ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HƯỜNG
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HƯỜNG
VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 603830
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN ANH TUẤN
Hà Nội – 2013
GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm Luật sư
8
8
1.1.2. Đặc điểm của Luật sư
14
1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự
17
1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
20
1.2.1 Vị trí của Luật sư trong tố tụng dân sự
20
1.2.2 Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự
21
1.3. LƯỢC SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VAI
TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
24
2.1. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN CỦA
ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1.1. Về điều kiện thực hiện vai trò đại diện theo ủy quyền
51
51
2.1.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của Luật sư khi tham gia với vai trò đại
diện theo ủy quyền
54
2.2. LUẬT SƯ VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
57
2.2.1. Về điều kiện thực hiện vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự
57
2.2.2. Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của Luật sư khi tham gia với vai trò bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
59
2.3. VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN TỐ TỤNG DÂN SỰ 63
2.3.1. Vai trò của Luật sư tại Tòa án cấp sơ thẩm
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
107
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự
107
3.2.2. Hoàn thiện các quy định liên quan đến vai trò của Luật sư trong tố
tụng dân sự
110
3.2.3. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của
Luật sư
116
3.2.4. Về tăng cường quản lý nhà nước, phát huy vai trò tự quản và giám sát
việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật sư.
117
3.2.5. Về tăng cường hội nhập quốc tế về Luật sư trong tố tụng dân sự
119
KẾT LUẬN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nghề Luật sư là một nghề cao quý trong xã hội, ngày càng được tôn
vinh và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân, phấn đấu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Đất nước ta đang trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy chung của xu thế toàn cầu
hoá. Vai trò của Luật sư nói chung cũng như vai trò của Luật sư trong tố tụng
dân sự là không thể thiếu được trong xã hội và ngày càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
Quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là một trong những quyền dân
sự của công dân đã được pháp luật xác định thành một nguyên tắc cơ bản
trong tố tụng dân sự. Đó là nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách là đương sự
có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ Luật sư bảo vệ.
Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đòi hỏi Đất nước phải xây
dựng được một đội ngũ Luật sư tài năng và đạo đức. Đó chính là lời phát biểu
của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Hội nghị tổng kết 4 năm thực
hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới”: “…Tiếp tục
thực hiện tốt chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà…đội
ngũ Luật sư cần xác định rõ vai trò của mình để phấn đấu vươn lên không chỉ
về trình độ nghề nghiệp mà còn cả trong việc giữ gìn đạo đức hành nghề ”.
Đồng thời Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020” cũng nêu rõ: “Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư đủ
1
2
của một nền công lý và dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cũng chính vì
vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò của Luật sư trong trong tố tụng dân sự”
làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình với mong muốn sẽ có cách nhìn toàn
diện và sâu sắc hơn về thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong lĩnh vực
tố tụng dân sự. Qua đó, có thể đánh giá được vai trò của Luật sư trong tố tụng
dân sự đối với công cuộc cải cách tư pháp cũng như trong đời sống xã hội.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm khắc phục
những hạn chế, tiêu cực, từng bước nâng cao và khẳng định vai trò của Luật
sư trong tố tụng dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu vị trí, vai trò và hoạt động của luật sư trong tố tụng
dân sự là rất quan trọng. Không chỉ có ý nghĩa trong chiến lược cải cách Tư
pháp mà còn có ý nghĩa rất lớn với chính đội ngũ Luật sư. Trong thời gian
vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác
nhau dưới các mức độ khác nhau về vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.
Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu và các bài viết có liên quan
đến vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự như sau: “Đạo đức & kỹ năng
của Luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
PGS.TS Lê Hồng Hạnh, Nxb Đại học sư phạm, năm 2002; “Chuyên đề về
Pháp lệnh Luật sư năm 2001”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ & pháp luật,
tháng 12/2001; “Chuyên đề về Luật sư”, Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ &
pháp luật, Hà nội năm 2006, tháng 12/2001; “Bút ký luật sư” tập 1, TS.LS
Phan Trung Hoài, NXB Tư pháp, Hà Nội 2005; “Vị trí và vai trò của Luật sư
trong tố tụng dân sự”, Luận văn thạc sĩ, Trần Phương Thảo, Đại học Luật Hà
Nội, năm 2004; “Mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến hành tố tụng”, của tác giả Nguyễn Tiến Đạm, Tạp chí dân chủ
& pháp luật, số 11 năm 2002; “Luật sư – một nghề khó khăn”, Phan Trung
4
- Phân tích cụ thể để làm rõ vai trò của Luật sư trong TTDS theo pháp
luật hiện hành.
