BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN
TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA
TÒA ÁN CẤP HUYỆN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
và được trích dẫn theo những nguồn đã được cng bố. Kết quả nêu trong luận
văn là trung thực.
Tác giả
Nguyễn Thị Liên
PHẦN KẾT LUẬN…………………………...………………….......71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, được sửa đổi bổ
sung bởi Luật số 65/2011/QH12
2. HĐĐGTS
Hội đồng định giá tài sản
3. HĐXX
Hội đồng xét xử
4. NQ 04/2012
Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi
hành một số quy định về “Chứng minh và chứng
cứ của Bộ luật tố tụng dân sự”
5. PLTTDS
Pháp luật tố tụng dân sự
6. PLTTGQCVADS
đương sự trong hoạt động này vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
giải quyết VADS hiện nay. BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 tuy đã khắc phục
được một số tồn tại, hạn chế của BLTTDS năm 2004 về hoạt động thu thập chứng
cứ của Tòa án. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động
thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn còn chưa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng, cụ thể
dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Những khó khăn,
vướng mắc này thể hiện rõ nét khi hoạt động này diễn ra trong quá trình Tòa án cấp
huyện giải quyết các VADS, bởi giai đoạn tố tụng đầu tiên của phần lớn các tranh
chấp dân sự đều bắt đầu từ Tòa cấp huyện, hồ sơ VADS do chính Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án xây dựng ngay từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện của đương
sự. Những vụ án được giải quyết theo thủ tục TTDS bao gồm các tranh chấp dân sự,
hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động nhưng các tranh chấp dân sự
là loại vụ án có tính chất phức tạp, sự mâu thuẫn giữa các đương sự trong quan hệ
này thường rất gay gắt, căng thẳng, số lượng VADS Tòa án cấp huyện thụ lý, giải
quyết trong từng năm tương đối lớn so với các tranh chấp khác được giải quyết theo
thủ tục TTDS. Theo đó, qúa trình giải quyết VADS tại Tòa án huyện trong đó có
hoạt động thu thập chứng cứ cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Riêng ở
Thành phố Hải Phòng thì loại vụ án này lại càng phức tạp bởi Hải Phòng nằm trong
vành đai phát triển đô thị, tốc độ đô thị hóa nhanh, trình độ dân trí không đồng đều,
công tác quản lý hồ sơ, tài liệu trong nhiều lĩnh vực còn nhiều bất cập...Mặt khác,
trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ Tòa án huyện còn hạn chế. Những đặc
điểm về điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội, đội ngũ cán bộ Tòa ánnêu trên đã
ảnh hưởngđến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết
các VADS, dẫn đến tỷ lệ các bản án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa hay án quá hạn luật
định do lỗi thu thập chứng cứ, án tạm đình chỉ chờ kết quả thu thập chứng cứ vẫn
còn nhiều... Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án của các đơn vị, uy tín
của Tòa án, niềm tin của người dân vào công lý.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện
thành phố Hải Phòng” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Đưa ra những phương hướng của việc hoàn thiện pháp luật về thu thập chứng cứ
của Tòa án nói chung và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động thu thập chứng cứ tại
Tòa án cấp huyện của thành phố Hải Phòng.
3.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các quy định của PLTTDS Việt Nam và một số nước về hoạt
động thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết VADS.
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án
huyện tại Thành phố Hải Phòng trong quá trình giải quyết VADS theo nghĩa hẹp.
Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt
động này của Tòa án trên thực tế. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động thu
3
thập chứng cứ của Tòa án khi giải quyết VADS mà không nghiên cứu hoạt động thu
thập chứng cứ của Tòa án đối với việc giải quyết việc dân sự.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu khoa
học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng
hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, khảo sát, sửa dụng các kết quả
thống kê…
5. KẾT CẦU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
trong tố tụng dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
Chương 3: Thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cấp
huyện thành phố Hải Phòng và phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
chưa làm nổi bật lên được chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ trong
trường hợp này là Tòa án và tiến hành thu thập chứng cứ qua việc áp dụng một số
biện pháp thu thập chứng cứ trong những trường hợp và điều kiện do PLTTDS quy
định và thông qua việc áp dụng thủ tục, trình tự cũng như điều kiện chặt chẽ do
pháp luật quy định, như vậy các chứng cứ mà Tòa án thu thập được mới có giá trị
pháp lý và được sử dụng vào hoạt động giải quyết VVDS.
Theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà
Nội thì “thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm tìm phát
hiện, thu giữ, ghi nhận thêm những bằng chứng cần thiết khác dùng làm căn cứ cho
5
việc giải quyết vụ việc dân sự” [2, tr 98]. Khái niệm này đã làm rõ được phạm vi thu
thập chứng cứ của Tòa án là chỉ thu thập thêm những chứng cứ để củng cố hồ sơ
cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về VVDS đang giải quyết, đã thể hiện trong nội
hàm khái niệm tương đối rõ về mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ. Tuy
nhiên, khái niệm trên không thể hiện được nội dung là trong trường hợp nào thì Tòa
án tiến hành áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ? hoặc Tòa án có
thể chủ động áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ nào không và trong điều kiện
nào, cũng như trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó để đảm bảo tính pháp lý
của chứng cứ thu thập được.
Hoạt động giải quyết các VADS là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh
chấp về quan hệ nội dung giữa các bên có quyền lợi ích tư đối lập nhau và các chủ
thể trong quan hệ pháp luật dân sự có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau. Chính sự
bình đẳng về địa vị pháp lý của các chủ thể dẫn đến một quy tắc chung cho cả hai
bên đương sự là: người nào đề ra một yêu cầu đối với người khác thì cần phải có
chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình. Tòa án chỉ có thể giải quyết đúng
VADS khi có đầy đủ các chứng cứ và các sự kiện, tình tiết của vụ án đã được làm
sáng tỏ. Chính vì vậy, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định là
được tiến hành bằng cách các bên đưa ra nhân chứng và cung cấp chứng cứ, Thẩm
phán hoặc bồi thẩm đoàn sẽ dựa hoàn toàn vào các bằng chứng đó để ra phán quyết.
Tương tự như vậy, ở Anh, phiên tòa xét xử là cơ hội để các luật sư tranh tụng thể
hiện tài năng biện hộ của mình. Mọi tình tiết chứng cứ của vụ án sẽ được các bên
đưa ra và tranh luận ngay tại phiên tòa, Thẩm phán sẽ chỉ dựa vào đó để đưa ra các
phán quyết của mình [18, tr 248, 284].
Như vậy, đối với những nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng, thì nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các bên đương sự được đề cao, Tòa án chỉ
là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ do đương sự cung cấp. Vì vậy, việc thu
thập chứng cứ do chính các bên hoặc luật sư của họ thực hiện với sự trợ giúp của
Tòa án, thông qua việc buộc bên kia phải trả lời, phải tuyên thệ, đối chất, đưa ra các
tài liệu để làm sáng tỏ nội dung vụ việc.
