LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH NGUYÊN tắc xét xử độc lập của tòa án TRONG tố TỤNG dân sự - Pdf 48

Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA HỌC : (2006 – 2010)
ðỀ TÀI

NGUYÊN TẮC XÉT XỬ ðỘC LẬP
CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN
SỰ

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TRƯƠNG THANH HÙNG
Bộ môn Tư pháp

NGUYỄN THỊ NHŨ
Lớp: Luật hành chính K32
MSSV: 5062272

CẦN THƠ
Tháng 4/2010

GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


ñộc lập của Tòa án trong pháp luật của Liên hiệp vương quốc Anh ...................... 19
1.3.3.4. Một số quy ñịnh về nguyên tắc xét xử mang tính
ñộc lập của Tòa án trong pháp luật Việt Nam ........................................................ 23

CHƯƠNG 2
TÍNH ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1. Tính ñộc lập giữa các thành viên trong Tòa án nhân dân
khi giải quyết vụ án .............................................................................................. 30

GVHD: Trương Thanh Hùng

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
2.1.1. Tính ñộc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
khi giải quyết vụ án dân sự ..................................................................................... 30
2.1.2. Tính ñộc lập giữa Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa với
Chánh án tòa án… .................................................................................................. 33
2.1.3. Tính ñộc lập giữa Hội thẩm nhân dân với Chánh án
Tòa án nơi Hội thẩm nhân dân ñược phân công giải quyết vụ án .......................... 37
2.2. Tính ñộc lập của Tòa án với các cơ quan cấp trên..................................... 40
2.2.1. Tính ñộc lập của Tòa án nhân dân cấp dưới với Tòa án
nhân dân cấp trên trực tiếp...................................................................................... 40
2.2.2. ðộc lập với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao ..........................................................................................................
2.3. Tính ñộc lập của Tòa án với các cơ quan cùng cấp khác và
tổ chức chính trị .................................................................................................... 46
2.3.1. ðộc lập với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp..................................... 46

quyền, một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt
chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc là mục tiêu ñược ñặt lên hàng
ñầu. Nhà nước ñã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật,
không ngừng phát huy tính làm chủ của nhân dân và tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Thêm vào ñó, trong Văn kiện Hội nghị ñại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ (khóa VII) ở nội dung phần thứ hai về những nhiệm vụ chủ yếu trong thời
gian tới” ñã nêu nhiệm vụ thứ 7 là: “Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Bên cạnh ñó, Nghị quyết ñại hội
IX của ðảng ñã khẳng ñịnh nhiệm vụ “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh ñạo của
ðảng. Thêm vào ñó ñại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ X của ðảng cũng ñã
tiếp tục khẳng ñịnh: “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, ñảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước ñều thuộc về
nhân dân” và ñó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về
nhà một nhà nước pháp quyền trong ñiều kiện ñổi mới của ñất nước.
ðể cho ñường lối ñổi mới của ðảng và nhà nước phát huy ñược sức
mạnh to lớn, ñạt ñược mục ñích ñã ñề ra một cách toàn diện hơn trong việc
xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự là của nhân dân,
do nhân dân và vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ. Và ñể ñạt ñược ñiều ñó, ñể
phù hợp tình hình của ñất nước ngày càng phát triển ñi lên cùng với xu thế
toàn cầu hóa, thì nước ta phải tiến hành ñẩy mạnh hơn nữa các hoạt ñộng cải
cách bộ máy nhà nước trên tất cả các lĩnh vực mà trong ñó ñặc biệt là cải cách
hệ thống Tòa án, từ cơ cấu tổ chức cho ñến ñội ngũ cán bộ ngành ñể phát huy
tính ñộc lập của Tòa án góp phần vào việc xét xử một cách công bằng của Tòa
án là một nhiệm vụ quan trọng.
Quán triệt về tư tưởng cũng như quan ñiểm của ðảng về ñổi mới tổ
chức và hoạt ñộng của các cơ quan nhà nước nói chung, hệ thống Tòa án nhân
dân nói riêng mà ñặc biệt là ñối với nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án, nhà
nước ta ñã tiến hành sửa ñổi bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật trên

xử có hiệu quả, có chất lượng, mang tính khách quan và tính công bằng cao và
phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, thì trước hết và cần
thiết nhất là làm sao “tăng khả năng ñộc lập của Tòa án khi xét xử”, mà hiện
thân của Tòa án là Thẩm phán và Hội thẩm những người trực tiếp xét xử và
ñưa ra các phán quyết có ảnh hưởng trực tiếp ñến tính mạng, tài sản, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của nhân dân và nhà nước. Chính vì vậy , việc nghiên cứu
những quy ñịnh của pháp luật và thực tiễn thực hiện nguyên tắc xét xử ñộc lập
của Tòa án trong tố tụng dân sự là việc hết sức cần thiết ñể tiến hành hoàn
thiện hơn quá trình xét xử của Tòa án khi ñưa ra các phán quyết của mình,
cùng với quá trình cải cách bộ máy nhà nước nói chung cải cách hệ thống Tòa
án nói riêng ñể ñạt ñược hiệu quả và mục tiêu ñã ñề ra là “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Chính vì lý do ñó mà Sinh viên thực hiện Luận văn ñã chọn ñề tài
“nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự” với niềm tin
ñánh giá ñược những ưu ñiểm cũng như những hạn chế của quy ñịnh này trên
GVHD: Trương Thanh Hùng