- Làm rõ thực trạng hoạt động của Luật sư, phân tích nguyên nhân để
từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Luật sư trong
TTDS
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu của đề tài được xác định là:
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về Luật sư
với vai trò đại diện theo ủy quyền của đương sự hoặc Luật sư với vai trò là
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật TTDS của một số nước
trên thế giới về vai trò của Luật sư trong TTDS để có thể so sánh với các quy
định của pháp luật Việt Nam, từ đó làm rõ hơn vai trò của Luật sư trong
TTDS Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Luật sư trong TTDS, kiến nghị
các giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của Luật sư trong TTDS.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
XHCN. Do đó, các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đều dựa trên các quan
điểm chỉ đạo nêu trên.
- Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, Tác giả sử dụng kết hợp các
quá trình thực hiện vai trò của mình khi tham gia tố tụng dân sự. Từ những
nghiên cứu này Luận văn đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định
6
của pháp luật cũng như những vướng mắc Luật sư gặp phải khi thực hiện vai
trò đại diện hay bảo vệ quyền lợi cho đương sự tại Tòa án. Trên cơ sở tổng
hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đã đề xuất các giải pháp có giá trị nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của
Luật sư trong tố tụng dân sự. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng
làm tài liệu tham khảo trong việc áp dụng các quy định pháp luật về vai trò
của Luật sư được thống nhất và chính xác. Đồng thời những phát hiện, đóng
góp của luận văn cũng là tài liệu có giá trị cho các cơ quan lập pháp trong quá
trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, là tài liệu tham khảo cho Tòa án, các
Thẩm phán có hiểu biết sâu sắc thêm về vai trò của Luật sư trong TTDS. Kết
quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật tại Việt Nam.
8. Về bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Luật sư và vị trí, vai trò của Luật
sư trong tố tụng dân sự
Chương 2 : Vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện
hành
Chương 3 : Thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong tố tụng dân
sự và kiến nghị.
8
chặt chẽ với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án
nhất là các vụ án hình sự. Đây cũng là khái niệm có phần chính xác nếu chúng
ta đặt nó vào giai đoạn đầu tiên khi hình thành nghề Luật sư.
Tuy nhiên, khái niệm về Luật sư nói trên vẫn còn chưa thực sự đầy đủ
về mặt ngữ nghĩa, chưa đủ rộng để bao quát các hoạt động của Luật sư, bởi
các lý do sau đây:
Thứ nhất, “bào chữa” là hoạt động của Luật sư khi tham gia tố tụng
hình sự. Khi tham gia tố tụng hình sự thì Luật sư có vị trí là người bào chữa
cho bị can, bị cáo. Còn để bảo vệ quyền và lợi ích cho “đương sự” trong tố
tụng dân sự thì Luật sư không thực hiện vai trò “bào chữa” trước Tòa án, mà
bằng quyền tranh luận và tranh tụng tại phiên tòa, Luật sư “bảo vệ quyền lợi
cho đương sự”. Do vậy, khái niệm trên chưa thể hiện được hết vai trò của
Luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể theo luật định.
Thứ hai, khi khẳng định là “người làm cố vấn pháp luật nói chung” thì
không chỉ ra được đặc thù của Luật sư để phân biệt với khái niệm Luật gia.
Luật gia (Jurist) là người có kiến thức về pháp luật, chuyên gia luật. Có thể
hiểu đó là tất cả những người tốt nghiệp đại học luật (cử nhân luật trở lên);
hoặc vận dụng ở Việt Nam có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng
cử nhân luật, nhưng có kiến thức về pháp luật và đang hoạt động trên các lĩnh
vực pháp luật, trong đó có cả các Luật sư. Hội viên Hội luật gia Việt Nam
được hiểu theo nghĩa này. Luật sư (Lawyer), là luật gia được đào tạo thêm về
kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn Luật sư, qua đó được công nhận là
Luật sư để hành nghề chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp
luật. Như vậy, Luật sư có thể là thành viên Hội luật gia, nhưng luật gia thì
chưa hẳn đã phải là Luật sư.
