Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ LAN NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE,
DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình Sự
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Chí

HÀ NỘI – 2012
3

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 7

NHÂN PHẨM VÀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 41
CHƢƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ,
NHÂN PHẨM VÀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN. 47
2.1. PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN TRƢỚC NĂM 2003 VỀ
NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN
PHẨM VÀ TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN. 47
2.2. LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ
TÍNH MẠNG SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ TÀI SẢN CỦA
CÔNG DÂN 57
2.2.1. PHÂN LOẠI NGUYÊN TẮC 58
2.2.2. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE,
DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN: 59
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN
THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC BẢO
HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN
CỦA CÔNG DÂN 74
3.1. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG,
SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN
TRONG THỰC TẾ. 74
3.1.1. THỰC TIỄN VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN ĐƢỢC PHÁP LUẬT BẢO
HỘ VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA
CÔNG DÂN. 75
3.1.2. THỰC TIỄN VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO HỘ TÍNH MẠNG,
SỨC KHỎE, DANH DỰ , NHÂN PHẨM, TÀI SẢN CỦA CÔNG DÂN CỦA
CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG. 78
3.2. NGUYÊN NHÂN, HẠN CHẾ CỦA VIỆC THỰC THI NGUYÊN TẮC
BẢO HỘ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, TÀI SẢN
CÔNG DÂN 80


6
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
XHCN Xã hội chủ nghĩa
TTHS Tố tụng hình sự

những quyền cơ bản của con ngƣời, việc bảo đảm cho những quyền đó đƣợc
thực thi thể hiện sự văn minh của quốc gia đó ở trình độ nào. Tuy nhiên hiện
nay việc các quyền này bị xâm hại vẫn đang là một vấn đề nhức nhối cho xã
hội. Các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của công dân không chỉ đƣợc quy định trong Chƣơng XII và Chƣơng XIV
BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) mà còn diễn ra ở nhiều loại tội 8
phạm khác nhau với tính chất là một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra
hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Hiện nay việc tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của
công dân bị xâm hại không chỉ do việc quy định pháp luật chƣa nghiêm, còn
khe hở mà đôi khi còn do hành vi của những ngƣời tiến hành tố tụng hoặc của
cơ quan tiến hành tố tụng lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để xâm hại
đến những quyền này. Đây là một vấn đề xã hội nhức nhối mà Đảng và nhà
nƣớc ta đang tích cực loại bỏ, thể hiện quyết tâm qua những kỳ Đại hội Đảng,
các Nghị quyết của Bộ Chính trị hay các văn bản chính trị khác. Nhƣ vậy, ta
có thể thấy tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân bị
xâm hại không những gây ra nỗi đau về thể xác, tinh thần và vật chất của nạn
nhân mà nó còn gây ra những thiệt hại khác cho xã hội về mặt đạo đức, làm
ảnh hƣởng xấu đến tƣ tƣởng và lối sống của một bộ phận dân cƣ. Nó đã tác
động xấu đến môi trƣờng an ninh trật tự, an toàn xã hội và tạo nên tâm lý bất
an trong tiềm thức của mỗi con ngƣời. Do vậy khi các quyền này bị xâm hại
hoặc bị đe dọa xâm hại, ngƣời có quyền, lợi ích hợp hợp pháp có quyền yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ. Chính vì vậy, việc bảo hộ các quyền này
đã đƣợc nâng lên thành một trong những nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự
Việt Nam, có tính chất nhƣ “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động tố tụng.
Việc nghiên cứu nguyên tắc trên là một vấn đề vô cùng quan trọng, Bộ
Luật Tố tụng hình sự 2003 đã có những quy định khá đầy đủ về vấn đề này,

nguyên tắc này trở nên hoàn thiện và mang tính khả thi cao.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận chung về
bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân;
pháp luật Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới về Bảo hộ tính mạng sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân; thực tiễn áp dụng nguyên
tắc này. 10
Với đề tài “Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm và tài sản của công dân trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam” có rất
nhiều vần đề cần bàn luận, tuy nhiên trong phạm vi khuôn khổ một luận văn
thạc sĩ, tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến nguyên tắc
này nhƣ: Khái niệm về nguyên tắc bảo hộ, các quy định của pháp luật hiện
hành về quy tắc này từ đó đƣa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn tôi sử dụng phƣơng pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học
khác nhƣ : phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, so sánh.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
a. Mục đích
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm luận giải một cách khoa học về
những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến Nguyên tắc bảo hộ tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân, qua đó có cách
nhìn tổng quát về mọi khía cạnh của vấn đề, trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp để nâng cao hiệu quả của việc thực thi Nguyên tắc này trong đời sống.
b. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận của Nguyên tắc bảo hộ tính mạng,