-2-

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
cơ sở dựa vào nhiều phương pháp phân tích luật viết như suy lý, ñối chiếu, so
sánh, thực tiễn,... Từ ñó ñưa ra một số ít ñề suất ñể góp phần vào việc hoàn
thiện nguyen tắc xét xử ñộc lập của Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả, chất
lượng xét xử và quan trọng hơn là trong quá trình ñưa ra bản án và quyết ñịnh
của Tòa án, tăng lòng tin của nhân dân vào Tòa án là nơi “cầm cân công lý”
với những người “cầm cân nảy mực” một cách công bằng và ñộc lập. Cùng
với mục ñích nghiên cứu ñề tài này, thì không gì khác hơn, Người viết cung



Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
CHƯƠNG 1
TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÒA ÁN VÀ
CÁC NGUYÊN TẮC XÉT XỬ ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN
1.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1.1. Lịch sử hình thành
Tòa án xuất hiện ở Việt Nam lần ñầu tiên từ thời pháp thuộc, do ảnh
hưởng của nền tư pháp của chính quốc. Do ñó loại hình Tòa án ở thời Pháp
thuộc rất phức tạp nên ở Việt Nam ở thời kỳ ñó vừa có hệ thống chính quyền
pháp vừa có hệ thống chính quyền bản xứ. Vì thế ở Việt Nam lúc bấy giờ có
hai hệ thống Tòa án tồn tại song song là các Tòa án Pháp và các Tòa án chính
quyền phong kiến Triều Nguyễn.
Với bản chất khai thác và bóc lộc nhân dân thuộc ñịa thì các Tòa án của
Pháp chỉ nhằm mục ñích phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc ñịa nên
không có việc Tòa án xét xử theo sự công bằng, ñộc lập bảo vệ lợi ích cho
người dân không ñược ñặt ra. Bên cạnh ñó thì chính quyền Triều Nguyễn cũng
với bản chất bóc lột nhân dân nên mặc dù hệ thống Tòa án có hoạt ñộng lại
cũng vì lợi ích của giai cấp phong kiến nên việc xét xử vì quyền lợi của người
dân và sự ñộc lập của Tòa án có thể nói là chưa có.
ðến năm 1930 dưới sự lãnh ñạo của ðảng cộng sản Việt Nam do Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập ñã tiến hành cuộc ñấu tranh cách mạng lâu dài, ñầy
gian khổ và hy sinh làm cuộc cách mạng tháng tám thành công. Chủ tịch Hồ
Chí Minh ñọc Tuyên ngôn ñộc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa vào ngày 2-9-1945. Với sự kiện vô cùng quan trọng này ñã ñặt nền móng
cho sự ra ñời của nhà nước công nông vì nhân dân ñầu tiên ở ðông Nam Á nói
chung và một hệ thống Tòa án xét xử công bằng, nghiêm minh và ñộc lập nói
riêng.
ðảng ta ngay từ ñầu ñã xác ñịnh Tòa án nhân dân là một trong những

và phát huy ñược hiệu quả và các nguyên tắc về tính ñộc lập của Tòa án ñều
ñược Quốc hội nước ta quy ñịnh là một nguyên tắc Hiến ñịnh trong bốn bản
Hiến pháp, tương ứng với các giai ñoạn hình thành các bản Hiến pháp
1.1.2.1. Giai ñoạn 1945 ñến 1959
Do ở thời kỳ này mới giành ñược chính quyền về tay nhân dân, Nhà
nước Việt Nam còn non trẻ. Thêm vào ñó, hệ thống Tòa án trước kia chủ yếu
là phục vụ cho ý ñồ khai thác thuộc ñịa và chế ñộ phong kiến, chỉ áp bức, bóc
lột không có công bằng. Cùng với luận ñiểm nổi tiếng của Lê Nin “Giành
ñược chính quyền ñã khó, nhưng giữ ñược chính quyền lại càng khó hơn” và
V.I Lê Nin cho rằng dưới chế ñộ thực dân phong kiến, xã hội tư bản với nền tư
pháp chủ yếu là một bộ máy ñàn áp, một bộ máy bóc lột tư sản2. Chính vì vậy
hệ thống Tòa án nước ta ở giai ñoạn này cùng với bản Hiến Pháp 1946 với
nhiệm vụ chính tuyệt ñối không phải là cải cách chế ñịnh tư pháp mà là hủy bỏ
hoàn toàn, phá hủy ñến tận gốc rễ nền tư pháp cũ và bộ máy của nó.
Thêm vào ñó, trong ñiều kiện nhà nước ra ñời còn non trẻ, gặp rất nhiều
khó khăn, ñặc biệt là các thế lực thù ñịch ráo riết các hoạt ñộng chống phá
cách mạng với nhiệm vụ quan trọng hàng ñầu là kịp thời trừng trị những kẻ
xâm phạm ñến ñộc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xâm phạm ñến
sức mạnh chiến ñấu của quân ñội nên chủ yếu là các Tòa án quân sự và các
Tòa án binh ñược thành lập và hoạt ñộng. Cùng với nhiệm vụ cấp thiết ñó ñể
phù hợp với tình hình ñất nước thì hệ thống Tòa án ở nước ta trong giai ñoạn
2