10
tiếng đã nói: “Những kiến thức chuyên môn của bác sỹ giúp họ cứu chữa cho
người bệnh nhưng cũng có thể đầu độc người bệnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nghề Luật sư cũng như bất kỳ một
nghề chuyên môn nào khác cũng có những mặt trái. Do vậy, Luật sư cũng
phải biết sử dụng kiến thức chuyên môn của mình sao cho vừa bảo vệ khách
hàng lại vừa tôn trọng sự thật khách quan của vụ việc. Bên cạnh những tiêu
chuẩn về chuyên môn nghề nghiệp thì đạo đức nghề nghiệp là yếu tố rất quan
trọng với Luật sư, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu khi xây dựng một tiêu
chuẩn Luật sư trong thời kỳ đổi mới. Có như thế Luật sư mới đảm bảo tốt
được sứ mệnh mà mình gánh vác.
Ngoài hai quan điểm nêu trên còn có nhiều cách giải thích khác nhau
về nghề Luật sư. Có quan niệm cho rằng Luật sư là người trợ lý pháp luật cho
khách hàng, là người đồng hành pháp lý với Tòa án, là người trợ thủ pháp
luật xã hội hoặc Luật sư là người phụ tá của công lý, tham gia vào sự điều
hành của nền công lý ... Các quan niệm này có lẽ được xuất phát từ vai trò, ý
nghĩa của người Luật sư khi hành nghề với những hình thức khác nhau: tư
vấn, tranh tụng…dựa trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Những quan
điểm này quá trừu tượng không giúp chúng ta nhận biết được đặc điểm của
người Luật sư và không phân biệt được Luật sư với những người khác trong
xã hội. Việc quá đề cao vị trí, vai trò của Luật sư đến mức coi Luật sư là
người “phụ tá”, người “điều hành công lý” … giống như người điều hành bộ
máy tư pháp, theo chúng tôi cũng là không chính xác. Bởi Luật sư dù có thể
gọi theo nhiều tên khác nhau, song suy cho cùng Luật sư không có vị trí
ngang hàng với người tiến hành tố tụng.
Cho đến nay, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song vẫn có thể
minh mình có quyết tâm và khả năng mình có thể trở thành một Luật sư, một
luật gia giỏi hay không.
12
Ngoài những điều kiện cơ bản nêu trên, pháp luật mỗi quốc gia có thể
đặt ra những quy định riêng khác về điều kiện trở thành Luật sư.
Góc nhìn nghiên cứu này về các điều kiện về tiêu chuẩn Luật sư và
điều kiện hành nghề Luật sư ở Việt Nam được thể hiện khá cụ thể tại các điều
10, 11,12 của Luật Luật sư. Theo đó, người có đủ điều kiện trở thành Luật sư
chỉ được gọi là Luật sư và được phép hành nghề khi hội tụ đủ hai điều kiện:
được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư và đã gia nhập một Đoàn Luật sư do
mình lựa chọn.
Việc pháp luật có sự điều chỉnh cần thiết về điều kiện tiêu chuẩn Luật
sư và điều kiện hành nghề Luật sư không những bảo đảm sự thống nhất về tiêu
chuẩn đối với các chức danh tư pháp, mà còn tạo cơ sở để gắn kết quá trình đào
tạo nghề và hoạt động nghề nghiệp của Luật sư với các chức danh tư pháp
khác. Việc quy định cụ thể tiêu chuẩn Luật sư góp phần tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư, thu hồi Chứng chỉ hành
nghề Luật sư, cho đăng ký gia nhập Đoàn Luật sư. Mặt khác, quy định cụ thể
về tiêu chuẩn Luật sư cũng nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng của đội ngũ
Luật sư, tiếp tục phát triển hoạt động Luật sư theo hướng chuyên nghiệp hoá
thành một nghề. Xét theo luật thực định thì Luật Luật sư 2006 đã bỏ đi cụm từ
“Bằng hoạt động của mình, Luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội
và pháp chế XHCN” thay vào đó là một khái niệm xúc tích nhưng lại phản ảnh
đầy đủ nội hàm của khái niệm Luật sư theo hướng một nghề dịch vụ xã hội
theo quy định chung của các quốc gia khác trên thế giới. Việc thay đổi như vậy
không làm giảm đi vị thế của Luật sư bởi vì Luật sư là một bộ phận cơ bản cấu
thành nên các thiết chế dân chủ trong hệ thống tư pháp. Hơn nữa, Việt Nam
yếu tố quyết định trong nghề Luật sư. Người muốn hành nghề Luật sư phải
được công nhận là Luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến của các nước để được công
nhận là Luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề bao gồm: Là công dân của
nước sở tại; có bằng cử nhân luật; có phẩm chất đạo đức tốt. Bên cạnh đó là
14
các điều kiện khác như: phải trải qua khóa đào tạo Luật sư, kỳ thi công nhận
Luật sư; có thời gian tập sự hành nghề... Đây là những điều kiện cơ bản. Tuy
nhiên, theo quy định của pháp luật một số quốc gia Hồi giáo như A rập- xê-út
thì những người muốn làm Luật sư phải theo học một khóa “thần học”
[43;Tr.112] mà không đào tạo tại các trường đào tạo chức danh tư pháp như
truyền thống của các quốc gia trên thế giới.