Trong khi đó, hệ thống pháp luật của những nước theo truyền thống tố tụng
xét hỏi dù vẫn quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS
thuộc về các đương sự nhưng mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với việc thực hiện
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự lại nhiều hơn. Như trong
PLTTDS của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Trung Quốc..., nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ và chứng minh vẫn được xác định là trước tiên thuộc về các đương sự, họ
phải thực hiện nghĩa vụ này ngay từ khi khởi kiện – giải đoạn đầu tiên của hoạt
động tố tụng. Điều 6 BLTTDS Pháp quy định: “Các bên đương sự có nghĩa vụ viện
dẫn các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình”[3, tr 8] và tại Điều 9:
“Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết
làm căn cứ cho các yêu cầu của mình”[3, tr 9]. Điều 56 BLTTDS của Liên bang
Nga lại quy định: “Mỗi bên có nghĩa vụ phải chứng minh những tình tiết làm cơ sở
cho những yêu cầu của mình hay sự phản đối yêu cầu của bên kia, nếu luật liên
bang không quy định khác” [8]. Khi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
VVDS của mình bên nguyên đơn cần chú ý là đơn khởi kiện phải được viết thành
7
Ở Việt Nam, PLTTDS cũng theo truyền thống xét hỏi, về nguyên tắc đương
sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình và Tòa án
chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp pháp luật có quy
định. Tại Điều 6 BLTTDS dành sự chủ động và xác định nghĩa vụ nhiều hơn cho
các đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Tuy
nhiên, hiện nay, khi sự hiểu biết pháp luật của đa số đương sự ở nước ta vẫn còn
8
thấp, khả năng tự bảo vệ còn hạn chế, điều kiện kinh tế còn thấp, trách nhiệm cung
cấp tài liệu, chứng cứ của các cơ quan, tổ chức lưu giữ còn hạn chế, nên nếu quy
định các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh toàn bộ yêu cầu
của mình thì có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp,
quyền tiếp cận công lý của họ không được bảo vệ. Trong lúc đó, một bên đương sự
khác có thể được hưởng lợi không có căn cứ chỉ do đương sự có quyền đã không có
khả năng chứng minh được quyền của mình. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên nói chung và bảo về quyền tiếp cận công lý của đương sự, Tòa án
vẫn cần phải hỗ trợ các đương sự ở một mức độ nhất định.
Như vậy, dù theo truyền thống TTDS nào thì đương sự vẫn là những chủ thể
đầu tiên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Đây là hoạt động khởi nguồn, quyết định
tới các hoạt động khác mà cội nguồn của hoạt động này xuất phát từ nguyên tắc
“quyền tự định đoạt của đương sự”. Theo đó, khi đương sự đưa ra yêu cầu không có
bất kỳ bằng chứng, lý lẽ nào chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình thì Tòa
án sẽ từ chối thụ lý vụ kiện, vì vậy không làm phát sinh bất cứ một hoạt động tố
tụng nào tiếp theo. Kết quả giải quyết VADS trước hết phụ thuộc vào các chứng cứ,
tài liệu do các đương sự cung cấp. Chứng cứ càng đầy đủ, chính xác thì vụ kiện
càng được giải quyết nhanh chóng, công bằng và hợp lý. Quyền và nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ và chứng minh chủ yếu là của đương sự đưa ra yêu cầu, Tòa án chỉ hỗ
với quá trình chứng minh nói chung và đối với quá trình xác định sự thật khách
quan thông qua việc đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết các
VVDS nói riêng.
Khi thụ lý giải quyết VADS Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên
quan đến vụ việc, để thực hiện được điều này Tòa án phải nghiên cứu những chứng
cứ khác nhau do đương sự cung cấp cũng như những chứng cứ tự mình thu thập
được để xác định những tình tiết của vụ việc. Tuy nhiên, để có thể làm rõ các tình
tiết, sự kiện của VADS thì Tòa án cần phải thu thập, nghiên cứu và đánh giá các
chứng cứ liên quan để tái hiện sự thật khách quan. Hoạt động chứng minh là một
hoạt động then chốt, quan trọng nhất và được diễn ra trong suốt quá trình giải quyết
VVDS, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng như cung cấp,
thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Tuy nhiên, xét theo nghĩa rộng thì bên
cạnh các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ thì hoạt động
chứng minh của các chủ thể còn bao hàm cả việc làm rõ các cơ sở pháp lý liên quan
đến các yêu cầu trong VVDS.