C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
Vị trí, vai trò của thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền.

GVHD: Trương Thanh Hùng

-5-


1.1.2.3. Giai ñoạn từ 1980 ñến 1992
Tiếp tục kế thừa và phát triển các Hiến Pháp trước nhằm phù hợp với
tình hình ñất nước cũng như trong công cuộc xây dựng ñất nước sau khi hoàn
toàn ñộc lập thống nhất ñất nước. Thì các nguyên tắc của Tòa án nói chung và
nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án nói riêng ñã ñược chú trọng hơn, ñã
ñược cụ thể hóa bằng sự ra ñời của nhiều quy ñịnh như: Luật tổ chức Tòa án
nhân dân ( ñược quy ñịnh tại ðiều 5) ñược Quốc hội thông qua ngày 3-7-1981
và ñược sửa ñổi bổ sung, bổ sung theo luật sửa ñổi, bổ sung luật tổ chức Tòa
án nhân dân ñược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua ngày 22-12-1988, cùng các quy ñịnh về thực hiện chế ñộ bổ nhiệm Thẩm
GVHD: Trương Thanh Hùng

-6-

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
phán theo nhiệm kỳ thay cho chế ñộ bầu Thẩm phán nhằm tăng tính ñộc lập
của Thẩm phán khi xét xử hay quy ñịnh về tiêu chuẩn cũng như tiền lương ñối
với Thẩm phán nhằm tránh sự ảnh hưởng từ bên ngoài ñối với công tác xét xử
ñộc lập của Thẩm phán. Và hơn hết là tiếp tục hoàn thiện những quy ñịnh về
hệ thống Tòa án ở nước ta ñồng thời củng cố nguyên tắc xét xử ñộc lập của
Tòa án.
1.1.2.4. Giai ñoạn từ 1992 ñến nay
Ở giai ñoàn này có thể nói hệ thống Tòa án của nước ta ñã phát triển
một cách mạnh mẽ. Các nguyên tắc Hiến ñịnh hầu như ñã ñược cụ thể hóa với
sự ra ñời của hàng loạt các văn bản Luật, các văn bản hướng dẫn và ñặc biệt là
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án ñã
ñược quy ñịnh rõ ràng và cụ thể hơn, là một nguyên tắc quan trọng, ảnh hưởng



Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
Khi xét xử là hoạt ñộng chủ yếu của Tòa án nhân ñược quyền căn cứ
vào pháp luật ñể giải quyết những tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật và ra
những bản án hay quyết ñịnh khi có hiệu lực pháp luật có tính chất bắt buộc
các cơ quan, tổ chức và người có liên quan phải chấp hành.
ðiều 127 Hiến Pháp 1992, ðiều 1 luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002
ñã quy ñịnh “Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân ñịa phương, các tòa
án quân sự và các tòa án khác do pháp luật quy ñịnh là các cơ quan xét xử của
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chỉ có Tòa án mới có thẩm
quyền xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia ñình, lao ñộng,
kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy ñịnh của pháp
luật.
Xét xử là hoạt ñộng thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của
giai cấp công nhân và nhân dân lao ñộng nói chung. Hoạt ñộng xét xử của Tòa
án nhân dân là phương pháp cơ bản ñảm bảo cho pháp luật ñược thực hiện
nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa ñược giữ vững. Hoạt
ñộng xét xử nhằm bảo vệ chế ñộ xã hội chủ nghĩa, chế ñộ kinh tế, chính trị xã
hội, bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Hoạt ñộng xét xử của Tòa án nhân dân không phải là hoạt ñộng xây
dựng pháp luật mà là quá trình áp dụng luật vào việc giải quyết các tranh chấp,
xét xử các quy phạm pháp luật cụ thể.
Do kết quả của hoạt ñộng xét xử có thể dẫn ñến chổ công dân, pháp
nhân các tổ chức ñược hưởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu những
nghĩa vụ nhất ñịnh. ðặc biệt là việc xét xử trên các lĩnh vực hình sự thì kết quả
của hoạt ñộng xét xử hình sự dẫn ñến những hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng
ñối với người bị kết án (như tước của người bị kết án một số quyền lợi thiết
thân về vật chất về tinh thần, tự do và thậm chí là tính mạng của họ nữa). Cho
nên hoạt ñộng xét xử của Tòa án có tính tổ chức rất chặt chẽ. Tòa án khi xét