12
13
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ
TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ TÀI SẢN
CỦA CÔNG DÂN.
1.1. Khái niệm nguyên tắc Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản của công dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử của loài ngƣời, bảo hộ là một khái niệm đã
hình thành từ rất lâu, song chủ yếu đƣợc sử dụng trong lĩnh vực chính trị. Bảo
hộ lúc đó không chỉ mang ý nghĩa thuần túy của nó là giữ gìn, che chở (bảo là
giữ gìn, hộ là che chở) mà còn có nghĩa nhƣ áp đặt và cai trị. Tuy nhiên ý
nghĩa của từ bảo hộ chúng ta đang nghiên cứu ở đây không mang ý nghĩa nhƣ
vậy. Theo từ điển Tiếng việt “bảo hộ” có nghĩa là: “bảo vệ, giữ gìn, che chở,
không để bị tổn thất”; “nguyên tắc” có nghĩa là: “Điều cơ bản định ra, nhất

khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân còn gián tiếp thể hiện qua
nhiều Chƣơng khác của BLHS ví dụ nhƣ các chƣơng về tội phạm ma túy,các
tội vi phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng hay các tội phạm về chức
vụ…
Dù đƣợc quy định trực tiếp tại hay gián tiếp tại các chƣơng, điều khác
của BLHS thì các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
và tài sản của công dân đều chung một đối tƣợng, đều lấy tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tài sản làm mục tiêu tấn công. Nhƣ ta đã biết “tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm” đều là các quyền gắn liền với nhân thân của
con ngƣời và không thể chuyển giao, vì thế nó đặc biệt quan trọng đối với mỗi
cá nhân. Nó chính là những quyền cơ bản nhất, quan trọng và quý giá mà một
con ngƣời đang sống cần đƣợc hƣởng, do đó việc bảo vệ các quyền này không
chỉ là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm của nhà nƣớc nhằm duy trì sự ổn định
cho xã hội và tạo tâm lý an tâm cho ngƣời dân. Bên cạnh các quyền nêu trên,
quyền của công dân về “tài sản” cũng là một trong các quyền quan trọng cần 15
bảo vệ. Việc tài sản của công dân bị các hành vi phạm tội xâm hại thực chất
diễn ra rất phổ biến trong thực tế. Nó không chỉ ảnh hƣởng đến kinh tế, lợi ích
của một cá nhân mà nó còn ảnh hƣởng lớn đến tâm lý của ngƣời bị hại, trực
tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hƣởng đến các quyền khác của công dân, gây mất
trật tự, an toàn xã hội (ví dụ tội cƣớp giật tài sản thì đối tƣợng của hành vi cƣớp
giật ở đây là tài sản, tuy nhiên hành vi phạm tội này có thể gây nguy hiểm đến
tính mạng của ngƣời khác nếu nhƣ ngƣời bị hại đang tham gia giao thông). Vì
vậy cũng nhƣ các quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền
về tài sản cũng đƣợc pháp luật bảo hộ chặt chẽ.
Trong nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và
tài sản của công dân, ngoài việc xác định đối tƣợng đƣợc bảo hộ nhƣ đã nêu ở
trên, chúng ta cần xem xét xem chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ các quyền này là

- Tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của
ngƣời khác, không có những hành vi trái quy định của pháp luật hình sự xâm
hại đến các quyền này.
- Tự bảo vệ quyền của chính mình bằng các hành vi tuân thủ pháp luật
của nhà nƣớc, tôn trọng các giá trị đạo đức xã hội và các biện pháp khác.
- Nhanh chóng, kịp thời phê phán, tố giác các việc làm sai trái tới các
cơ quan thực thi pháp luật nhằm bảo vệ kịp thời các quyền nêu trên.
Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản
của công dân đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật
hình sự. Việc quy định nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản của công dân khẳng định sự tiến bộ, dân chủ, văn minh
của pháp luật. Pháp luật thế giới đã công nhận các quyền của con ngƣời thông
qua Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 hay Hiến chƣơng Liên
Hợp quốc, vì vậy việc pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo hộ cho các quyền
đó thể hiện sự tiếp thu những giá trị văn minh về lập pháp của thế giới. Ngoài
ra kể từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, việc thừa nhận ngày càng đầy đủ
các quyền nêu trên của mỗi công dân qua từng thời kỳ cho thấy sự tiến bộ 17
trong kỹ thuật lập pháp của nƣớc ta, đáp ứng đƣợc nhu cầu cải cách luật pháp
và sự phát triển của xã hội
Nguyên tắc này còn góp phần bảo hộ quyền con ngƣời trong luật
TTHS, bởi nó nằm trong số các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, mang tính
chỉ đạo chung cho mọi hoạt động tố tụng. Đây là một trong các nguyên tắc cụ
thể hóa cho các quyền của con ngƣời trong luật TTHS, vì vậy thực hiện tốt
nguyên tắc này sẽ góp phần bảo vệ một cách toàn diện cho các quyền con
ngƣời.
Việc thực hiện nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm và tài sản của công dân còn giúp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Nói