Đối với Tòa án, hoạt động chứng minh là công cụ để Tòa án có thể nhận thức
được chính xác sự việc đã xẩy ra trên thực tế. Trong đó, cung cấp chứng cứ là hoạt
động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát
các chứng cứ của VVDS. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự và cá
nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ. Thu thập chứng cứ là hoạt
động tiếp theo do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm phát hiện các chứng cứ
của VVDS. Nghiên cứu chứng cứ là hoạt động do các chủ thể tố tụng tiến hành
trong suốt quá trình TTDS nhằm kiểm tra các thuộc tính của chứng cứ. Đánh giá
chứng cứ là hoạt động cuối cùng của quá trình chứng minh do các chủ thể chứng
10
minh thực hiện nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ. Trong đó việc đánh
giá chứng cứ của Tòa án là quan trọng nhất vì Tòa án là chủ thể có quyền sử dụng
trong việc tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, cử người tham gia Hội đồng định
giá; Tòa án nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc ủy thác thu thập chứng
cứ trong thời hạn luật định…
11
Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của
các chủ thể tố tụng khác như đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự. Bời vì, hoạt động thu thập chứng cứ của chủ thể trên nhằm thu thập các
chứng cứ cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu tố tụng của mình hay
phản bác yêu cầu tố tụng của đối phương. Các hoạt động thu thập chứng cứ này
không mang tính quyền lực Nhà nước như hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS do Thẩm phán được
phân công giải quyết VVDS hoặc Hội đồng xét xử tiến hành
Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ trong
tố tụng hình sự. Việc thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự là thuộc trách nhiệm
của cơ quan điều tra. Tòa án khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, nếu xét thấy các
tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra
bổ sung mà không trực tiếp thực hiện công việc thu thập chứng cứ như trong TTDS.
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS do Thẩm phán giải
quyết vụ việc hoặc do Hội đồng xét xử vụ án tiến hành là dấu hiệu để khẳng định
quyền năng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc thu thập chứng cứ đối với
các VVDS. Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ việc hoặc thành viên
Hội đồng xét xử là người nắm rõ nội dung vụ việc nhất, là những người chịu trách
nhiệm về kết quả của việc giải quyết vụ việc. Chánh án, Phó Chánh án không có vai
trò trong việc thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc. Thư ký Tòa án cũng không
có quyền thu thập chứng cứ mà chỉ là người giúp việc, hỗ trợ cho Thẩm phán, Hội
đồng xét xử trong một số hoạt động thu thập chứng cứ khi được Thẩm phán, Hội
đồng xét xử phân công. Theo PLTTDS Việt Nam, trong thời hạn chuẩn bị xét xử thì
chứng cứ và không trả lời câu hỏi của phía bên kia thì Thẩm phán sẽ hỗ trợ bằng
cách ra lệnh buộc cung cấp chứng cứ hay buộc phải trả lời câu hỏi. Nếu người được
Thẩm phán ra lệnh nhưng không chấp hành việc cung cấp chứng cứ hoặc không trả
lời cho phía bên kia thì Thẩm phán sẽ áp dụng biện pháp chế tài đối với họ. Trong
trường hợp người đó là bị đơn thì Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ kiện hoàn
toàn trên chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trước Tòa. Đây là khả năng có thể xẩy
ra nên các đương sự đã tự nguyện hơn trong việc cung cấp chứng cứ cho nhau, cũng
như chấp hành các quy định của Luật, Lệnh của Tòa án [13, tr 22]. Với pháp luật
của những nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi thì sự hỗ trợ của Tòa án lại nhiều
hơn. Trong PLTTDS của Pháp hay của Trung Quốc thì Thẩm phán tiến hành các
hoạt động điều tra để giúp đương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự
không tự thu thập được chứng cứ và có đơn đề nghị Thẩm phán. Hay BLTTDS của
nước ta cũng quy định Thẩm phán có quyền chủ động tiến hành một số biện pháp
thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết trong quá trình giải quyết VVDS.
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải được tiến hành theo trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định
Thông tin về VVDS phải đảm bảo tính hợp pháp mới được sử dụng làm căn
cứ giải quyết vụ kiện. Theo đó, những thông tin về vụ việc phải được Tòa án thu
thập từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.
Đặc điểm này nhằm bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ, tránh sự lạm quyền hay
tùy tiện của Tòa án, ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của đương sự.