luật. ðể làm ñược như vậy ñòi hỏi việc xét xử của Tòa án nói chung mà ñặc
biệt là Thẩm phán và Hội thẩm nói riêng phải có phương thức, trí thức tổng
hợp về cuộc sống, về pháp luật, có kinh nghiệm sống phong phú và sâu sắc
trên các lĩnh vực xã hội.
2.2.2. Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Bản chất và vai trò của Tòa án nhân dân ñược thể hiện trực tiếp trong
nhiệm vụ và chức năng của Tòa án nhân dân. Do ñó xem xét bản chất, vị trí,
vai trò xã hội của Tòa án nhân dân không thể không tìm hiểu nhiệm vụ và
chức năng của nó.
Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là mục tiêu mà Tòa án cần ñạt tới, là
những vấn ñề mà các Tòa án nhân dân cần giải quyết. Trong những nhiệm vụ
của Tòa án nhân dân có nhiệm vụ chung, cơ bản và lâu dài. ðể thực hiện
những nhiệm vụ ấy, Tòa án nhân dân cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể
trong từng giai ñoạn phát triển của ñất nước.
Theo ðiều 196 Hiến Pháp 1992, ðiều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
2002 ñã quy ñịnh rõ những nhiệm vụ chung của các Tòa án nhân dân, ñó là
“Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ chế ñộ Xã hội Chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân
dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do,
danh dự và nhân phẩm của công dân. Bằng hoạt ñộng của mình, Tòa án góp
phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức ñấu tranh
chống và phòng ngừa tội phạm, các quy phạm pháp luật khác”.
GVHD: Trương Thanh Hùng

-9-

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ



lập của các cơ quan tư pháp cần về mặt pháp lý và mặt thực tế, cả về tổ chức
lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể
can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của
Tòa án.
Và ñể thấy ñược tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của nguyên tắc
ñộc lập của Tòa án trong xét xử, cần tìm hiểu sơ lược các nguyên tắc ñặc thù
riêng của Tòa án. ðây là những nguyên tắc tuy có những ñặc thù riêng nhưng
lại có mối quan hệ mật thiết với tính ñộc lập khi xét xử của Tòa án. Những
GVHD: Trương Thanh Hùng

- 10 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
nguyên tắc này ñược quy ñịnh trong Hiến pháp 1992 (Chương X) và nó ñã
ñược cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002 (Chương I). Những
nguyên tắc ñó là:
1.3.1. Nguyên tắc khi xét xử Thẩm Phán và Hội Thẩm ñộc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
Tòa án là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam nên cũng ñược tổ chức theo những nguyên tắc chung của việc
tổ chức và hoạt ñộng của bộ máy nhà nước như các nguyên tắc: ðảng lãnh
ñạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa…
Tuy nhiên Tòa án là một cơ quan nhà nước ñặc biệt, là cơ quan tài phán với
chức năng xét xử là chính nên nó có một vị trí hết sức ñặc biệt trong hệ thống
các cơ quan nhà nước. Do ñó cùng với vị trí ñặc biệt ñó mà Tòa án trong công
tác xét xử của mình ñược tổ chức và hoạt ñộng theo những nguyên tắc riêng
ñặc thù dựa trên nền tảng các nguyên tắc chung nói trên.