Để xây dựng một nguyên tắc, các chuyên gia lập pháp bao giờ cũng
phải căn cứ trên những cơ sở thực tiễn và lý luận để có thể xây dựng đƣợc
một nguyên tắc có tính bao quát và định hƣớng cao nhất trong mọi hoạt động
tố tụng. Cũng nhƣ một số các nguyên tắc khác của Luật Tố tụng hình sự,
nguyên tắc “bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của
công dân” nằm trong nhóm các nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công
dân, hay nói cách khác nó là sự thể hiện cụ thể của “Nguyên tắc tôn trọng và
bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” (Điều 4 BLTTHS năm 2003). Ngoài
quy định về việc bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài
sản của công dân nó còn mang đầy đủ các đặc trƣng của nhóm nguyên tắc
này nhƣ tăng cƣờng dân chủ trong Tố tụng hình sự, đảm bảo pháp chế XHCN
hay cao hơn là bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ các lợi ích của nhà nƣớc và công
dân, tổ chức; đấu tranh phòng chống tội phạm; giáo dục pháp luật, phòng
ngừa tội phạm. Ngoài những đặc trƣng nêu trên, đi sâu phân tích ta sẽ thấy
việc xây dựng lên Nguyên tắc này còn căn cứ vào những nguyên nhân sau:
- Nguyên tắc này đƣợc xây dựng do đòi hỏi của sự phát triển xã hội. Với
một quốc gia phát triển hay đang phát triển, việc xây dựng kinh tế luôn phải đi
đôi với việc đảm bảo đời sống cho con ngƣời, có nhƣ vậy xã hội mới phát triển 19
bền vững đƣợc. Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì các tệ nạn phát sinh ngày
càng nhiều, với lối sống thực dụng và chạy theo vật chất của một bộ phận dân
cƣ ngày nay việc chỉ khƣ khƣ quan tâm cho lợi ích của mình mà sẵn sàng coi
thƣờng thậm chí xâm hại đến lợi ích của ngƣời khác đã tạo một tâm lý bất an
trong xã hội. Vì vậy Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm và tài sản của công dân đƣợc xây dựng đã thể hiện sự quan tâm của
ngƣời dân ngày càng cao đối với việc bảo vệ các lợi ích của họ, đồng thời cũng
tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng nhằm điều chỉnh cách ứng xử giữa ngƣời
với ngƣời, giữa các cơ quan có thẩm quyền với ngƣời dân. Việc xây dựng

Do vậy trong định hƣớng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật,
bên cạnh các vấn đề khác, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền con ngƣời, quyền tự do, dân chủ của công dân rất đƣợc Bộ Chính trị
chú trọng, trong đó nêu rõ:
“…Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nƣớc đối với các quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc, nhất là
toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…”
Bên cạnh chủ trƣơng hoàn thiện pháp luật, việc xây dựng nguyên tắc
bảo hộ tính mang, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân còn
nhằm đáp ứng chủ trƣơng cải cách hành chính của Đảng và nhà nƣớc ta. Việc
cải cách hành chính đã đƣợc Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đặt ra lần đầu
tiên, trong đó Đại hội đã xác định nguyên nhân và chỉ ra nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội là công tác tổ chức và đề ra chủ chƣơng
thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy nhà nƣớc. Đến những
những năm sau này, việc cải cách hành chính luôn đƣợc nhắc tới trong các kỳ
Đại hội Đảng và đƣợc coi là một nhiệm vụ quan trong trong việc xây dựng và
hoàn thiện Nhà nƣớc, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong
sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực, từng bƣớc hiện đại hóa quản 21
lý, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh và đúng hƣớng, phục vụ đắc lực cho
đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật. Chính vì
lẽ đó, việc xây dựng Bộ luật TTHS các nhà làm luật cũng đặc biệt chú trọng
đến tính hiệu quả và khả năng thực thi của từng điều luật, xây dựng những
điều luật mang tính khái quát cao và phạm vi điều chỉnh rộng nhằm đáp ứng
đƣợc yêu cầu đặt ra của việc Cải cách hành chính, đồng thời hạn chế tối đa
những kẽ hở có thể có, tránh tình trạng “lách luật”, lạm dụng pháp luật của
những cơ quan công quyền nhằm xâm hại đến lợi ích của công dân. Do vậy

