ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÂM VĂN LUYỆN
THÈM QUYÒN XÐT Xö S¥ THÈM CñA TßA ¸N
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÂM VĂN LUYỆN
THÈM QUYÒN XÐT Xö S¥ THÈM CñA TßA ¸N
TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm thẩm quyền xét xử sơ thẩm................................. 9
1.2.
Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm ................................ 15
1.2.1. Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng ....................................... 15
1.2.2. Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức, hoạt động, cơ cấu tổ chức của hệ
thống cơ quan Nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng ...... 17
1.2.3. Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm ............... 17
1.2.4. Căn cứ vào thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử ................ 18
1.2.5. Căn cứ vào hiệu quả kinh tế của hoạt động xét xử và các hoạt
động tố tụng khác ................................................................................ 19
1.3.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong Luật Tố tụng hình sự của
một số nước ........................................................................................ 21
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
THI PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM ......... 27
2.1.
Quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm ................ 27
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám 1945 đến khi Quốc hội
ban hành BLTTHS năm 1988 ............................................................. 28
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003....................................... 42
2.1.3. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về thẩm quyền xét xử
sơ thẩm ................................................................................................ 44
2.1.4. Thẩm quyền xét xử theo pháp luật tố tụng hình sự năm 2015............ 57
giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm
quyền xét xử ....................................................................................... 93
3.1.1. Đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp thể hiện trong các văn
kiện, nghị quyết của Đảng................................................................... 93
3.1.2. Đáp ứng yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền ........................ 94
3.1.3. Để phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và các văn bản luật đã ban hành ................................................. 94
3.1.4. Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh, xử lý tội phạm .................. 94
3.1.5. Đáp ứng yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế .................................... 95
3.2.
Hoàn thiện pháp luật ........................................................................ 96
3.3.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm
quyền xét xử ....................................................................................... 99
3.3.1. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán ........................................... 99
3.3.2. Xây dựng một chế độ lương và chính sách thoả đáng ...................... 102
3.3.3. Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Tòa án .............................. 103
3.3.4. Một số giải pháp đồng bộ khác ......................................................... 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 108
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XXST
Xét xử sơ thẩm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Tình hình xét xử của Tòa án các cấp tại tỉnh Hà
Giang (2011 - 2015)
74
Bảng 2.2: Tình hình xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án hai
cấp tỉnh Hà Giang từ 2011 - 2015
75
Bảng 2.3: Tình hình thụ lý, xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa
án cấp huyện tỉnh Hà Giang từ năm 2011 - 2015
thẩm quyền của TA các cấp còn bộ lộ nhiều điểm bất cập không còn phù hợp
gây khó khăn cho hoạt động xét xử của TAND. Đó là sự phân định thẩm
quyền xét xử giữa TA cấp huyện và TA cấp tỉnh không hợp lý, vẫn giao cho
TA cấp tỉnh XXST quá nhiều việc nên tình trạng tồn đọng án từ năm này sang
năm khác vẫn còn. Ngoài ra, một số quy định của BLTTHS không cụ thể, các
văn bản hướng dẫn chậm được ban hành nên việc nhận thức và áp dụng vào
thực tiễn xét xử vấn đề giới hạn XXST.
1
Hiện nay, cùng với sự đổi mới toàn diện các mặt đời sống xã hội, các
cơ quan tư pháp cũng được đổi mới theo hướng tăng cường hiệu quả, chất
lượng hoạt động. Đối với TAND, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương
Đảng đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị cụ thể về việc nghiên cứu đổi mới tổ
chức và hoạt động theo hướng từng bước mở rộng thẩm quyền XXST của
TAND cấp huyện theo phương hướng củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan
tư pháp, phân định lại thẩm quyền xét xử của TAND theo nguyên tắc: "Kiện
toàn đến đâu, mở rộng thẩm quyền xét xử đến đó". Chính vì thế, việc nghiên
cứu về thẩm quyền XXST vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định của pháp
luật về vấn đề này là một nhiệm vụ cần thiết và hết sức quan trọng.
Tìm hiểu quy định của pháp luật TTHS hiện hành về thẩm quyền
XXST của TA, nghiên cứu thực tiễn xét xử liên quan đến thẩm quyền XXST
trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về lý
luận cũng như thực tiễn lập pháp.
