Một sốvấn đềvềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín - Pdf 28


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường - vấn đề này đã được các
nhà làm luật coi đó là một nguyên tắc và cụ thể hóa trong văn bản pháp luật.
Xét về nguồn gốc lịch sử thì chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng ra đời từ rất sớm. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia
đều có những qui định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên
cạnh đó còn có những qui định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây
thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh bị thiệt hại...
Bộ luật dân sự năm 1995 được áp dụng để giải quyết cho các tranh
chấp dân sự nói chung, tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng nói riêng kể từ ngày 1/7/1996. Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật
dân sự 1995 đã phát huy tác dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho các chủ thể trong giao lưu dân sự, góp phần làm ổn định các quan hệ xã
hội. Bên cạnh những thành công đã đạt được, Bộ luật dân sự 1995 còn bộc lộ
nhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Bộ luật dân
sự 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 với nhiều sự sửa đổi, bổ sung
nhất định, trong đó có chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bộ luật dân
sự 2005 qui định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ Điều 604
đến Điều 630, trong đó bổ sung qui định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm
thi thể, bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả, hài cốt và rất nhiều sự sửa
đổi khác trong từng qui định cụ thể.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do
xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những loại trách nhiệm
gây nhiều tranh cãi về căn cứ phát sinh, mức bồi thường...; hơn nữa qui định
của pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính "định

trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các quy định của pháp

3
luật dân sự trong việc bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm và uy tín, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại, các hình thức và mức bồi thường, những trường hợp miễn hoặc giảm
trách nhiệm bồi thường...
Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng hoặc có đề cập chi tiết cụ thể
hơn nhưng vào thời điểm của Bộ luật dân sự 1995 đang tồn tại hiệu lực pháp lý.
Tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng theo Bộ luật dân sự 2005 và các
văn bản hướng dẫn mới thì chưa có một công trình khoa học nào cho đến thời
điểm hiện tại.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các qui định của Bộ luật dân sự 2005 và các
văn bản hướng dẫn thi hành, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn hoàn
chỉnh dưới lăng kính pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, qua đó phục vụ tốt hơn cho công việc thực tế của bản thân. Ngoài ra,
qua việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm
phạm sức khỏe, tính mạng cũng như việc áp dụng vào thực tiễn sẽ có những
kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi, sửa đổi và
tuyên truyền pháp luật. Để đạt được mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng; tìm hiểu thực
tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính
mạng, qua đó chỉ ra những bất cập trong các qui định của pháp luật và phương
hướng hoàn thiện qui định của pháp luật về bồi thường thiệt hại nói chung,
pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời kỳ sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, theo đó
người ta thường áp dụng nguyên tắc "nợ gì trả nấy" khi có hành vi gây thiệt
hại. Luật XII bảng được ban hành vào năm 449 trước Công nguyên có qui
định: Kẻ nào làm gãy tay người khác thì kẻ đó phải chịu lại tương tự như vậy.
Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng, lợi ích của người bị thiệt hại
không được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác phát sinh. Đây chính
là lý do để sau đó người ta xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại.
Xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế định
gây nhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật pháp
cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn.
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, chế định bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng luôn được hoàn thiện bởi các chuyên gia pháp lý. Ở nước ta,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được qui định trong Quốc
triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Pháp luật mỗi nước có thể có những qui
định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi thường, tuy nhiên một nguyên
tắc cơ bản luôn tồn tại - đó là: "Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại
cho người bị thiệt hại". Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều chưa có
sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự. Sự phân biệt rạch ròi


7
điều kiện nền kinh tế tập trung bao cấp, tuy đề cập đến nhiều vấn đề xong chỉ
mang tính định hướng, chưa cụ thể... Bên cạnh đó, xu hướng phát triển kinh tế
đất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đòi hỏi phải có
bộ luật dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội rộng lớn. Bộ luật Dân
sự ra đời pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luật
thống nhất nhằm khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn
của pháp luật dân sự trước đó.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những
trách nhiệm dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luật
gây ra thiệt hại cho người khác. Chế định "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng’’ được hệ thống ở chương V, phần thứ 3 với các qui định từ
Điều 604 đến Điều 630 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời giải quyết khách quan,
nhanh chóng, công bằng theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 5 Điều 281 Bộ luật dân sự Việt Nam thì một trong những căn
cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: "Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật".
Theo qui định tại Điều 604 Bộ luật dân sự thì sự kiện "gây thiệt hại do
hành vi trái pháp luật" là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài
hợp đồng. Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa "trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng" với "nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái
pháp luật" - Điều 604 Bộ luật dân sự đã xác nhận sự đồng nghĩa này.
Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởi
những hành vi trái pháp luật. Khi một người có hành vi trái pháp luật gây
thiệt hại đối với người khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật về bồi
thường thiệt hại.
Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:


