Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia trong tố tụng hình sự - Pdf 33

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền
lực thuộc về nhân dân. Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng " lấy dân làm gốc", bảo
đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án là cơ
quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình.
Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp
luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Hội thẩm bằng sự tham gia
của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham
gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng.
Để hiểu hơn về vấn đề này nhóm chúng em xin đi sâu tìm hiểu đề tài số 8: “Nguyên tắc thực hiện
chế độ xét xử có hội thẩm tham gia trong tố tụng hình sự”.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham
gia trong tố tụng hình sự
1. Cơ sở pháp lý

I.

Khái niệm Hội thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
Tòa án nhân dân năm 2002: “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để
làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”. Nguyên tắc thực hiện chế độ xét
xử có hội thẩm tham gia trong tố tụng hình sự là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận trong Hiến
pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 và
Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) năm 2003.Tại Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định:
" Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án Quân sự có Hội thẩm quân
nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán" . Tại
Điều 15 Bộ luật TTHS 2003 quy định về việc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia: “Việc
xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân
tham gia theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”. Như
vậy, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với

yếu khách quan. Sự tham gia của hội thẩm nhân dân là một trong những hình thức thu hút nhân dân
tham gia quản lý công việc của nhà nước, thể hiện tinh thần dân chủ hóa trong hoạt động tố tụng.
Điều 3 Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy
quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. Yêu cầu đặt ra là, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo
công khai, dân chủ. (Trừ trường hợp để bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn bí mật nhà nước, giữ gìn
đạo đức xã hội, toà án xét xử kín. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bản án, quyết định của Toà án
vẫn phải được công khai). Vì là một nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án nhân dân
mà không có Hội thẩm nhân dân tham gia thì sẽ không chỉ là vi phạm Luật tố tụng mà còn là vi
phạm Hiến pháp. Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của
Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng Pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân.
Pháp luật không chỉ quy định khi xét xử Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham
gia mà còn quy định khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, tức là Hội thẩm nhân dân
cùng Thẩm phán quyết định giải quyết mọi vấn đề của vụ án không kể về nội dung hay thủ tục tố
tụng. Mặc dù Hội thẩm không phải là cán bộ trong biên chế Tòa án mà là người của cơ quan, tổ chức
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bầu hoặc cử làm đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt
động xét xử của Tòa án, nhưng khi tham gia xét xử Hội thẩm lại ngang quyền với Thẩm phán, từ
việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết vụ án. Đây là điều
quan trọng để Hội thẩm nhân dân thực sự pháp huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân
của mình.

2


 Từ các khía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử
có Hội thẩm tham gia là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp
quyền. Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động
xét xử và tạo điều kiện cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng, chính
xác. Sự tham gia của Hội thẩm vào hoạt động xét xử là một trong những biểu hiện, hình thức quan
trọng của việc thực hiện nguyên tắc đó, là một trong những biểu hiện của dân chủ trong hoạt động tư


3


Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia phản ánh tư tưởng thu hút
sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử, nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận như sau:
- Thứ nhất, việc xét xử của tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội
thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử
tham gia vào hoạt động xét xử. Với kinh nghiệm sống của mình, cùng với kiến thức chuyên môn,
Hội thẩm góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật của vụ án. Hội thẩm là người trực tiếp làm
việc và tham gia sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ mang đến phiên tòa những suy nghĩ
và ý kiến quần chúng đối với vụ án góp phần giúp Tòa án xử lí vụ án chính xác. Với vốn hiểu biết
thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm
sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một
phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ. Tại Hội nghị học tập của ngành cán bộ Tư
pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết,
trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà
phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…". Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh
chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, hiển nhiên đòi hỏi những
người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và
nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xử có phán quyết đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có
kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội. Vì thế pháp luật quy định
khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia là sự bổ sung cần thiết cho những lĩnh vực đó. Hơn nữa,
Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hội thẩm có thể phản
ánh một cách khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng
nhân dân, chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy2.
Thực tế cho thấy những người được bầu làm Hội thẩm là những người có uy tín trong xã hội,
được quần chúng tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất định trong xã hội. Họ thường là những người có
lối sống gương mẫu, có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, nhân dân tin cậy vào
sự công minh và vô tư của họ. Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy tín của cơ quan xét xử ngày