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
Chính vì Tòa án là một cơ quan thực hiện quyền tư pháp - hoạt ñộng
nhân danh công lý và bảo vệ công lý nên phải ñộc lập. Một khi ñã nhân danh
công lý và bảo vệ công lý thì Tòa án phải xét xử như một người ñứng ở giữa,
phải trung lập, không phụ thuộc vào bên nào. Chỉ xét xử ñộc lập thì Tòa án
mới thật sự tồn tại ñúng nghĩa với bản chất của mình ñó là một cơ quan bảo vệ
công lý, bảo vệ sự công bằng của xã hội. Pháp luật là cơ sở trước tiên mà Tòa
án dựa vào ñể Tòa án ñưa ra phán quyết ñộc lập, và thật sự công minh. Chỉ
tuân theo pháp luật là cơ sở cho sự ñộc lập xét xử của Tòa án.
Từ khi Hiến pháp ñầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ra ñời năm 1946, thì nguyên tắc Tòa án xét xử ñộc lập ñã ñược thừa nhận
là một nguyên tắc Hiến ñịnh: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân
theo pháp luật, các cơ quan khác không ñược can thiệp” (Hiến pháp 1946 quy
ñịnh tại ðiều 67). Và từ Hiến pháp ñầu tiên cho ñến nay, Tòa án Việt Nam
luôn luôn ñược ghi nhận là hệ thống cơ quan ñộc lập với cơ quan chấp hành và
ñiều hành; nguyên tắc ñộc lập xét xử của Tòa án liên tục ñược khẳng ñịnh
trong các bản Hiến pháp và ngày càng ñược quy ñịnh một cách rõ ràng hơn và
cụ thể hơn. Theo quy ñịnh tại ðiều 100 của Hiến pháp 1959: “Khi xét xử, Tòa
án nhân dân có quyền ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nhận thức rằng
Thẩm phán và Hội thẩm là những người trực tiếp xét xử, chịu trách nhiệm về
quyết ñịnh của mình, theo Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (ðiều
130 ñã quy ñịnh rõ ràng, cụ thể: “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ñộc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc Hiến ñịnh này cũng ñược quy ñịnh
một cách rõ ràng tại ðiều 5 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và các
quy ñịnh về tố tụng ở nước ta. ðây là nguyên tắc bắt nguồn từ nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo ñảm tính công bằng và tính khách quan
trong quá trình xét xử ñể áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước.
Với quy tắc Hiến ñịnh “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ñộc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” mà cả bốn bản Hiến pháp ñều có quy ñịnh, tuy tên gọi

lý và quy ñịnh của pháp luật chứ không chịu sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống
Tòa án, tuyệt ñối không xin ý kiến về vụ án ñang giải quyết. Tòa án cấp trên
cũng không thể ra lệnh cho Tòa án cấp dưới xét xử theo ý của mình.Với việc
tổng kết kinh nghiệm xét xử, sự hướng dẫn của Tòa án cấp trên ñối với Tòa án
cấp dưới không có nghĩa là can thiệp, chỉ ñạo việc xét xử các vụ án cụ thể của
Tòa án cấp dưới mà chỉ ñược ñưa ra ñường lối xét xử chung và những kinh
nghiệm xét xử ñể tạo ñiều kiện thuận lợi trong công tác xét xử của Tòa án các
cấp, bảo ñảm thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật4.
Ba là, các thành viên trong Hội ñồng xét xử, các thành viên trong hội
ñồng xét xử cũng phải ñộc lập với nhau trong quá trình giải quyết vụ án từ khi
bắt ñầu cho ñến khi ra bản án. Phải ñộc lập trong việc xác ñịnh chứng cứ, phân
tích tình tiết của vụ án cũng như phân tích và lựa chọn các quy phạm pháp luật
phù hợp ñể áp dụng...Do ñó, trước khi phiên tòa diễn ra ñòi hỏi các thành viên
trong Hội ñồng xét xử phải tự mình nghiên cứu thật kỹ hồ sơ của vụ án ñồng
thời phải có những ý kiến nhất ñịnh ñể chủ ñộng trong việc thẩm vấn, xác
minh chứng cứ, xác minh quy phạm pháp luật cần phải áp dụng cho tình
huống cụ thể ñể từ ñó có quyết ñịnh cụ thể thật chính xác. Hơn thế nữa, ngay
cả trong phòng nghị án, các thành viên trong Hội ñồng xét xử cũng phải thật
sự ñộc lập về quan ñiểm ñể tranh luận ñối với các chứng cứ và các quy phạm
pháp luật trước khi biểu quyết. ðể ñảm bảo nguyên tắc này cũng như tránh sự
4

Khoản 1 ðiều 19 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.

GVHD: Trương Thanh Hùng

- 13 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


từ phía các cơ quan nhà nước khác, bảo ñảm cho phán quyết của Thẩm phán
thật sự ñộc lập, khách quan, thực sự là ñại diện cho công lý. Ngoài ra việc bổ
nhiệm còn tạo cho họ một tâm lý ổn ñịnh nghề nghiệp, làm việc liên tục không
bị gián ñoạn, không phải lo lắng về sự thay ñổi thường xuyên do chế ñộ bầu
Thẩm phán.
Chính từ ý nghĩa ñó, ngay từ khi hệ thống Tòa án của nước ta còn non
trẻ khi mới ñược thành lập thì nguyên tắc này ñã ñược khẳng ñịnh trong Hiến
pháp 1946 “các viên Thẩm phán ñều do chính phủ bổ nhiệm” (Hiến pháp nước
GVHD: Trương Thanh Hùng

