Vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ án có người chưa thành niên phạm tội - Pdf 25

Vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ
án có người chưa thành niên phạm tội
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây thực tiễn xét xử cho thấy rằng tỷ lệ các
vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội được các toà
án đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ đáng kể. Vấn đề này thật đáng báo động, là
mối quan tâm của toàn xã hội nói chung và của các ngành lập pháp, tư
pháp nói riêng.
Theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan chức năng thì
người chưa thành niên phạm tội là những người từ đủ 14 đến chưa đủ
18 tuổi. Do tâm sinh lý còn chưa hoàn chỉnh, việc trang bị những kiến
thức cần thiết về các lĩnh vực tự nhiên và xã hội còn nhiều khiếm
khuyết, và nhất là các kiến thức về pháp luật. Vì vậy, năng lực hành vi
tố tụng có phần hạn chế, các đối tượng này được hưởng chính sách
khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước từ góc độ hình sự cũng như tố tụng
hình sự, được bảo hộ đặc biệt của Nhà nước cũng như xã hội về các
quyền và lợi ích hợp pháp. Xuất phát từ đặc điểm mang tính đặc trưng
như vậy nên bộ luật tố tụng hình sự nước ta dành hẳn một chương riêng
(Chương 32) quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người
chưa thành niên.
Là luật sư trong tương lai, tôi chọn đề tài “ Vai trò của luật sư trong việc
giải quyết các vụ án có người chưa thành niên phạm tội” nhằm mục
đích góp một phần làm rõ các các chính sách của Nhà nước đối với
người chưa thành niên để có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên khi phạm tội. Luật sư vận dụng chính
sách nhân đạo thông qua các quy định của pháp luật, giúp cho người
chưa thành niên phạm tội có cơ hội sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
1
****
NỘI DUNG CƠ BẢN :

chưa thành niên.
Như vậy, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ
các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người
chưa thành niên gồm: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations
Convention on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua ngày 20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên
hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United
Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile
Justice /Beijing Rules) ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc
về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations
Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh
Guidelines) ngày 14-12-1990. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em
(Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người
từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người
trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và
thanh niên.
Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ
10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là
từ 15 đến 30 tuổi. Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là
thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người chưa
thành niên được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe
mạnh, có ích cho xã hội.
2. Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra
3
Điều 12 Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội

người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện
pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.” …
Như vậy, tội phạm do người chưa thành niên gây ra chỉ xuất hiện (phát
sinh) khi có đầy đủ 3 điều kiện sau đây:
Một là, có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện.
Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự tương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm.
Ba là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ
quan có thẩm quyền cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà
không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để
quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Những điều kiện trên cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xác định
tội phạm do người chưa thành niên gây ra. Tội phạm do người chưa
thành niên gây ra bao giờ cũng gắn liền với một người chưa thành niên
có hành vi phạm tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một
người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội
phạm.
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra có những đặc điểm riêng so
với tội phạm do người đã thành niên gây ra. Tội phạm do người đã
thành niên gây ra là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ dấu hiệu
tội phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tội phạm do người chưa
thành niên gây ra ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác
định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi
quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội.
Theo một số nghiên cứu khoa học, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và
áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được xem là
“cần thiết” khi hội đủ 3 điều kiện sau đây ( 1 ) :
5
- Người chưa thành niên phạm tội có nhân thân xấu.

- Tính thân thiện trong điều tra tội phạm: Cán bộ Cảnh sát nhân dân
trong khi tiến hành điều tra tội phạm do người chưa thành niên gây ra
ngoài việc vận dụng đúng các quy định pháp luật, sử dụng linh hoạt
nghiệp vụ, cần phải là người có kiến thức sâu sắc về tâm lý, đặc biệt là
tâm lý thân thiện với người chưa thành niên. Thái độ của cán bộ công
an, lời nói và biện pháp được sử dụng, môi trường và các điều kiện vật
chất để tiến hành điều tra luôn luôn gắn với tính từ “thân thiện”. Trong
giai đoạn điều tra, cán bộ điều tra phải thực hiện đầy đủ các thủ tục tố
tụng đặc biệt đối với người chưa thành niên như việc bắt, tạm giữ, tạm
giam; việc giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội; việc bào
chữa; việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức. Cũng có
nghĩa là, thái độ hà khắc, gây gắt, vô cảm và những biện pháp cứng
nhắc, vi phạm tố tụng là điều “cấm kị” đối với cán bộ Cảnh sát nhân
dân trong hoạt động điều tra tội phạm do người chưa thành niên gây ra.
- Tính cụ thể, nhân văn trong xử lý người chưa thành niên phạm tội:
Không phải tất cả những người chưa thành niên phạm tội đều phải xử lý
bằng hình sự. Trong công tác điều tra, cán bộ Cảnh sát nhân dân cần thu
thập thông tin, chứng cứ để không chỉ làm rõ tất cả những vấn đề phải
chứng minh trong vụ án hình sự mà còn nhằm xác định rõ những vấn đề
khác theo quy định tại Điều 302 Bộ luật Tố tụng hình sự. Phải vận dụng
một cách có căn cứ những nguyên tắc quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình
sự. Chúng ta thấu hiểu và đồng tình với quan niệm “Nhà tù là lựa chọn
cuối cùng để xử lý người chưa thành niên phạm tội”. Và đương nhiên,
khi không phải lựa chọn một biện pháp nào để xử lý người chưa thành
niên phạm tội mới là điều tốt lành không chỉ là lý tưởng mà còn là
những hành động chiến lược lâu dài và rất cụ thể của tất cả chúng ta./.
- Quyết định hình phạt với người chưa thành niên phạm tội là trường
hợp đặc biệt. Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chổ hình phạt
được quy định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình
tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của