9
đồng có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc, điều đó được thể hiện trên
một số phương diện sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế
định góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Trong các quan hệ xã hội nói chung, giao lưu dân sự nói riêng, chủ thể
tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình. Để
xã hội ngày càng phát triển, các chủ thể phải tham gia nhiều quan hệ xã hội
khác nhau và trong các quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia thì lợi ích luôn là
tâm điểm để chủ thể hướng tới. Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệu
lực pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của các chủ thể. Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở quyền sở hữu tài sản,
nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân được
pháp luật bảo vệ. Bằng việc qui định căn cứ phát sinh, nguyên tắc bồi
thường... thì chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các
quan hệ xã hội khác nhau.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế
định góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm
về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại. Bằng việc buộc người gây
thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây
ra cho người bị thiệt hại, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã
góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Đây cũng là nguyên tắc, là mục tiêu mà
pháp luật đặt ra. Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã cụ thể hóa
và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thường thiệt hại. Theo chế
định này, ai gây thiệt hại thì người ấy phải bồi thường, tuy nhiên sẽ có những
trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nguyên tắc


uy tín (sự cụ thể hóa các quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ). Chúng ta
có thể thấy rõ sự giống và khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các
quyền nhân thân qua sự phân tích dưới đây.
1.2.1. Những điểm giống nhau
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm
bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm
pháp lý. Đây chính là thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và hậu quả
của hành vi đó gây ra. Cả hai loại trách nhiệm này đều là biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm, buộc người vi phạm phải
chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm
bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm
pháp lý nên chỉ phát sinh khi và chỉ khi dựa trên các căn cứ do pháp luật qui
định. Những căn cứ đó được xác định cụ thể như: có thiệt hại, có hành vi trái
pháp luật gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và
thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại.
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân còn có những
điểm giống nhau liên quan đến hậu quả (trách nhiệm vật chất), những trường
hợp được loại trừ, những trường hợp không được loại trừ...
1.2.2. Những điểm khác nhau
Bên cạnh những điểm giống nhau, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhân
thân còn có những điểm khác biệt, chúng ta có thể thấy sự khác biệt này qua
bảng so sánh dưới đây:

12
TIÊU CHÍ
SO SÁNH

hoặc chuyển giao nghĩa vụ
Không thể thay đổi chủ thể, không
thể chuyển giao quyền yêu cầu,
Điều 309 khoản 1 điểm a Bộ luật
dân sự quy định: "1. Bên có quyền
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân
sự có thể chuyển giao quyền yêu
cầu đó cho người thế quyền theo
thỏa thuận, trừ những trường
hợp sau đây: a) quyền yêu cầu
cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường
thiệt hại do xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín;…" 13
Chương 2
XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SỨC KHỎE VÀ TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM

Trách nhiệm bồi thường nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm
tính mạng, sức khỏe nói riêng là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó trách
nhiệm bồi thường do xâm phạm tính mạng, sức khỏe phát sinh khi và chỉ khi
thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định. Các điều kiện phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại (căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại) do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm là những căn cứ do pháp luật
qui định, khi thỏa mãn các căn cứ đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
xâm phạm sức khỏe, tính mạng phát sinh. Pháp luật dân sự không qui định cụ
thể căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe,

được thiệt hại trong trường hợp này. Vậy có thể hiểu thiệt hại là gì? Thiệt hại
có thể được hiểu theo hai khía cạnh: xã hội và pháp lý.
Theo ý nghĩa xã hội, mỗi hành vi trái pháp luật đều gây thiệt hại, bởi
nó làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội nhất định.
Theo luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được
tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,
tài sản... của cá nhân và các chủ thể khác. Tổn thất thực tế được đề cập ở đây
là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần, hay những chi phí để
ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu.
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh
thần. Thiệt hại vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tài sản đã mất
mát, những chi phí cần thiết để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế tài sản
bị hư hỏng, những khoản thu nhập thực tế bị mất.