13
Các sự kiện, tình tiết để trở thành chứng cứ trong VVDS có giá trị chứng
minh cho yêu cầu hay phản yêu cầu của các bên thì cần phải được thu thập, bảo
quản, củng cố, nghiên cứu và đánh giá theo một thủ tục do luật định. Trình tự này
nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ, buộc Tòa án tiến hành tố tụng một
cách thận trọng, chặt chẽ; vừa đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của các chứng
không trực tiếp tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ như lấy lời khai của
14
đương sự, người làm chứng…Đối với pháp luật của Pháp hay Nga lại hỗ trợ đương
sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh nhiều hơn bằng cách trực
tiếp tiến hành điều tra, xác minh các tình tiết của vụ kiện khi đương sự không thể
thực hiện được hoặc trong trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết để thu thập thêm
chứng cứ. Ở Việt Nam, Tòa án với tư cách là cơ quan công lý giữ gìn trật tự, kỷ
cương xã hội; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân lao động trong quá trình giải
quyết vụ việc, nên Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn các bên đương sự cung cấp
chứng cứ; có nghĩa vụ xác minh chứng cứ các bên đưa ra và hỗ trợ các bên đương
sự khi họ không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu.
Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, do đó Tòa án không có nghĩa vụ
chứng minh, song trong quá trình tố tụng Tòa án vẫn phải hỗ trợ các bên đương sự
trong việc tìm ra sự thật khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ bởi:
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng xét xử, thiết lập lại các
quan hệ nội dung bị vi phạm hay tranh chấp, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Và trong một số trường hợp do trình độ hiểu biết pháp luật hạn
chế, sự chây ỳ, chống đối của phía đương sự đối lập, sự trì trệ trong việc cung cấp
thông tin của các cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ dẫn đến có những việc mà bản
thân đương sự không thể thực hiện việc thu thập chứng cứ được cần phải có sự hỗ
trợ, can thiệp của Tòa án.
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của
Tòa án phải phù hợp với đặc điểm truyền thống tố tụng
Tùy theo truyền thống tố tụng mà pháp luật mỗi nước đều có cơ chế hỗ trợ
đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh khác nhau. Ở những nước theo
truyền thống tố tụng tranh tụng hoàn toàn không quy định trách nhiệm thu thập
chứng cứ của Tòa án, việc cung cấp chứng cứ để chứng minh vụ việc hoàn toàn
Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng các
dịch vụ pháp lý của Việt Nam chưa phát triển, sự hiểu biết pháp luật của người dân
còn hạn chế, còn sự chênh lệch lớn ở các vùng miền, đặc biệt ở những nơi có điều
kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp. Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của
các cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu, chứng cứ chưa sẵn sàng
cung cấp thông tin như một dịch vụ để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được,
những thông tin này nhiều lúc, nhiều nơi còn là bí mật không thể tiết lộ, không thể
công khai khi người dân có nhu cầu được cung cấp. Chính vì vậy, pháp luật cần quy
định cơ chế hỗ trợ cho người dân có thể thuận tiện tìm kiếm thông tin để thực hiện
nghĩa vụ chứng minh của mình khi tham gia tố tụng và sự hỗ trợ của Tòa án trong
việc đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh là cần thiết trong điều kiện hiện nay
của nước ta. Tuy nhiên, việc xây dựng các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa
án cũng phải tính đến yêu tố hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.
Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của sự hội nhập mạnh, cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu với khu vực và thế giới. Vì thế, PLTTDS nói chung, quy định về hoạt
động thu thập chứng cứ nói riêng cần hoàn thiện hơn để thích ứng được với những
thay đổi của kinh tế xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến biện pháp thu thập
chứng cứ của Tòa án.
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của
Tòa án phải xuất phát từ việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân
16
Hoạt động TTDS hiện nay phải vừa là phương tiện hữu hiệu để người dân có
thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình, vừa là công cụ hữu hiệu để điều
chỉnh các quan hệ xã hội đã, đang và sẽ phát sinh trong cuộc sống. Muốn vậy, việc
xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải gắn
với các yêu cầu bảo vệ công lý, bảo đảm các quyền TTDS của người dân.