không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội thì tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.
Đối với người chưa thành niên phạm tội thì không phạt tù trung thân
hoặc tử hình, không áp dụng các hình phạt bổ sung, không áp dụng hình
phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuỏi từ 14 đến
dưới 16 tuổi. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành
8
niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với
người thành niên đã phạm tội tương ứng.
Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi
không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Theo Bộ luật hình sự 1999 và Luật sửa đổi bổ sung luật hình sự năm
2009, việc quyết định hình phạt được tiến hành như sau:
+ Đối với phạt tiền: Nếu như BLHS năm 1985 trước khia chưa quy định
áp dụng phạt tiền đối với người chưâ thành niên phạm tội thì BLHS
năm 1999 đã quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với
người chưa thành niên phạm tội nếu họ ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18
tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Quy định mới này nhằm
hạn chế việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên đồng
thời việc áp dụng phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội
trong trường hợp này vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt.
Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không vượt qúa
1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định.
+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định
giới hạn hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội không vượt
quá 1/2 thời hạn và điều luật quy định. Đồng thời, do người chưa thành
niên hầu như chưa có thu nhập hoặc tài sản riêng nên BLHS năm 1999
đã không khấu trừ thu nhập của họ khi bị kết án.
+ Đối với hình phạt tù có thời hạn: BLHS năm 1999 đã phân hóa người

Điều 75)
Thực tiễn vận dụng điều 75 Bộ Luật hình sự cho thấy nảy sinh vấn đề
cần giải quyết, đó là việc xác định tội nặng nhất. Thực tiễn xét xử đã
xác định tội nặng nhất là tội có mức hình phạt tối đa của khung hình
phạt cao nhất cao hơn. Trong trường hợp có mức hình phạt tối đa bằng
nhau thì thì tội nặng hơn là tội có mức hình phạt khởi điểm khung hình
phạt cao nhất cao hơn. Cách xác định này một lần nữa được khẳng định
tại Thông tư số 01/98 TANDTC – VKSNDTC – BNV ngày 02/1/1998.
Tuy nhiên, có những trường hợp không thể xác định được tội nặng nhất
nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất của hai tội ngang
bằng nhau và cao nhất cũng ngang bằng nhau. Trong khoa học luật
Hình sự hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau .
Ý kiến thứ nhất cho rằng: “Cơ sở để xác định tội nặng nhất trong các
tội mà người chưa thành niên đã phạm là căn cứ và hình phạt cụ thể
10
mà tòa án đã tuyên cho từng tội. Tội nào có hình phạt cao nhất thì đó là
tội nặng nhất trong các tội mà người chưa thành niên đã phạm”.
Ý kiến thứ hai cho rằng “ Trường hợp không thể xác định được tội nặng
nhất nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất là hai tội bằng
nhau và hình phạt khởi điểm của khung có hình phạt cao nhất cũng
bằng nhau thì trường hợp này tội nặng hơn là tội có hình phạt tối đa
của khung hình phạt nhẹ nhất cao hơn. Nếu hình phạt tối đa của khung
hình phạt nhẹ nhất bằng nhau thì tội nặng hơn là tội có hình phạt khởi
điểm của khung hình phạt nhẹ nhất cao hơn.”
Tôi cho rằng ý kiến thứ nhất tuy có ưu điểm là đơn giản hóa việc vận
dụng khái niệm tội nặng hơn trong thực tế nhưng không hợp lí vì không
thể coi tội trộm cắp tài sản nặng hơn tội giết người nếu ở trường hợp cụ
thể, người phạm tội trộm cắp tài sản bị phạt 10 năm tù, còn ở tội giết
người, bị cáo chỉ bị phạt có 7 năm tù. Theo chúng tôi, ý kiến thứ hai hợp
lí hơn nhưng chưa đủ để giải quyết những vướng mắc còn lại. Cụ thể là