Ở nước ta hiện nay thì tiêu chuẩn trở thành Luật sư bao gồm những
điều kiện là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc; tuân thủ Hiến pháp
và pháp luật; có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng cử nhân luật; đã được đào tạo
nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư; có sức khoẻ bảo
đảm hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.
Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam về tiêu chuẩn, điều kiện
hành nghề Luật sư cũng có sự tương đồng với quy định của các nước có nghề
Luật sư đang phát triển.
- Luật sư được tiến hành các hoạt động nghề nghiệp theo yêu cầu của
khách hàng trên cơ sở tôn trọng pháp luật và đạo đức nghề nghiệp
Luật sư tiến hành các hoạt động nghề nghiệp trên cơ sở yêu cầu của
khách hàng trong phạm vi hành nghề mà pháp luật quy định. Theo đó phạm
vi hành nghề của Luật sư là rất rộng với các công việc sau:
+ Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh
tố tụng, không chịu áp lực “Cơm, áo, gạo, tiền” nên có thể tập trung chuyên
môn vào hoạt động nghề nghiệp của mình.
Do đó, đặc điểm bất khả kiêm nhiệm của Luật sư hiện nay không chỉ
bảo đảm hoạt động này mang tính chuyên nghiệp, Luật sư hoạt động được độc
lập mà còn góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Luật sư trong xã hội, đồng thời
16
cũng tạo điều kiện để Luật sư có thể chuyên tâm với nghề nghiệp, đáp ứng nhu
cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng phong phú và phức tạp của nhân dân.
- Luật sư phải tham gia Đoàn luật sư mới được hành nghề
Đây là đặc thù của nghề luật sư so với các nghề tự do khác như kế toán,
kiểm toán, bác sĩ ... Có quy định như vậy nhằm để kiểm soát hoạt động của
Luật sư về đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề. Mặt khác giúp các Luật
sư có thể đoàn kết trong một tổ chức xã hội nghề nghiệp, qua đó tiếng nói của
“giới Luật sư” cũng như vai trò của Luật sư ngày càng được nâng cao trong
xã hội. Khi tham gia vào Đoàn Luật sư giúp các Luật sư nâng cao cả thế và
lực. Bên cạnh đó các Luật sư cũng có điều kiện nâng cao hơn kiến thức pháp
lý, chuyên môn nghề nghiệp bởi vì được cọ sát, trao đổi kinh nghiệm với các
Luật sư khác khi tham gia vào Đoàn Luật sư.
- Luật sư độc lập, tự chịu trách nhiệm trong hành nghề
Luật sư độc lập, tự chịu trách nhiệm trong hành nghề, trong đó có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất mà Luật sư gây ra cho khách hàng; trách
nhiệm vật chất của Luật sư là trách nhiệm vô hạn. Để bảo đảm quyền lợi của
khách hàng, Công ty luật có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
cho Luật sư của mình để bồi thường thiệt hại gây ra cho khách hàng. Những
Luật sư hành nghề tự do cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
cho mình.
1.1.3. Ý nghĩa về sự tham gia của Luật sư trong tố tụng dân sự
đặc biệt là những vụ việc phải nhờ đến sự giải quyết của Tòa án. Luật sư là
người hướng dẫn đương sự về những vấn đề liên quan đến pháp luật, giúp họ
thực hiện các quyền mà pháp luật quy định cho họ cũng như nhắc nhở đương
sự xử xự theo đúng quy định của pháp luật. Việc tư vấn pháp luật cho đương
sự của Luật sư góp phần không nhỏ cho việc giải quyết các tranh chấp xảy ra
trong đời sống xã hội, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giảm bớt
18