thành Hội thẩm thì phải trải qua một khoá đào tạo, vượt qua kì thi vào nghề và được cấp chứng chỉ
hành nghề. Quy định hội thẩm viên nhân dân phải đạt các tiêu chuẩn sau đây: từ 23 tuổi trở lên; có
hạnh kiểm tốt; tôn trọng hiến pháp Trung Quốc; không có tiền án, tiền sự, có sức khỏe và trình độ
giáo dục thấp nhất là bậc cao đẳng.Hội thẩm viên tại Trung Quốc sẽ do Ủy ban Thường trực Hội
đồng nhân dân cấp quận, huyện bổ nhiệm với nhiệm kỳ năm năm. Những người đủ tư cách làm hội
thẩm viên có thể nộp đơn xin hoặc được các tổ chức chính quyền cấp quận huyện đứng ra giới thiệu.
III. Ý nghĩa của nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia trong tố tụng hình sự mang những ý
nghĩa rất quan trọng trong việc thể hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt
động xét xử.
- Thứ nhất, thực hiện tốt nguyên tắc này góp phần vào việc củng cố tốt mối quan hệ giữa Tòa
án với nhân dân, nâng cao tính chính xác, bảo đảm công minh trong công tác xét xử và góp phần vào
việc phòng ngừa và chống tội phạm.
- Thứ hai, nguyên tắc này nhằm phát huy tính dân chủ và trí tuệ tập thể trong công tác xét xử
để hội đồng xét xử đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Thứ ba, nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử, bởi việc tham gia của
Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân, đảm bảo phán quyết của Tòa án đi sát với thực tiễn.
- Thứ tư, việc xét xử có hội thẩm tham gia sẽ nâng cao uy tín của cơ quan xét xử. Thực tế cho
thấy những người được bầu làm Hội thẩm là những người có uy tín trong xã hội, được quần chúng
tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất định trong xã hội, họ thường là những người có lối sống gương mẫu,
có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, nhân dân tin cậy vào sự công minh và vô tư
5


của họ. Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy tín của cơ quan xét xử ngày càng được nâng cao và
được nhân dân tin cậy ủng hộ, đồng thời Hội thẩm còn đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên
truyền giáo dục pháp luật. Ngoài ra, trong nguyên tắc này còn có nội dung quy định quyền của Hội
thẩm ngang hang với Thẩm phán. Tuy rằng còn nhiều ý kiến trái chiều về quy định này nhưng chúng
ta không thể phủ nhận mặt tích cực của nó là thể hiện sự tôn trọng tối đa của Đảng và Nhà nước đối

hoạt động của Hội thẩm nhân dân chủ yếu dựa vào ý thức trách nhiệm công dân là chủ yếu. Do vậy,
cấn khắc phục tâm lý tham gia hoạt động theo kiểu “cầm chừng” hoặc không muốn tham gia.
6


- Thứ tư, quy định về chế độ nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm nhân dân cũng còn nhiều bất cập,
trong thời gian quá ngắn (kể từ khi Tòa án ra Quyết định xét xử thì Hội thẩm nhân dân mới chính
thức tham gia nghiên cứu, xét xử vụ án đó), hơn nữa đã là Hội thẩm nhân dân thì sẽ được tham gia
xét xử tất cả các loại án từ hình sự, dân sự, đến hành chính, kinh tế, lao động… Với trình độ. kiến
thức Pháp luật của Hội thẩm nhân dân như hiện nay, trong thời gian nghiên cứu hồ sơ ít hơn Thẩm
phán, thì Hội thẩm nhân dân không có đủ điều kiện để đánh giá hết các chứng cứ trong hồ sơ để có
quyết định đúng đắn về vụ án, nhất là đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp như án dân sự
về tranh chấp đất đai, thừa kế, những vụ án hình sự có nhiều bị cáo tham gia, hồ sơ dày đến hàng
trăm bút lục… Phải khẳng định rằng, việc xét xử các vụ án là hết sức phức tạp, đòi hỏi các thành
viên Hội đồng xét xử phải tinh thông nghiệp vụ, nắm chắc pháp luật, am hiểu xã hội. Đòi hỏi đặt ra
là như vậy, nhưng theo các quy định hiện hành về tiêu chuẩn để được bầu làm Hội thẩm nhân dân thì
nêu rất chung chung là “có kiến thức pháp lý”, vậy căn cứ vào đâu để đánh giá một người là có kiến
thức pháp lý? Với quy định chưa rõ ràng này việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân còn mang
tính cơ cấu và hình thức. Số Hội thẩm nhân dân có bằng cấp về pháp luật chiếm tỷ lệ rất thấp.
- Thứ năm, cơ chế tuyển chọn Hội thẩm còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng xét xử thiếu độc
lập, khách quan. Theo quy định tại pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002, Hội thẩm
được tuyển chọn dưới hình thức bầu hoặc cử. Về yêu cầu đối với Hội thẩm, Điều 37 khoản 2 Luật tổ
chức TAND năm 2002 quy định: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
CHXNCN VIệt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có
tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có sức khỏe để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ
được giao, thì có thể được bầu hoặc được cử làm Hội thẩm”. Theo quy định trên thì, để có thể trở
thành Hội thẩm chỉ cần có kiến thức pháp lý (và các tiêu chuẩn khác như nêu trên); còn đối với
Thẩm phán thì yêu cầu phải có trình độ cử nhân luật, phải được đào tạo về nghiệp vụ xét xử và phải
có năng lực làm công tác xét xử. Yêu cầu, đòi hỏi này cũng là lẽ đương nhiên. Cũng chính từ quy
định như vậy, nên hiện nay, trong số 11.409 Hội thẩm, có nhiều người đã tốt nghiệp đại học, nhưng