nhất mà tòa án tuyên cho bị cáo không quá 5 năm tù – không quá 1/2
mức cao nhất của khoản 1 Điều 133. Như vậy, nếu áp dụng đoạn 2
khoản 2 Điều 74 thì hình phạt áp dụng cho bị cáo rõ ràng được giảm
nhẹ hơn hẳn so với người đã thành niên phạm tội.
Mặt khác, cách diễn đạt “ mức hình phạt cao nhất không quá 18 năm
tù” hoặc “ không quá 3/4 mức phạt tù”… của Điều 74 là còn chưa rõ
nên có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất cách hiểu phổ biến hiện nay là Bộ Luật hình sự
(BLHS) đã khống chế mức tối đa của khung hình phạt được phép áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong sự so sánh với người
đã thành niên phạm tội và BLHS đã không khống chế mức tối thiểu.
Mức hình phạt cao nhất mà người chưa thành niên chấp hành phải thấp
hơn mức hình phạt cao nhất áp dụng cho người đã thành niên.
Các hiểu thứ hai cho rằng mặc dù Điều 74 quy định như trên nhưng
thực chất điều luật này vẫn còn khống chế mức hình phạt tối đa và mức
tối thiểu quy định cho người đã thành niên.
Tôi cho rằng để các quy định về quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội được áp dụng có hiệu quả trong thực tế, Điều
74 BLHS hiện hành cần khắc phục kịp thời những hạn chế đã phân tích
ở trên để các quy định này thực sự là công cụ hữu hiệu của Nhà Nước
trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm./.
4. Một số vụ án người chưa thành niên phạm tội - Ý kiến của Luật
sư và những người liên quan :
+ Ngày 10-8, TAND TPHCM lại đưa ra xét xử vụ “phá hủy công trình,
phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Trong 4 bị cáo, hết 3
12
người chưa thành niên (tuổi từ 15 đến 17) và thuộc thành phần lao động
nghèo. Lần lượt hỏi từng bị cáo lý do đi cắt trộm dây điện, HĐXX đều
nhận được câu trả lời: “Cắt để bán ve chai lấy tiền chơi game”. Hỏi :
“Có biết cắt trộm dây điện đang vận hành là phạm tội phá hủy công

vào những kiểu vui chơi không lành mạnh. Để có tiền đáp ứng được
những nhu cầu cá nhân, ắt phải làm bậy. Và vì còn nhỏ, các em không ý
13
thức hết việc mình làm, hành động phạm tội của các em vì thế thường
dẫn đến hậu quả nghiêm trọng”. Mới đây, TAND TPHCM đã tổ chức
hội thảo về thực trạng người chưa thành niên phạm tội. Theo Tòa Hình
sự TAND TP, từ năm 2002 đến 2006, tỉ lệ người chưa thành niên phạm
tội tăng gần 100%. Một điều đáng nói nữa là, người chưa thành niên
phạm tội thường đóng vai trò chủ động, trong nhiều trường hợp là
những người tổ chức, cấu kết thành băng nhóm. Có thể nhận thấy, giáo
dục lối sống đạo đức chưa thực sự được coi trọng, giáo dục pháp luật
chưa đưa vào học đường nên hiểu biết pháp luật của người chưa thành
niên rất hạn chế. Tuy nhiên, gia đình vẫn là quan trọng nhất. Một thẩm
phán nói: “Đưa những bị cáo tuổi đời còn quá trẻ ra xét xử như thế này,
chúng tôi rất đau lòng. Nhưng buồn nhất là khi ra tòa, các bậc phụ
huynh vẫn chưa thấy hết trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con
cái, cũng không thấy mức độ nghiêm trọng của vụ việc. Để rồi, khi nghe
con bị tuyên án bao nhiêu năm tù, họ mới giật mình nhận ra, thì lý lịch
của đứa trẻ đã kịp có vết nhơ rồi ”.
II. Vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ án có người chưa
thành niên phạm tội.
1. Vai trò của Luật sư khi tham gia vụ án có người chưa
thành niên phạm tội :
Trong các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên bắt
buộc phải có sự tham gia của người bào chữa. Quy định này vừa thể
hiện tính dân chủ của hoạt động tố tụng vừa là một điều kiện bảo đảm
hiệu quả của quá trình giải quyết các vụ án hình sự, bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội.
Do đó khi tham gia với tư cách là người bào chữa vào quá trình
giải quyết các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên,