Tiếp cận công lý là khả năng của công dân có thể tìm kiếm và đạt được một
17
- Việc xây dựng các quy định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của
Tòa án phải bảo đảm tính trung thực, khách quan, vô tư
Trong TTDS các đương sự không những có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh cho yêu cầu của mình mà còn bình đẳng với nhau trong việc cung cấp
chứng cứ cho Tòa án, vì vậy khi có yêu cầu của đương sự hoặc trong trường hợp
pháp luật có quy định Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ để hỗ trợ
cho nghĩa vụ chứng minh của họ. Song nếu Tòa án không vô tư, không khách quan,
không trung thực trong khi tiến hành thu thập chứng cứ hay không đánh giá, sử
dụng chứng cứ một cách vô tư, khách quan thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án không có ý nghĩa, dẫn đến phán quyết của Tòa án không đảm bảo quyền và lợi
ích của công dân.
Tính trung thực, khách quan, vô tư thể hiện ở việc tôn trọng sự thật, tôn trọng
pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ thực sự công tâm, khách quan,
vô tư, không để những quan hệ, tình cảm cá nhân chi phối vào công việc. Không
được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kỳ người tham gia tố tụng nào, tạo
điều kiện để mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. PLTTDS đã quy định cụ
thể những trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối hoặc bị thay đổi để đảm
bảo được yêu cầu trên của hoạt động TTDS, nhằm mục đích để việc thu thập chứng
cứ của Tòa án có hiệu quả, có tình thuyết phục cao. Ngoài ra khi xây dựng các quy
định về hoạt động thu thập chứng cứ cần cụ thể hóa các biện pháp thu thập mà Tòa
án được phép tiến hành nhằm tránh sự tùy tiện, lạm quyền. Đồng thời phải thiết lập
các thủ tục chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát để bảo đảm tính khách quan, độ tin cậy
của các thông tin mà Tòa án thu thập được.
1.3. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTDS Việt Nam
dƣới góc nhìn lịch sử
1.3.1. Giai đoạn trước ngày 01/01/2005
Trước ngày 01/01/2005 các hoạt động TTDS nói chung và hoạt động thu
được hướng dẫn, khi giải quyết VADS Thẩm phán lúng túng trong hoạt động điều
tra, thu thập chứng cứ.
PLTTGQCVADS được ban hành ngày 29/11/1989 đã tạo ra hành lang pháp
lý để Tòa án tiến hành giải quyết các VADS, lần đầu tiên quy định nguyên tắc nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được ghi nhận chính thức trong văn bản pháp
luật. Điều 3 PLTTGQCVADS quy định: Các đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc có yêu cầu cơ quan tiến hành TTDS ra một
phán quyết trong quá trình tiến hành tố tụng phải cung cấp chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu đó. Hay quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của Viện kiểm sát
hay tổ chức xã hội khi khởi tố, khởi kiện vì lợi ích chung thì Viện kiểm sát hoặc tổ
chức xã hội đó có nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ (Khoản 3, Điều 28 và
Điều 29 PLTTGQCVADS). Thời kỳ này nghĩa vụ chứng minh của đương sự chưa
được đề cao, pháp luật rất hạn chế các quy định tạo điều kiện cho đương sự dễ dàng,
chủ động trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, vai trò chứng minh chủ yếu vẫn
thuộc về Tòa án. Để giải quyết vụ kiện dân sự một cách khách quan và đúng pháp
luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và những chứng cứ đương sự
xuất trình ban đầu, vì vậy Điều 3 PLTTGQCVADS đã xác định trách nhiệm của
Tòa án phải “xem xét mọi tình tiết vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng
cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”.