15
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe... của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào?
Tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá không thể tính thành tiền, do
vậy bồi thường thiệt hại ở đây không phải là bồi thường về tính mạng, sức
khỏe mà nó là những bồi thường thiệt hại vật chất. Những chi phí cho việc
cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại hoặc
những chi phí cần thiết khác.
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày
23/3/1972 hướng dẫn thì thiệt hại được xác định: "Đó là thiệt hại vật chất,
biểu hiện cụ thể là thiệt hại về tài sản hoặc những chi phí và những thu nhập
bị mất, do có sự thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đưa đến. Thiệt hại đó phải
thực sự xảy ra và tính toán được".
Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận việc
buộc người gây thiệt hại "bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về
tinh thần" cho người bị thiệt hại, người thân của họ.

có thể phức tạp hóa vấn đề lên, như khai tăng giá trị thiệt hại còn người gây
thiệt hại có chiều hướng đơn giản hóa. Vì vậy mà người có vai trò đánh giá
thiệt hại, đại diện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là rất quan trọng.
Nhìn nhận và đánh giá thiệt hại dựa trên cơ sở pháp luật quy định để xem xét
có thiệt hại xảy ra hay không, mức độ thiệt hại như thế nào...
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền xác
định mới đảm bảo đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường. Tuy nhiên, đối với thiệt
hại về mặt tinh thần không thể tính toán bằng tiền. Hơn thế đây là khái niệm
còn khá trừu tượng, bởi "tinh thần" thì làm sao có thể cân, đo, đong, đếm cụ
thể để xác định thiệt hại, do vậy Tòa án chỉ có thể căn cứ vào từng trường hợp
cụ thể xác định số tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần, nhằm đảm bảo quyền
lợi của người bị nạn và gia đình họ, khắc phục phần nào hậu quả xảy ra. Tòa
án cũng chỉ chấp nhận những thiệt hại hợp lý mà thôi, những thiệt hại mang
tính suy diễn như: "Tôi là người không bao giờ bị tai nạn, trong tháng này tôi

17
bắt được 5 triệu đồng" hay "thu nhập của một người nông dân ở vùng quê
nghèo là từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng /tháng".
Có thiệt hại tức là những tổn thất thực tế, tồn tại khách quan và phải
tính được bằng một số tiền cụ thể nhất định, còn những thiệt hại mang tính
suy diễn, chủ quan sẽ không được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng.
Như vậy, thiệt hại về vật chất là những thiệt hại trị giá được bằng tiền,
đó là thiệt hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đó là
những thiệt hại vật chất trong các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, uy tín, nhân phẩm…
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công
thức chung để quy thành tiền áp dụng cho mọi trường hợp. Việc giải quyết
bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tùy vào từng trường
hợp cụ thể nhằm mục đích an ủi, động viên và phần nào đó tạo điều kiện để
có thể khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho chính người bị thiệt hại

Bồi thường thiệt hại chính là nhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc một
phần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặc bù đắp những tổn thất
do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị xâm phạm nên thiệt hại được
coi là điều kiện có ý nghĩa quan trọng. Không thể bồi thường thiệt hại khi
không có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại được hiểu là: bị tổn thất, hư hao về người và tài sản và được
xác định bằng một khoản tiền cụ thể. Thiệt hại gây ảnh hưởng đến các quan
hệ kinh tế - xã hội được pháp luật bảo vệ, đồng thời cũng phản ánh hậu quả
của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, pháp nhân cũng như của Nhà nước.
Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần, tuy
nhiên có quan điểm cho rằng thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội và
ở phạm vi tình cảm. Nhưng có quan điểm cho rằng, bồi thường bằng tiền có
thể khắc phục phần nào thiệt hại về tinh thần, không thể dùng tiền bù đắp

19
được. Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định mức tiền bồi thường
thiệt hại về tinh thần tại khoản 2 Điều 609 và khoản 2 Điều 610. Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08
tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự năm
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã có sự hướng dẫn cụ thể
về bồi thường tổn thất tinh thần.
Buộc người xâm phạm đến sức khỏe người khác phải bồi thường một
khoản tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại và cho
những người thân thích của người bị thiệt hại trong vụ bị xâm phạm tính
mạng là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong tục tập quán,
truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam.
2.1.2. Phải có hành vi gây thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện,
nếu hành vi đó được thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành

về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối chính
sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội".
Như vậy, khi xác định hành vi gây thiệt hại cho người bị thiệt hại để
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chúng ta có thể thấy có những đặc
điểm của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại:
Thứ nhất, hành vi gây thiệt hại phải trái pháp luật, nếu không trái pháp
luật thì không phải bồi thường mặc dù có thiệt hại xảy ra. Hành vi trái pháp
luật ở đây được hiểu là hành vi vi phạm các qui định của pháp luật, ngoài ra
những hành vi vi phạm các qui tắc xử sự sinh hoạt trong đời sống cũng có thể
coi là hành vi trái pháp luật nếu gây ra thiệt hại. Những hành vi gây thiệt hại
nhưng do yêu cầu của nghề nghiệp hoặc gây thiệt hại theo bản án, quyết định
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không phải là hành vi trái pháp luật.
Ví dụ: để cứu chữa bệnh nhân tránh vết thương bị hoại tử, bác sĩ phải cắt bỏ
chân của bệnh nhân, những người phá dỡ các công trình xây dựng trái phép,
những người thi hành án tử hình...