15
những thông tin chính xác, khai ra các đồng phạm khác (nếu điều đó
không làm xấu đi tình hình của bị can), thuyết phục gia đình sớm khắc
phục hậu quả, chủ động gặp gỡ, thoả thuận với bên bị hại để sau này
được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Người chưa thành niên là những người
trong độ tuổi mà tâm lý chưa ổn định , luôn cần sự tác động nhẹ nhàng,
tình cảm vì vậy nếu có luật sư am hiểu về tâm sinh lý với họ thì họ dễ
dàng khai báo sự thật và điều này giúp cho luật sư có những luận cứ
chính xác trong việc xây dựng bài bào chữa của mình theo hướng có lợi
nhất cho họ.
Theo quy định của tố tụng hình sự, sự tham gia của luật sư, người
bào chữa trong các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là
bắt buộc. Điều này có nghĩa là, sau khi một người chưa thành niên bị
khởi tố bị can nếu bị can hoặc gia đình bị can không mời luật sư bào
chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là cơ quan điều tra có
nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư cử luật sư bào chữa cho bị can. Tuy
nhiên, trong thực tế ở nước ta hiện nay, nhiều trường hợp khi vụ án
chuyển sang toà án thì Toà án mới yêu cầu cử luật sư, còn trong giai
đoạn điều tra, truy tố, bị can không có luật sư bào chữa. Vì vậy trong
mọi trường hợp, luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa
cho bị can, bị cáo khi có một trong hai điều kiện:
- Bị can, bị cáo hoặc gia đình bị can, bị cáo mời
- Đoàn luật sư chỉ định trên cơ sở đề nghị của cơ quan tiến hành
tố tụng .
Sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự là rất cần thiết, bằng
hoạt động của mình, luật sư giúp bị can, bị cáo là người chưa thành niên
thực hiện tốt hơn nữa quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp
16
luật, đồng thới giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

thêm người làm chứng, huỷ bỏ, thay thế các biện pháp ngăn chặn.
Ngoài ra luật sư còn phải kiểm tra xem xét việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn đối với bị can, bị cáo có đúng quy định của pháp luật không
nhất là biện pháp tạm giam.
Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có bị can là người chưa
thành niên, cơ quan điều tra hầu như không lưu giữ trong bản hồ sơ bản
sao giấy khai sinh của bị can, chính vì vậy, việc xác định trách nhiệm
của bị can đôi khi không được chính xác. Khi tiếp xúc với gia đình bị
can, luật sư cần tìm hiểu chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can.
Trong nhiều trường hợp, một việc làm tưởng như đơn giản này lại có
tác dụng rất lớn, nó có thể dẫn đến việc đình chỉ vụ án, thay đổi biện
pháp ngăn chặn áp dụng cho bị can từ nghiêm khắc sang ít nghiêm khắc
hơn. Song song với quy định bị can là người chưa thành niên phải có
luật sư bào chữa, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định về vai trò của
người giám hộ, người đại diện hợp pháp của bị can. Những người này
phải có mặt khi hỏi cung bị can và các bản hỏi cung của bị can chỉ có
giá trị pháp lý khi có chữ ký của ngưới giám hộ, người đại diện hợp
pháp kèm theo các chữ ký của bị can và điều tra viên. Xuất phát từ các
quy định trên, qua tiếp xúc với gia đình bị can, luật sư có thể thoã thuận
với người giám hộ, người đại diện hợp pháp của bị can. Cũng qua việc
tiếp xúc với gia đình bị can, luật sư có kế hoạch cụ thể tìm hiểu về nhân
18
thân của bị can, về những mối quan hệ của bị can với các bạn cùng
trường, cùng nơi cư trú. Trong trường hợp cần thiết luật sư phải tìm
hiểu ai là người xúi giục, mua chuộc, lôi kéo bị can thực hiện hành vi
phạm tội.
2. Vai trò Luật sư trong các giai đoạn tố tụng hình sự khi
tham gia vụ án có người chưa thành niên phạm tội :
Luật sư có vai trò quan trọng trong giai đoạn điều tra. Thông qua
việc thực hiện các quyền năng tố tụng của mình theo quy định của pháp