- 14 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
Việt Nam dân chủ cộng hòa ðiều 64). Tuy nhiên, ñể phù hợp với tình hình
mới sau khi hòa bình ñược lập lại ở mền Bắc, cùng với việc khẳng ñịnh nhà
nước ta là một nhà nước “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” theo ñó
quyền lực của nhân dân mà ñại diện là các cơ quan dân cử cũng ñược mở
rộng. Do ñó từ Hiến pháp 1959 ñến Hiến pháp 1980 và kéo dài ñến trước khi
Hiến pháp 1992 ra ñời, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương ñương,
Thẩm phán Tòa án nhân cân cấp huyện và tương ñương ñều do hội ñồng nhân
dân cùng cấp bầu ra. Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ
quốc hội bổ nhiệm.
Qua thực tiễn nhiều năm với việc xây dựng và phát triển nhà nước cho
thấy, chế ñộ bầu cử là cần thiết, thích hợp với các loại cán bộ dân cử như ðại
biểu quốc hội, ðại biểu Hội ñồng nhân dân nhưng lại không phù hợp với công
chức nói chung và ñặc biệt là Thẩm phán nói riêng, một người phải làm việc
liên tục, ñòi hỏi nhiều kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc cuộc sống chính trị và

lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể
can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của
Tòa án.
1.3.4. Quy ñịnh về tính ñộc lập của hệ thống tư pháp của một số nước
1.3.4.1. Pháp luật của Pháp
Chính thể của nước Pháp là chính thể cộng hòa lưỡng tính. Chính thể
này vừa có những ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa Tổng thống vừa có ñặc
ñiểm của chính thể cộng hòa ðại nghị, chính ñặc ñiểm này mà nó có ảnh
hưởng không nhỏ ñến hệ thống cơ quan xét xử ở Pháp ñó là Tòa án. ðiều này
ñã ñược nói ñến nhiều trong mối tương quan giữa lập pháp và hành pháp. Tuy
nhiên tính chất lưỡng tính của chính thể này biểu hiện trong quan hệ giữa lập
pháp, hành pháp và tư pháp thì chưa ñược nói tới. Có thể thấy rằng mô hình
thể chế tư pháp ở Pháp là một mô hình lưỡng tính, không giống mô hình của
các nước khác ở Châu Âu và cũng không giống mô hình của Mỹ. Từ góc ñộ
chính thể có thể thấy quyền tư pháp trong chính thể cộng hòa lưỡng tính của
Pháp vừa có ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa ñại nghị .
Chính thể của Pháp áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo,
nên quyền tư pháp ở Pháp không ñược ñộc lập một cách tuyệt ñối như trong
chính thể cộng hòa tổng thống của Mỹ, ñiều này thể hiện trong quan hệ của tư
pháp với lập pháp, hành pháp. ðây là ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa ñại
nghị. Sự hiện diện của hệ thống Tòa án hành chính ở Pháp cho thấy rằng tư
pháp vẫn chưa ñộc lập hoàn toàn với hành pháp. Một mặc nó can thiệp vào
hoạt ñộng của hành pháp, mặt khác nó chịu sự tác ñộng từ phía hành pháp.
Tuy nhiên,ở Pháp không vì sự ñộc lập không tuyệt ñối ñó mà làm mất
ñi tính ñộc lập của các Thẩm phán khi xét xử mà nó có một quy ñịnh ñặc biệt
nhằm bảo ñảm tính ñộc lập trong hoạt ñộng xét xử của Thẩm phán ñó là quyền
bất khả bãi miễn Thẩm phán là một trong những nguyên tắc cơ bản ñược pháp
luật ghi nhận nhằm bảo ñảm cho Thẩm phán thật sự vô tư và ñộc lập khi xét
xử. Quyền bất khả bãi miễn của Thẩm phán ñược quy ñịnh trong Hiến pháp và
ñược khẳng ñịnh trong quy chế Thẩm phán5.