19
Trong giai đoạn này trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án để hoàn thiện
hồ sơ vụ án giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động chứng minh, Tòa án gánh
thay nghĩa vụ chứng minh của đương sự, trách nhiệm nặng nề đặt lên vai Thẩm
phán. Sở dĩ, PLTTDS thời kỳ này quy định nhiệm vụ điều tra của Thẩm phán khi
giải quyết các VADS do điều kiện của đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, đang
trong quá trình xây dựng, đổi mới, người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ hiểu
biết pháp luật và trình độ văn hóa của đại đa số các đương sự còn thấp, các đơn kiện
20
đóng vai trò là người trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc, phân xử căn cứ
vào các chứng cứ mà các đương sự đưa ra tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán hoàn
toàn không trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ.
Theo PLTTDS của Mỹ thì Tòa án không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ
của vụ kiện mà do đương sự, luật sư của họ tự thu thập chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu khởi kiện của mình. Các bên đương sự phải tự mình tìm kiếm, thu thập
mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như thu thập các chứng cứ
viết, các vật chứng, đề xuất Tòa án triệu tập những người làm chứng cần thiết…Các
bên đương sự có quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ với nhau và quyền được biết
toàn bộ các chứng cứ của bên kia. Nếu một bên từ chối không cung cấp chứng cứ
hoặc không trả lời về vấn đề nào đó thì Thẩm phán sẽ hỗ trợ họ bằng cách ban hành
lệnh buộc người từ chối phải cung cấp chứng cứ hoặc áp dụng các biện pháp chế tài
cần thiết. Nếu người không cung cấp chứng cứ là bị đơn thì Thẩm phán sẽ quyết
định giải quyết vụ kiện hoàn toàn trên chứng cứ do nguyên đơn xuất trình trước tòa
án. Trong trường hợp Thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình
chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu các bên đương sự cung
cấp thêm chứng cứ chứ Thẩm phán không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ. Sau
khi các bên thu thập được đầy đủ thông tin, chứng cứ thì họ phải gặp nhau theo lệnh
của Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa. Tại đây, Thẩm phán có thể tiến hành hóa giải để
các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc hoặc thống nhất
những vấn đề cần tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có thể thấy PLTTDS Hoa Kỳ
luôn đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc, họ là các
chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng. Trong suốt
quá trình tố tụng, các bên đương sự bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau
những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp
pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của PLTTDS. Tòa án không
chủ động thu thập chứng cứ mà chỉ là người trọng tài, giữ vai trò trung gian, căn cứ
xét hồ sơ trên cơ sở việc cung cấp chứng cứ chứng minh của đương sự mà không
tiến hành bất cứ một biện pháp thu thập chứng cứ nào. Trong trường hợp đương sự
đã dùng mọi biện pháp mà không thu thập được chứng cứ thì Tòa án có thể giúp các
đương sự thu thập chứng cứ bằng cách yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang
lưu giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho đương sự, với điều kiện đương sự phải
cung cấp được đúng tên cá nhân, cơ quan, tổ chức và địa điểm lưu giữ chứng cứ cần
thu thập. BLTTDS Liên bang Nga còn quy định cụ thể chế tài xử phạt đối với
những trường hợp người được yêu cầu cung cấp chứng cứ không cung cấp chứng
cứ mà không có lý do chính đáng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 57 BLTTDS
Liên bang Nga thì “Những người có chức vụ hoặc công dân không có khả năng
cung cấp chứng cứ do Tòa án yêu cầu không thể cung cấp chứng cứ trong thời hạn
Tòa án ấn định có nghĩa vụ trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phải
thông báo cho Tòa án việc đó và phải nêu rõ lý do. Trong trường hợp không thông
báo cho Tòa án hoặc không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính
đáng thì những người có chức vụ bị phạt tiền đến mức 10 lần lương tối thiểu, công
dân bị phạt tiền đến mức 5 lần lương tối thiểu, nếu họ không phải là những người
tham gia tố tụng” [8]. Điều 149 BLTTDS Liên bang Nga quy định về hoạt động
của các bên trong việc chuẩn bị xét xử, trong đó quy định trong quá trình chuẩn bị
xét xử, nguyên đơn, bị đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn, bị đơn phải chuyển