quyết vụ án không khách quan hoặc không đúng quy định của pháp luật
tố tụng đối với người chưa thành niên quy định tại Điều 307 BLTTHS.
Pháp luật tố tụng hình sự của nước ta quy định điều tra viên, kiểm sát
viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với những vụ án người chưa thành
niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học,
về khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh và phòng chống
tội phạm của những người chưa thành niên. Tuy nhiên, trong thực tiễn
quy định trên đây khó được áp dụng bởi khả năng đang còn rất hạn chế
của điều tra viên, thẩm phán về lĩnh vực nêu trên. Vì vậy việc đề nghị
những người tiến hành tố tụng có được trình độ về tâm ly, giáo dục
nhận trách nhiệm giải quyết vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên là
rất kho. Thế nhưng luật sư hoàn toàn có thể yêu cầu toà án thành lập
Hội đồng xét xử trong đó có hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc là cán
bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Trong phần thủ tục bắt đầu
20
phiên toà luật sư còn xem xét xem phiên toà xét xử hôm nay có mặt
ngừơi đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo không, nếu người này vắng
mặt do sư sai xót của cơ quan tiến hành tố tụng không triệu tập hoặc vì
lý do nào khác mà không phải do người đại diện hợp pháp của gia đình
của bị cáo cố ý vắng mặt thì cũng có thể đề nghị Hội đồng xét xử hoãn
phiên tòa. Trường hợp tại phiên toà vắng mặt người làm chứng mà sự
vắng mặt của họ không có lợi cho bị cáo mà mình bảo vệ thì đề nghị
Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.
Trong phần xét hỏi tại phiên toà, luật sư theo dõi, phát hiện
những điểm quan trọng có liên quan đến việc bảo vệ cho bị cáo, những
tình tiết có mâu thuẫn với các chứng cứ khác trong vụ án hoặc những
tình tiết không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án cần được làm
rõ. Từ đó luật sư đặt câu hỏi nhằm làm rõ những tình tiết có lợi cho bị
cáo mà mình bảo vệ. Có thể yêu cầu Hội đồng xét xử cách ly bị cáo với
bị cáo khác(nếu thấy cần thiết). Luật sư có thể hỏi đại diện gia đình, nhà

người chưa thành niên so với bị cáo là người đã thành niên tại phiên toà
là phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình
sự, tái phạm, định tội danh, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp
và các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên toà áp
dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Tuỳ thuộc vào tính chất
trong từng vụ án cụ thể, luật sư trong lời bào chữa của mình ngoài
những lập luận phản bác lại lời buộc tội của viện kiểm sát nhằm làm
sáng tỏ bản chất của vụ án như trong bất kỳ vụ án nào. Luật sư có thể
22
đưa ra những tình tiết giảm nhẹ khác nhau, liên quan tới hoàn cảnh gia
đình, tâm lý, lứa tuổi, vai trò thứ yếu của bị cáo trong vụ án, nguyên
nhân và điều kiện dẫn tới hành vi phạm tội của bị cáo. Khi tham gia đối
đáp tại phiên toà luật sư phải tận dụng cơ hội đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận những chứng cứ buộc tội bị cáo do Viện kiểm sát đưa
ra không có cơ sở. Luật sư phải lắng nghe để có thể đáp lại những ý
kiến mà mình không đồng ý một cách linh hoạt, kịp thời, chính xác trên
cơ sở pháp luật. Từ đó, đề xuất với Hội đồng xét xử có những quyết
định có lợi cho bị cáo như miễn trách nhiệm hình sự , miễn hình phạt áp
dụng điều luật khác nhẹ hơn mức tối thiểu của khung hình phạt, áp dụng
hình phạt không phải là tù, áp dụng án treo. Những tình tiết này có ý
nghĩa rất lớn trong việc xem xét và quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Khi tuyên án, luật sư theo dõi và ghi lại những nhận định của Hội
đồng xét xử về tội danh và hình phạt, quyết định của bản án có liên
quan đến bị cáo mà mình bảo vệ để có thể giúp bị cáo kháng cáo nếu
không đồng ý với bản án sơ thẩm mà Toà án đã tuyên đối với bị cáo.
Sau khi tuyên án, luật sư cũng có thể xem biên bản phiên toà trường hợp
phát hiện biên bản phiên toà có những điểm ghi không đúng, luật sư yêu
cầu toà án sửa chữa cho phù hợp với diễn biến của phiên toà.
Khác với các vụ án bị can, bị cáo là người đã thành niên, trong vụ
án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, sau phiên toà sơ thẩm

thường của lứa tuổi chưa thành niên này.
Khi pháp chế xã hội chủ nghĩa đã đi vào cuộc sống hàng ngày của
mọi người. Điều đó cũng là tính nghiêm minh, tôn trọng pháp luật ngày
càng được đặt thành vấn đề quan trọng trong sinh hoạt thường nhật thì
luật sư càng có vai trò quan trọng, đặc biệt quan trọng trong bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và nhất là người chưa thành niên
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status