đối với các bản án bị hủy, cải, sửa thì e rằng không ai dám chấp nhận làm Hội thẩm nhân dân trong
một điều kiện với tiêu chuẩn, chế độ như hiện nay.
 Từ những vấn đề trên có thể thấy, chính sự thiếu thực tiễn trong quy định về chế định hội
thẩm nhân dân nên hội thẩm nhân dân là đối tượng có thể dễ bị các đối tượng tác động trong các vụ
án sơ thẩm. Dẫn đến việc thiếu tin tưởng vào hội thẩm nhân dân nói riêng và Hội đồng xét xử sơ
thẩm nói chung. Thực tế là hiện nay đa số các bản án sơ thẩm đều bị kháng cáo phúc thẩm. Điều này
dẫn đến những lãng phí vô cùng to lớn về thời gian và tiền bạc của xã hội. Bên cạnh đó, việc quy
định thiếu thực tiễn về chế định hội thẩm nhân dân đã làm cho nhiều hội thẩm nhân dân trở thành
những người thừa hành của Thẩm phán. Do khi tranh luận để nghị án, hội thẩm nhân dân thường là
người yếu thế hơn thẩm phán trong việc xác định pháp luật áp dụng nên họ sẽ để các thẩm phán tự
dẫn chiếu quy phạm và luật để áp dụng chứ chẳng dại gì tham gia vào đó.
Chính vì những lý do trên, việc xác định cho đúng vai trò và thành phần của các hội thẩm
nhân dân nên được các nhà làm luật quy định làm sao cho sát đòi hỏi của thực tế tránh những quy
định mang tính hình thức và những lãng phí về mặt xã hội.
V. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội
thẩm tham gia
Nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của hội thẩm trong quá trình tố tụng, nhóm
chúng em xin đưa ra một số giải pháp như sau:
- Thứ nhất, cần tiêu chuẩn hóa đội ngũ Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm nhân dân phải có trình
độ cử nhân Luật hoặc đã qua công tác pháp luật từ ba đến năm năm.
- Thứ hai, không ngừng nâng cao trình độ pháp lý cho Hội thẩm, cần có những chương trình
nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ xét xử cho Hội thẩm, thường xuyên
tổ chức những buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiêm giữa thẩm phán và Hội thẩm qua đó nhầm nâng
8


cao trình độ pháp lý cho Hội thẩm. Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật nhất định về định tội danh,
về quyết định hình phạt… những kiến thức này được bổ sung cho hội thẩm qua công tác tập huấn.
Kết hợp giữa tập huấn luật nội dung và kỹ năng xét xử. Hội thẩm cần được trang bị các bộ luật, các
nghị quyết của hội đồng thẩm phán và các thông tư có liên quan đến việc giải thích, hướng dẫn áp

ra các quy phạm, nhà nước cần phải ra những văn bản hướng dẫn giải thích về các điều luật cụ thể có
như vậy mới giúp Hội thẩm hiểu đúng tinh thần, nội dung điều luật từ đó áp dụng phù hợp vào quan
hệ pháp luật cần điều chỉnh.

9


- Cuối cùng, cần phải xem xét lại việc bổ nhiệm hội thẩm. Hội thẩm do nhân dân bầu chọn
một cách công khai dân chủ trên cơ sở lựa chọn những người có đủ tiểu chuẩn, năng lực tham gia xét
xử. Ngành tòa án cũng cần có sự quản lý chặt chẽ hơn đối với đội ngũ hội thẩm. Luật quy định “khi
xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán” nên chăng cũng cần quy định trách nhiệm của hội thẩm
giống thẩm phán khi xét xử oan sai hoặc có tiêu cực nhưng hiện tại hầu như hội thẩm không có bất
cứ trách nhiệm nào trước pháp luật về hoạt động xét xử của họ ngoài hình thức bãi miễn hoăc không
được đề nghị khen thưởng.
 Trên đây là một số giải pháp quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc “chế độ xét
xử có Hội thẩm tham gia”. Thực tế muốn cho hoạt động xét xử của Tòa án đạt kết quả cao cần phải
tiến hành đồng thời các biện pháp đó, có sự phối hợp chặt chẽ với nhau đảm bảo cho việc xét xử có
sự tham gìa của hội thẩm.

C. KẾT LUẬN
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định hội thẩm nhân dân là một trong
những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì,
hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của
Hội đồng xét xử là các hội thẩm nhân dân. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của hội thẩm
nhân dân trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm. Thực tế hiệu quả hoạt động của các hội
thẩm ở nước ta hiện nay là chưa đạt yêu cầu về mặt pháp lý cũng như về mặt xã hội. Với vai trò quan
trọng như vậy, việc nâng cao chất lượng, đảm bảo hiệu quả hoạt động của đội ngũ hội thẩm là một
yêu cầu cần thiết. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp ở nước ta nhằm hướng tới
một mục tiêu chung là củng cố hệ thống Toà án ngày càng vững mạnh, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status