21
Thứ hai, hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành
động hoặc dưới dạng không hành động.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí. Không
thể có hành vi gây thiệt hại mà những biểu hiện bên ngoài của nó không được
ý thức của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển.
2.1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại
Mối quan hệ nhân quả là sự liên hệ giữa hai hiện tượng trong đó có
chứa đựng nguyên nhân và kết quả. Phải có sự vận động của hiện tượng là nguyên
nhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể mới nảy sinh hiện tượng là kết quả.
Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là hậu quả. Xét về
nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác
định và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân quyết định
đối với thiệt hại xảy ra). Có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi. Một

nhiều hiện tượng, nhưng giữa chúng có một điểm khác nhau ở chỗ quan hệ
với hậu quả xảy ra. Nếu không có nguyên nhân thì không có hiện tượng, sự
vật xảy ra và cũng không tồn tại một điều kiện. Nhưng nhiều trường hợp có
nguyên nhân xảy ra nhưng không có kết quả nếu không có điều kiện.
Về nguyên tắc thì không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhân
còn hiện tượng kia chỉ là điều kiện. Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc xác định thiệt hại.Về mặt lý luận cũng như thực tế để xác
định mối quan hệ nhân quả là một vấn đề tương đối khó khăn. Bởi vì sự thiệt
hại thông thường thì do nhiều nguyên nhân chứ không chỉ do một nguyên
nhân gây ra. Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối hợp với
nhau phát sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không có
kết quả xảy ra. Tuy nhiên, mức độ tác động của từng nguyên nhân đối với kết
quả có thể là khác nhau, sự khác nhau này đã tạo ra vai trò chủ yếu và thứ yếu
của từng nguyên nhân. Trong thực tiễn thì thiệt hại có thể có nhiều nguyên

23
nhân, vậy xác định nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp,
nguyên nhân nào là nguyên nhân thứ yếu và gián tiếp, một thiệt hại có thể kéo
theo nhiều thiệt hại khác, thiệt hại đầu tiên có coi là nguyên nhân của thiệt hại
sau hay không. Chúng ta không thể căn cứ vào thứ tự trước sau của hành vi
gây thiệt hại để xác định nguyên nhân chủ yếu hay thứ yếu được, nhất là trong
các vụ án có nhiều người tham gia.
Tóm lại, mối quan hệ nhân quả là sự tồn tại khách quan, không phụ
thuộc vào ý chí của con người, khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm và thiệt hại xảy ra phải bảo đảm tính khách quan, phải đặt trong
mối liên hệ tất nhiên, nội tại của các hiện tượng chứ không được chủ quan mà
xác định quan hệ nhân quả.
2.1.4. Người gây thiệt hại có lỗi
Lỗi thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Khoản 2 Điều 309
quy định:

thể được suy đoán từ ba điều kiện trên. Như vậy, có thể nói rằng: trách nhiệm
hình sự, trách nhiệm dân sự hay bất cứ trách nhiệm pháp lý nào khác nào đều
phải dựa trên cơ sở lỗi. Một người gây thiệt hại mà không có lỗi thì dù thiệt
hại tới mức nào cũng không phải bồi thường - đó là nguyên tắc. (trường hợp
phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, lỗi hoàn toàn do
người bị thiệt hại gây ra).
Lỗi cố ý biểu hiện trạng thái tâm lý của một người biết hành vi của
mình là sai, thấy rõ hậu quả của hành vi đó, mong muốn cho hậu quả xảy ra
hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả của hành vi đó
xảy ra. Lỗi vô ý là biểu hiện trạng thái tâm lý của người gây thiệt hại, thấy
trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt
hại đó không thể xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng ngăn ngừa được.

25
Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ bồi thường thiệt
hại. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì
người gây thiệt hại không có trách nhiệm phải bồi thường. Mức độ bồi thường
phụ thuộc vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại. Khi nghiên cứu về lỗi vô ý
có thể chia lỗi vô ý ra làm hai loại:
- Vô ý vì cẩu thả.
- Vô ý vì quá tự tin.
Vô ý cẩu thả là trường hợp người có hành vi vi phạm mặc dù có thể
thấy trước và phải thấy trước thiệt hại có thể xảy ra.
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người có hành vi vi phạm thấy trước
khả năng hành vi của mình có thể gây thiệt hại và không mong muốn thiệt hại
xảy ra nhưng lại tin là có thể ngăn chặn được.
Sự khác nhau giữa vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin ở chỗ: người
có hành vi vi phạm với lỗi vô ý vì quá tự tin là họ nhận thấy trước được hành
vi của họ có thể gây thiệt hại, còn người có hành vi vi phạm với lỗi cẩu thả
không nhận thức được thiệt hại có thể xảy ra, trong cả hai trường hợp thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status