Tổng thống bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Hội ñồng tối cao các Thẩm phán
nhưng Chủ tịch của hội ñồng này là Tổng thống, còn phó chủ tịch hội ñồng là
bộ trưởng bộ tư pháp, nhưng trên thực tế thì hoạt ñộng của hội ñồng do bộ
trưởng bộ tư pháp lãnh ñạo. Ngoài ra, hội ñồng tối cao các Thẩm phán còn ñề
nghị Tổng thống bổ nhiệm Thẩm phán tòa phá án và Chánh án tòa thượng
thẩm. Phê chuẩn ñề nghị bổ nhiệm các Thẩm phán khác của các Tòa án. Hội
ñồng này có quyền ñề nghị thuyên chuyển các Thẩm phán, xem xét và quyết
ñịnh kỷ luật các Thẩm phán. Như vậy, ở pháp việc bổ nhiệm, thuyên chuyển,
kỷ luật các Thẩm phán ñều do tổng thống quyết ñịnh, nhưng hoạt ñộng chủ
yếu lại là Hội ñồng tối cao các Thẩm phán, ñặt trường hợp nếu như hội ñồng
này không ñộc lập với nhau, không nghiêm minh thì việc tuyển chọn các
Thẩm phán sẽ khó tránh khỏi sự lạm dụng quyền và sẽ không ñộc lập khi xét
xử của các Thẩm phán. Có thể thấy trong quy ñịnh cụ thể thì hầu hết các nước
nói chung và Pháp nói riêng ñều có quy ñịnh về sự ñộc lập trong hoạt ñộng xét
xử của các Thẩm phán trong quá trình tố tụng cũng như ñưa ra những bản án.
Và sự ñộc lập này chỉ là tương ñối, cũng như các nước Pháp cũng tìm mọi
cách cải thiện nâng cao tính ñộc lập của Tòa án cũng như những người ñại
diện cho Tòa án (Thẩm phán) trong hoạt ñộng xét xử. Nhưng những quy ñịnh
cũng như chế ñịnh về tính ñộc lập của Tòa án chưa thật sự rõ ràng và phát huy
tác dụng của nó trong hoạt ñộng xét xử chính của Tòa án ở Pháp.
1.3.4.2. Pháp luật của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ
Như chúng ta ñã biết khác với Việt Nam, Mỹ là một nhà nước liên bang
nên tổ chức nhà nước cũng như hệ thống Tòa án rất khác với Việt Nam. Song
GVHD: Trương Thanh Hùng

- 17 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ



lập xét xử của Tòa án sẽ gặp phải mâu thuẫn với chủ quyền của nhân dân. Nhà
nước sẽ trở thành Chính phủ của những quan tòa.
Ở Mỹ, ñể ñảm bảo nguyên tắc Tòa án ñộc lập khi xét xử, pháp luật Mỹ
quy ñịnh tất cả các Thẩm phán ñều do Tổng thống liên bang hoặc do thống
ñốc các bang bổ nhiệm, với nhiệm kỳ suốt ñời. Sau khi ñã bổ nhiệm, với
nhiệm kỳ lâu dài sẽ tạo ñiều kiện bảo ñảm cho các Thẩm phán ñộc lập khi xét
xử, chỉ phụ thuộc vào pháp luật. Ngoài ñiều kiện ñảm bảo nêu trên, thì các
GVHD: Trương Thanh Hùng

- 18 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
Thẩm phán ở Mỹ còn ñược hưởng một khoản lương tương ñối cao so với các
quan chức nhà nước khác.
Chính hoạt ñộng ñộc lập, chỉ tuân theo pháp luật của các Thẩm phán
nhằm mục ñích bảo ñảm quyền con người của mọi công dân, quyền bình ñẳng
của con người trước pháp luật, tránh mọi sự lợi dụng chức quyền mà ñàn áp
dân chúng. Trong hoạt ñộng xét xử của mình, các Thẩm phán phải tuân thủ
nghiêm ngặt các quy tắc xét xử. Chính sự tuân thủ các quy tắc xét xử ñược
quy ñinh rõ ràng và chặt chẽ trong luật tố tụng của mỗi quốc gia cũng là ñể
nhằm mục ñích bảo vệ quyền con người của công dân, nhất là việc bảo vệ
công lý cho xã hội trong mọi lĩnh vực của ñời sống xã hội, tránh mọi sự lợi
dụng quyền lực của chính các Thẩm phán, cũng như ñể cho chính Thẩm phán
tránh ñược mọi áp lực từ phía các quan chức nhà nước khác và nhà nước Mỹ
xem ñiều này rất quan trọng trong hệ thống cơ quan xét xử của mình.
Tóm lại, các nhà lập hiến của Mỹ ñã có rất nhiều nổ lực xây dựng
những cơ sở hiến pháp cho sự ñộc lập của hệ thống tư pháp trong hoạt ñộng

