức là
chứng cứ đó chứng minh cho đối tượng nào của vụ án, hiệu quả cao hay thấp, đánh giá mối quan
hệ giữa các chứng cứ đối chiếu với thực tế khách quan xem có phù hợp hay không. Sau đó đánh
giá toàn bộ
chứng cứ để rút ra kết luận về vụ án.
- Thứ ba, khi đánh giá chứng cứ, người tiến hành tố tụng phải đánh giá tổng hợp chứng
cứ, xác định xem xét toàn bộ chứng cứ thu thập được đã đầy đủ chưa, đã đủ cơ sở để chứng minh
tội phạm hay chưa. Ngoài ra, khi đánh giá chứng cứ người tiến hành tố tụng cầ
n phải có niềm tin
nội tâm để có sự tin tưởng vào kết luận mà mình đưa ra là đúng. Niềm tin nội tâm được hình
thành và phát triển trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, nó phụ thuộc vào trình độ hiểu biết,
kinh nghiệm nghề nghiệp, sự từng trải cũng như trách nhiệm, lương tâm của người tiến hành tố
tụng… Niềm tin nội tâm sẽ không thể chính xác nếu người tiến hành tố tụng không có những
kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hoặc thiếu đi sự vô tư khách quan khi đánh giá sự việc.
Theo quy định pháp luật hiện hành, Luật sư có một vai trò rất quan trọng trong việc đánh
giá chứng cứ. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp cho bị can, bị cáo, Luật sư sẽ cùng với thân chủ của mình trở thành một bên trong tố tụng;
Lu
ật sư phải sử dụng tổng hợp những kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức chuyên môn của
mình trong đó có kiến thức về chứng cứ và đánh giá chứng cứ nhằm bác lại những quan điểm đối
lập, bảo vệ quan điểm của mình. Chính vì vậy, có thể nói, luật sư có vai trò rất quan trọng cùng

một lần nữa trong công cuộc cải cách tư pháp, tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính chị “về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” đã đặc biệt
quan tâm đến vai trò của Luật sư và đặt nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo hoạt
động của Luật sư
trong tố tụng hình sự. Nghị quyết đã nêu rõ “ Nâng cao chất lượng công tố của
Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác… việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh
tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ , ý kiến của Kiểm sát viên,
củ
a người bào chữa….” “Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tranh
luận dân chủ tại phiên toà”
14

Theo đó, Kiểm sát viên và Luật sư đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ,
tranh tụng trước toà. Thông qua việc xét hỏi công khai tại phiên toà, luật sư sẽ công khai đưa ra ý
kiến đánh giá của mình về chứng cứ và sự thật khách quan của vụ án để phản biện lại những
quan điểm của đại diện Viện kiểm sát giúp cho Toà án cân nhắc trước khi đưa ra phán quyết.
Ngoài ra, vai trò của Luậ
t sư trong việc đánh giá chứng của vụ án còn được thể hiện ở
việc trao đổi, đề xuất với Toà án và Viện kiểm sát những vấn đề về chứng cứ của vụ án. Trong
quá trình tranh tụng tại phiên toà, luật sư phải xem xét đã đủ chứng cứ để buộc tội bị cáo chưa,
nếu còn thiếu thì đó là chứng cứ quan trọng hay không quan trọng đối với vụ
án, có thể bổ sung
tại phiên toà được hay không, có đúng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã truy tố, hoặc
phạm một tội khác hoặc có người khác cùng phạm tội với bị cáo…
Trường hợp Luật sư phát hiện ra những dấu hiệu không đảm bảo về chứng cứ trong quá
trình xét xử, như chưa đủ chứng cứ hoặc chứng cứ yếu thì hoàn toàn có thể
đưa ra đề xuất trao
đổi với Toà án hay Viện kiểm sát như: Đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung (khi thấy hồ sơ còn
thiếu những chứng cứ quan trọng hay thấy có vi phạm về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra


Một ví dụ khác, trong quá trình thẩm vấn, xét hỏi tại phiên toà, quyền này của luật sư
cũng bị hạn chế rất nhiều. Sau khi chủ toạ phiên toà, các hội thẩm nhân dân và đại diện Viện
kiểm sát hỏi thì mới đến lượt luật sư. Do đó không tránh khỏi những câu hỏi lặp lại về mặt nội
dung, bản chất, nhưng cách hỏi của luật sư với vai trò của ngườ
i tham gia tố tụng là tìm ra bản
chất vấn đề, đấu tranh đến cùng để làm rõ lời khai của bị cáo, những người có mặt tại phiên toà
để làm rõ sự thật của vụ án. Tuy nhiên, những câu hỏi này thường bị chủ toạ phiên toà cắt ngang
hoặc không cho hỏi tiếp vì cho rằng “đã hỏi rồi không hỏi lại”.
Ngoài ra đã có trường hợp hạn chế thời gian trình bày quan điểm đánh giá chứng cứ củ
a
luật sư, khi việc đối đáp giữa các bên có ý kiến trái ngược nhau, chưa có cơ sở tìm ra chân lý
nhưng chủ toạ đã cắt, một phần do lịch thời gian diễn ra phiên toà đã được ấn định từ trước dẫn
đến việc đánh giá chứng cứ đôi khi đã chưa được chính xác. Việc rất nhiều toà án không triệu tập
Giám định viên đến phiên toà để trả lời các câu hỏi liên quan đế
n giám định cũng như một số văn
bản liên quan đến quá trình giám định không được lưu trữ trong hồ sơ vụ án mà chỉ có kết luận
giám định. Do đó, hầu như rất ít khi Luật sư làm rõ được kết luận giám định của vụ án có tuân
thủ đúng các quy định về tư pháp hay không. Điều này cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh
giá chứng cứ
để làm sáng tỏ sự thật của vụ án…
Thực trạng nêu trên đã đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật tố tụng
hình sự một cách toàn diện theo hướng dân chủ hoá hoạt động tố tụng, xem việc tham gia của
luật sư vào quá trình tố tụng là sự giám sát tốt nhất đối với các hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng trong việc sử dụ
ng và đánh giá chứng cứ. Bên cạnh việc làm rõ chức năng buộc tội,
chức năng xét xử thì cần phải chý ý đến chức năng bào chữa của Luật sư. Trong quá trình xét xử
vụ án hình sự, pháp luật cần phải có quy định để phát huy tối đa vai trò của Luật sư, tạo cơ hội
cho Luật sư thể hiện rõ quan điểm của mình. Cụ thể:
Thứ nhất

a nhiều.
Thứ ba, nâng cao văn hoá pháp lý trong tranh tụng để tạo ra sự uy nghiêm của chốn pháp
đình nói chung cũng như nâng cao vị thế của Luật sư nói riêng khi tham gia tranh tụng. Trong xu
thế hội nhập hiện nay tất cả những người tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố
tụng cũng phải tự thể hiện ý thức văn hoá nơi pháp đình một cách nghiêm túc, phát huy tính nhân
văn trong xét xử. Hiệ
n nay, những hành vi không tôn trọng luật sư, không dân chủ và thiếu sự

7
bình đẳng giữa cơ quan tiến hành tố tụng vẫn xảy ra nhiều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến văn hoá
pháp đình. Điều mà luật sư vẫn quan tâm và bức xúc đó là thái độ của Hội đồng xét xử khi luật
sư trình bày luận cứ bào chữa hay tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong việc chứng minh
và đánh giá chứng cứ. Ngay việc bố trí các vị trí các vị trí ngồi trong phiên toà cũ
ng đã thể hiện
được điều đó, Hội đồng xét xử ngồi giữa, bên trái Hội đồng xét xử là bàn thư ký, bên phải là bàn
của Viện kiểm sát, còn bàn Luật sư được bố trí ngồi phía dưới, sơ sài, xộc xệch… Cách bố trí này
phản ánh ngay rằng vị trí của Luật sư dường như không được bình đẳng so với Viện kiểm sát.
Trong cách xưng hô của mình đại diện Viện kiể
m sát khi đọc cáo trạng hay phát biểu quan điểm
của mình khi tranh luận với luật sư chỉ kính thưa Hội đồng xét xử mà quên đi sự hiện diện của
luật sư…

Kết luận:

Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự hiện nay đang còn nhiều điều phải bàn cả về
lý luận và thực tiễn. Đây không chỉ là hoạt động tuân thủ pháp luật từ việc thu thập chứng cứ, sử
dụng và đánh giá chứng cứ, mà còn là hoạt động thể hiện trí tuệ, khoa học, lương tâm nghề
nghiệp, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, Lu
ật sư và của những người tham gia tiến hành
tố tụng khác.

14. Nghị quyết 08/2002/NQ-TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, BCH- TƯ Đảng về “Một số nhiệm vụ trọng
tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”
15. Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status