Nếu nhƣ trƣớc đây ở thời đại phong kiến các quyền của cá nhân, công dân
không đƣợc coi trọng, hay trong những năm kháng chiến của dân tộc ở thế kỷ
20, các quyền lợi này phải đặt sau rất nhiều những lợi ích quốc gia khác thì
hiện nay khi đất nƣớc độc lập, xã hội phát triển, các quyền cơ bản của công
dân thực sự đƣợc chú ý và đề cao. Bởi Đảng và nhà nƣớc đã xác định “dân có
giàu thì nƣớc mới mạnh”, do vậy phải có cơ chế pháp luật quan tâm và điều
chỉnh các vấn đề liên quan đến lợi ích của công dân, có nhƣ vậy mới tạo ra
đƣợc sự ổn định và phát triển lâu dài cho xã hội. Không chỉ do nhu cầu của xã
hội, việc hội nhập quốc tế của đất nƣớc cũng là cơ sở thúc đẩy các chế định
liên quan đến quyền con ngƣời, trong đó có việc xây dựng nguyên tắc bảo hộ
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân. Đây không
chỉ là sự tất yếu mà còn thể hiện sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của
pháp luật quốc tế, thể hiện sự hội nhập của Việt Nam với thế giới ở mặt thể
chế nhà nƣớc.
1.3. Vai trò, ý nghĩa, nội dung của Nguyên tắc bảo hộ tính mạng,
sức khỏe, danh dự và tài sản của công dân trong Luật Tố tụng hình sự.
1.3.1. Vai trò, ý nghĩa của Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe,
danh dự và tài sản của công dân trong Luật Tố tụng hình sự.
Trong Bộ luật TTHS nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự
và tài sản của công dân có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là một trong các 23
nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, là phƣơng châm, định hƣớng chi phối toàn
bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự. Khi tìm hiểu việc
nguyên tắc này trở thành nguyên tắc cơ bản của luật TTHS ta sẽ nhận thấy:
Thứ nhất, trong quá trình lập pháp nội dung của nguyên tắc này không
chỉ là đối tƣợng bảo vệ của Luật hình sự (các điều từ 93 đến 122 và từ 133
đến 145 Luật hình sự năm 1999) mà nó còn đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp
1992 - văn kiện pháp lý cao nhất của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam “Công

tâm đến những lợi ích của bản thân và am hiểu pháp luật thì việc vi phạm
pháp luật sẽ đƣợc hạn chế và xã hội sẽ ổn định hơn. Nguyên tắc này vì thế mà
có ý nghĩa rất lớn duy trì trật tự xã hội.
Thứ tƣ, Nguyên tắc này là căn cứ để cho các cơ quan giám sát thực thi
pháp luật đánh giá, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật cũng nhƣ giám sát việc thực
hiện quyền lực nhà nƣớc của các cơ quan hành pháp. Nó chính là những tiêu
chí cụ thể để đánh giá mức độ vi phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng, góp phần nâng cao tính bảo đảm của pháp luật.
Nằm trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, do
vậy Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản
của công dân cũng mang đầy đủ ý nghĩa của các nguyên tắc này đó là:
- Đảm bảo cho quá trình tiến hành tố tụng đƣợc thực hiện một cách
thống nhất
- Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng
hình sự.
- Tạo điều kiện và động viên các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tham
gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm và dân chủ hóa quá trình tố tụng.
- Định hƣớng xây dựng pháp luật tố tụng hình sự
Ngoài ra Nguyên tắc này còn có ý nghĩa riêng của nó đó là:
- Bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
- Thể hiện tính toàn diện, công bằng của pháp luật hình sự Việt Nam. 25
- Việc bảo đảm các quyền của con ngƣời trong nguyên tắc này còn thể
hiện rõ đƣờng lối, chính sách của Đảng và nhà nƣớc ta luôn lấy con ngƣời là
trung tâm, xây dựng pháp luật là nhằm bảo đảm cho xã hội đƣợc công bằng,
văn minh.
- Nguyên tắc này còn thể hiện sự hội nhập tốt của pháp luật Việt Nam
đối với thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status