số các vụ án ở Anh ñược khởi ñầu và kết thúc ở các Tòa án vi cảnh này vậy
mà việc xét xử tại các Tòa án vi cảnh lại không có sự tham gia của Bồi thẩm
ñoàn và mỗi vụ xét xử thường có hai hoặc ba Thẩm phán hòa bình cùng tham
gia (Thẩm phán có hưởng lương có thể xét xử một mình).
Thêm vào ñó khi xét xử thường không có luật sư bào chữa nhưng việc
xét xử lại diễn ra với một tốc ñộ ñáng kinh ngạc. Tốc ñộ xét xử diễn ra nhanh
chóng là vì các Thẩm phán hòa bình là những Thẩm phán không chuyên, kể cả
theo khía cạnh pháp luật và khía cạnh làm việc không hưởng lương.
Nhưng khi tìm hiểu cụ thể hơn về hệ thống pháp luật của Anh thì mới thấy rõ
cơ chế ñộc lập trong xét xử của các Thẩm phán.
Một ñiều ñặt thù ở nước Anh là Thượng Nghị viện là cấp xét xử cuối
cùng. Tuy nhiên, không phải là toàn viện xét xử mà chỉ riêng có các Thẩm
phán quý tộc xét xử thay Viện. Dưới góc ñộ chính thể có thể nhận thấy tính
chất mềm dẻo của việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong chính thể quân
chủ ñại nghị của Anh. Do ảnh hưởng những tàn dư của chế ñộc quân chủ
phong kiến, quyền tư pháp ở Anh vẫn không thể ñộc lập hoàn toàn với hành
pháp mà cụ thể là các thế lực vương triều. ðiều này thể hiện ở chổ quyền bổ
nhiệm các Thẩm phán thuộc về hành pháp. Chính ñiều này ñã làm cho tư pháp
còn lệ thuộc ở mức ñộ nhất ñịnh ñối với hành pháp. ðiều ñáng nói hơn là cơ
quan lập pháp vẫn có phần của mình ñối với quyền tư pháp. Quyền tư pháp
không hoàn toàn thuộc về Tòa án mà còn thuộc về cơ quan lập pháp là
Thượng Nghị viện. Chính quyết ñịnh của Thượng Nghị viện chứ không phải là
quyết ñịnh của Tòa án là quyết ñịnh cuối cùng. Việc không phải là toàn viện
xét xử mà chỉ riêng có các Thẩm phán quý tộc xét xử thay Viện cho thấy
quyền tư pháp vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các thế lực tiêu biểu cho chế ñộ
phong kiến trước ñây. ðiều này là do sự ñè nặng của chế ñộ phong kiến lên
chính thể Anh. ðây chính là những ñặc thù của quyền tư pháp trong chính thể
quân chủ ñại nghị ở Anh quốc.
Tuy nhiên, với ñặc thù này nó vẫn không làm mất ñi tính ñộc lập trong
xét xử của các Thẩm phán ở Anh. Một số Thẩm phán ở Anh ñược bổ nhiệm

còn lại và cuối cùng là Hội thẩm nhân dân (Bồi thẩm ñoàn) và khi ra kết luận
bản án thì phải theo ña số tức là nếu các Hội thẩm không ñồng ý thì quyết ñịnh
của Thẩm phán cũng không ñược chấp nhận. Và việc xem xét hồ sơ vụ án thì
cả Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán ñều phải rõ và nắm rất kỹ tình tiết của vụ
án. Trong khi ñó ở Anh thì việc nắm ñược rất rõ lý lịch cũng như hồ sơ vụ án
ñều thuộc về Thẩm phán. Tóm lại, tuy tổ chức hệ thống tư pháp ở Anh không
thể ñộc lập hoàn toàn với hành pháp, nhưng trong các quy ñịnh của pháp luật
vẫn ñảm bảo ñược phần nào cơ chế ñộc lập của Thẩm phán trong hoạt ñộng
xét xử.
Từ những phân tích sơ lược về pháp luật, cách thức bổ nhiệm Thẩm
phán cũng như quá trình xét xử mang tính chất ñộc lập của các nước, có một
số ý từ các nước mà ñã rút ra ñược từ các quy ñịnh và thực tiễn xét xử ở các
nước: qua những phân tích trên có thể thấy hầu hết các nước phát triển ñã tìm
hiểu như Anh, Mỹ, Pháp ñể bảo vệ công dân của mình cũng như thể chế nhà
nước ñược ổn ñịnh và phát triển một cách tốt nhất thì các nước ñều quy ñịnh
trong khi xét xử thì các Tòa án phải tiến hành xét xử một cách ñộc lập và
nghiêm minh phối hợp chặt chẽ với các biện pháp và nhiều quy ñịnh, chẳng
6

Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Năm 2004, tr 89.

GVHD: Trương Thanh Hùng

- 21 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ


Nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự
hạn cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán với nhiệm kỳ suốt ñời ở Mỹ, còn ở nước Anh

với thực tiễn của ñất nước ñể áp dụng một cách tốt nhất mà không “gập
khuôn” và việc học hỏi, tiếp thu ở ñây là trong lĩnh tư pháp ở các nước tư bản
ñặc biệt là Mỹ.
Ở Pháp tuy là hệ thống Tòa án còn nhọc nhằng, chưa có một cơ chế ñộc
lập tuyệt ñối với cơ quan lập pháp và hành pháp. Nhưng Pháp lại rất linh hoạt
GVHD: Trương Thanh Hùng

- 22 -

SVTH: Nguyễn Thị Nhũ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status