Mặc dù, vấn đề thẩm quyền XXST các vụ án hình sự của TAND các
cấp đã có nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, việc coi trọng và tiếp tục
nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam hiện hành vấn đề thẩm quyền XXST của TAND, thực tiễn
áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp
luật cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy
và phát triển của Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong 50 năm qua” (Tạp chí
Nhà nước và pháp luật) cùng nhiều bài viết khác nữa.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kể trên hầu hết đều được thực
hiện trước khi có BLTTHS năm 2015 được ban hành, hoặc là được nghiên
cứu theo khía cạnh riêng lẻ.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả mạnh dạn tiếp cận và
nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành cũng như
thực tiễn áp dụng các quy định đó sẽ tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn
3
thiện pháp luật về thẩm quyền XXST của TA trong TTHS đồng thời nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền XXST.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài: “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trong
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính
lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về:
"Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trong Luật Tố tụng hình sự Việt
Nam” dưới khía cạnh lập pháp TTHS và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó
luận văn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về: "Thẩm quyền xét
xử sơ thẩm của Tòa án”. Đồng thời, đề xuất những biện pháp bảo đảm thực
hiện các quy định của BLTTHS Việt Nam về thẩm quyền xét xử của TA,
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật về "Thẩm
quyền xét xử của Tòa án” trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được đặt
5. Những vấn đề mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý
luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên sau khi có BLTTHS
năm 2003 và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về: “Thẩm
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, trong
đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới
“Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án” trong Luật TTHS Việt Nam.
Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về: “Thẩm
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án” để xây dựng nên khái niệm về: “Thẩm
quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án”, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng
thời chỉ ra các căn cứ để phân định thẩm quyền XXST của TA;
6
- Nghiên cứu chỉ ra những điểm khái quát về lịch sử quá trình hình
thành và phát triển của các quy định về: “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa
án” trong Luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;
- Nghiên cứu, đánh giá các quy định về: "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của
Tòa án" trong Luật TTHS Việt Nam và BLTTHS một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các
quy định về:“Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án” của các đơn vị TAND
tại tỉnh Hà Giang; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng các quy định
về: “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án”, cũng như những nguyên nhân
cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó.
Chúng tôi hy vọng rằng kết quả nghiên cứu khiêm tốn mà chúng tôi đạt
được sẽ góp một phần nhỏ vào hệ thống lý luận khoa học luật TTHS, vào hoàn
thiện pháp luật TTHS, là tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy và học tập.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa,“thẩm
quyền” là tổng hợp các quyền hành động, quyền quyết định được trao hay
thừa nhận cho một chủ thể, cho phép chủ thể đó có thể thực hiện được những
chức năng cụ thể mà pháp luật quy định [64].
Thuật ngữ về "Thẩm quyền" của Việt Nam xét về nghĩa nói chung
giống với nghĩa trong tiếng nước ngoài, nhưng cách sử dụng thuật ngữ có
nhiều điểm khác biệt nhất định. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về thẩm
quyền, tuy nhiên, tựu trung lại đều được hiểu: “Thẩm quyền là khả năng của
8
chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt một công việc nào đó
trên cơ sở chuẩn mực pháp luật đã định trước”.
Qua sự phân tích trên có thể rút ra kết luận: “Thẩm quyền là tổng thể
các quyền mà pháp luật quy định cho một chủ thể nhất định được thực hiện
công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định”
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thẩm quyền xét
xử, theo từ điển Luật học thì:
Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của
các Tòa án. Các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước
được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do Tòa án tuyên
đều phải thông qua xét xử. Không ai có thể bị buộc tội mà không
qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố
công khai bằng bản án [64].
Khái niệm về: “Thẩm quyền xét xử” của Toà án không phải là một điều
mới mẻ trong giới luật học trong nước cũng như thế giới. Theo Leneunier thì:
“Thẩm quyền xét xử được hiểu là khả năng của một Toà án xem xét một vụ
việc trong phạm vi pháp luật cho phép”.
Ở nước ta thẩm quyền xét xử đã được nghiên cứu dưới rất nhiều góc
hiệu trên, bởi vì chúng có tác dụng bổ trợ, tương hỗ với nhau hay nói cách
khác giữa chúng có mối liên hệ biện chứng hữu cơ với nhau cho nên nếu thiếu
một dấu hiệu nào cũng có thể dẫn tới tình trạng xác định thẩm quyền xét xử
một cách không chính xác và không có căn cứ pháp luật. Trong khi đó đây lại
là một trong những giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng nếu làm không tốt
sẽ dẫn tới tình trạng “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” hình sự. Tuy
nhiên, muốn xác định một cách chính xác thẩm quyền xét xử thuộc về cấp nào
và có được áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực
pháp luật hay không thì chúng ta còn phải căn cứ vào bản chất của mỗi cấp
xét xử, của thủ tục xét lại đó.
10
Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức
TAND năm 2002 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Quyền xét
xử thuộc về TA được hiểu là thẩm quyền xét xử.
Theo Điều 3 Luật tổ chức TAND năm 2014 hệ thống tổ chức TA gồm
có: Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân cấp cao; Toà án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự [44, tr. 9-10]
Trong đó, theo Điều 20 Luật tổ chức TAND năm 2014 thì TAND tối
cao giám đốc thẩm, tái phẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
Tòa án nhân dân cấp cao cao có nhiệm vụ:
Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của luật tố tụng.
Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đó có hiệu lực
những quy định của Hiến pháp 2013 năm và BLTTHS năm 2003, Luật tổ
chức TAND năm 2014 cho thấy các đặc điểm cơ bản của thẩm quyền XXST
vụ án hình sự như sau:
a. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS có
tính bắt buộc.
TTHS trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, do các cơ quan, chủ thể khác
nhau đảm nhiệm thực hiện. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mang
tính bắt buộc thể hiện ở việc do là một giai đoạn của TTHS nên đòi hỏi phải
tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các thủ tục
khác có thể có, có thể không, nhưng xét xử lần đầu do đó là thủ tục bắt buộc.
b. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự là xét xử
lần đầu vụ án. Do đó, vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt
đầy đủ những người tham gia tố tụng.
13
Trên những tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra. TA
là cơ quan đại diện Nhà nước được xem xét, đánh giá những chứng cứ đã có
đồng thời thu thập thêm những chứng cứ cần thiết khác qua hoạt động xét xử
tại phiên tòa. Tất cả các tài liệu, chứng cứ do CQĐT, VKS thu thập trong quá
trình điều tra, truy tố đều được xem xét một cách công khai, toàn diện tại
phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe
trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều mà tại Cơ
quan điều tra (CQĐT), VKS họ đã không có điều kiện để thực hiện. Nói một
cách khác, XXST chỉ được tiến hành khi CQĐT đã điều tra vụ án, VKS đã
truy tố bị can ra trước TA bằng bản cáo trạng. Do đó, XXST là một công đoạn
trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự.
c. Thẩm quyền XXST của TAND theo pháp luật TTHS có kết quả là
một bản án, quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Các phán quyết của TA được xem xét, đánh giá trên cơ sở những chứng
dân, của người bị hại và của bản thân bị cáo, cũng như những người tham gia
tố tụng khác.
1.2. Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Thẩm quyền XXST của TA là một trong những chế định trung tâm của
TTHS. Việc quy định đúng đắn và phù hợp thẩm quyền xét xử của TA có vai
trò rất quan trọng trong việc thực hiện tốt các nhiệm vụ tố tụng là phát hiện
nhanh chóng, xử lý công minh người phạm tội, không để lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội; tôn trọng và bảo vệ lợi ích Nhà nước, các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân; giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật, tham
gia đấu tranh chống tội phạm. Do đó để quy định thẩm quyền xét xử của
TAND nói chung và thẩm quyền XXST của TAND nói riêng được chính xác
chúng ta phải dựa trên những luận cứ khoa học chắc chắn đã được đúc rút và
kiểm chứng từ thực tiễn. Đó là một số căn cứ cơ bản sau:
1.2.1. Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo
15
duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo thông qua việc đề ra
đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ nhất định và sử dụng pháp
luật như một công cụ hữu hiệu để thể chế hóa các quan điểm, đường lối chính
sách của Đảng đi vào cuộc sống. Việc xây dựng các quy định về thẩm quyền
XXST của TA không thể không dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước.
Vấn đề thẩm quyền XXST và việc phân định lại thẩm quyền XXST của
TAND các cấp luôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc
cải cách tư pháp nói chung và đổi mới tổ chức hoạt động của ngành TA nói
riêng. Nghị quyết hội nghị lần thứ VIII- BCHTW Đảng (khóa VII) đã đề ra
nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp trong đó xác
định: “...Nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện
theo hướng việc xét xử được thực hiện chủ yếu ở Tòa án cấp này. Tòa án cấp
Căn cứ vào cách thức tổ chức hệ thống các cơ quan Nhà nước theo đơn
vị hành chính lãnh thổ, căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của các cơ
quan tiến hành tố tụng, BLTTHS đã quy định về thẩm quyền xét xử cho từng
cấp TA. BLTTHS căn cứ vào cách thức tổ chức đó để quy định thẩm quyền
xét xử. Dựa vào thẩm quyền theo luật định mỗi cấp TA đều có quyền xét xử
riêng mà không bị chi phối bởi TA cấp trên để phân định thẩm quyền của TA.
Việc phân định thẩm quyền như trên không chỉ đảm bảo tính khoa học về mặt
quản lý mà còn phát huy được khả năng phối hợp của các cơ quan tiến hành
tố tụng khác, các cơ quan bổ trợ tư pháp trong giải quyết các vụ án.
1.2.3. Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
Tính chất nghiêm trọng của tội phạm được xác định căn cứ vào tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo đó tội phạm càng
nghiêm trọng thì mức độ gây nguy hại cho xã hội của tội phạm càng lớn. Tính
nghiêm trọng của tội phạm được các nhà làm luật thể hiện qua mức chế tài
quy định với loại tội phạm đó.
Theo Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) thì tội phạm là hành vi nguy hiểm
17