đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
Lê Thị Hồng Hạnh
Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử-
những vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn thạc sĩ luật học
xử vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Việt Nam. Đây cũng là
một trong những điểm mới của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988.
Việc đảm bảo cho nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện trên thực
tế là một việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định của pháp
luật về xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, cũng như giám đốc thẩm và tái thẩm đã
xuất hiện một số vướng mắc nhất định, gây khó khăn cho các cơ quan tiến
hành tố tụng và gây thiệt hại cho những người tham gia tố tụng. Chẳng hạn,
về xét xử sơ thẩm, trong cùng một nội dung nhưng một số điều luật tại các
phần khác nhau trong BLTTHS năm 2003 chưa thực sự thống nhất với nhau,
ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, khiến họ 2
có những phản ứng trước các kết luận trong bản án, quyết định sơ thẩm, dẫn
đến bị cáo kháng cáo, VKS kháng nghị bản án. Trong khi đó các quy định của
pháp luật về xét xử phúc thẩm cũng còn nhiều hạn chế cần khắc phục.
Bởi vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện nguyên tắc này là một đòi
hỏi cấp bách trong tình hình hiện nay. Điều này không chỉ có ý nghĩa khoa
học và còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng.
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà việc áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử cũng còn nhiều bất cập, việc
kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của VKS nhiều khi không có căn cứ mà chỉ
nhằm trì hoãn, dây dưa, kéo dài việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật, phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội.
Từ thực tiễn trên đây đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu một cách
toàn diện những quy định của pháp luật về nguyên tắc hai cấp xét xử nhằm làm
sáng tỏ về mặt lý luận để áp dụng và thực hiện nghiêm chỉnh, hiệu quả nguyên
tắc này trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả, chất lượng giải quyết các vụ án hình
sự hiện nay, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
Với những lý do đã nêu trên, tôi chọn đề tài "Nguyên tắc thực hiện
- Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể sau:
+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nguyên tắc thực hiện chế độ
hai cấp xét xử trong luật tố tụng hình sự.
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những quy định của BLTTHS Việt Nam
về nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, đồng
thời đối chiếu, so sánh để tìm ra các mâu thuẫn và bất cập trong các quy định
đó. Riêng đối với cấp xét xử phúc thẩm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các
quy định của pháp luật về việc phúc thẩm đối với các bản án hình sự sơ thẩm.
+ Nghiên cứu, phân tích thực trạng áp dụng nguyên tắc thực hiện chế
độ hai cấp xét xử trong những năm gần đây nhằm tìm ra những khó khăn,
vướng mắc, tồn tại, bất cập khi vận dụng pháp luật. 4
+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong BLTTHS Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đây là đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những đường lối của
Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách nền tư pháp và
nền hành chính quốc gia, xây dựng một xã hội công bằng, pháp chế, văn minh
theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Nội dung của đề tài được làm sáng tỏ dựa trên cơ sở nghiên cứu các
văn bản pháp luật, các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định pháp luật có
liên quan đến nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử và những bài viết
trên các báo, tạp chí và các bản tổng kết của ngành Tòa án, VKS, cũng như
thực tiễn công tác của bản thân tác giả.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích,
tổng hợp, đối chiếu, so sánh và phương pháp thống kê. Những kết luận và đề
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Cơ sở của nguyên tắc hai cấp xét xử trong luật tố tụng hình sự
Nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam và các văn bản pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Quy
chế Rom về Tòa án hình sự quốc tế) xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, đối với nước ta đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay vẫn tiếp tục kiên định chủ trương xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Trong đó, mọi
hoạt động của cơ quan nhà nước dù ở cấp nào cũng được thực hiện trên cơ sở
pháp luật. Xây dựng nhà nước pháp quyền không có nghĩa là chỉ hoàn thiện tổ
chức quyền lực Nhà nước mà còn phải xây dựng tổng thể những nền tảng kinh
tế, chính trị, pháp lý, văn hóa, nhằm đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ văn minh. Do đó, thực hiện pháp luật tố tụng hình sự
theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi
hỏi phải đề cao nguyên tắc phản ánh được tính dân chủ, công bằng, nhân đạo và
pháp chế. Muốn đạt được như vậy, bên cạnh việc thực hiện các nguyên tắc như:
Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật…thì còn phải thực hiện nguyên tắc hai cấp xét
xử, vì nguyên tắc này là một bảo đảm cho quá trình tìm ra sự thật khách quan
của vụ án, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mọi tội
phạm đều phải bị trừng trị đích đáng theo qui định pháp luật đồng thời không
truy cứu oan người vô tội, tạo điều kiện cho các bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích
đó, bị cáo không thực hiện quyền này tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên tắc hai 8
cấp xét xử tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện quyền của mình tại phiên tòa
phúc thẩm, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo suy ngẫm, ăn năn hối cải, bồi
thường khắc phục hậu quả nhằm được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, kể
cả khi đã có bản án kết tội của Tòa án sơ thẩm. Điều đó thể hiện sự nhân đạo
của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ năm, nguyên tắc hai cấp xét xử đảm bảo sự phù hợp giữa pháp
luật quốc gia với pháp luật quốc tế trong hoạt động xây dựng pháp luật. Khi
xây dựng pháp luật, pháp lệnh, Quốc hội nước ta luôn ưu tiên cho việc ban
hành mới hoặc sửa đổi những qui định hiện hành sao cho phù hợp với Điều
ước quốc tế, Công ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập, đảm bảo cho các văn
bản pháp luật đó được thực hiện. Điều đó có nghĩa là khi Chủ tịch nước hay
người có thẩm quyền ký kết hoặc gia nhập Điều ước quốc tế, Công ước quốc
tế thì các văn bản pháp luật quốc tế này phải được xem là một bộ phận của
Pháp luật quốc gia. Và do đó, nó phải được tồn tại trong tổng thể thống nhất
và phối hợp với pháp luật trong nước. Do đó, việc qui định nguyên tắc hai cấp
xét xử trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng là một đảm bảo cho sự
phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày
16/12/1966 mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 trong đó qui định: "Bất cứ
người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xét
xử lại bản án và hình phạt đối với mình theo qui định pháp luật".
Theo tác giả, trên đây là những cơ sở, lý do cơ bản để pháp luật quốc
gia và các văn bản pháp luật quốc tế quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai
cấp xét xử là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc của luật tố
tụng hình sự
1.1.2. Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như lên hướng xử lý
vật chứng (nếu có) để đi đến các quyết định trong bản án.
Thứ hai, Bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm có thể bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của pháp luật. Tất cả các bản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị không loại trừ trường 10
hợp nào. Khi có kháng cáo, kháng nghị thì vụ án được xét xử ở cấp xét xử
phúc thẩm. Đây là cấp xét xử thứ hai và bao giờ cũng được tiến hành sau cấp
xét xử sơ thẩm nhằm sửa chữa những sai lầm trong việc xét xử của Tòa án
cấp sơ thẩm. Đối tượng của phúc thẩm là các bản án, quyết định sơ thẩm và
Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm phải là Tòa án cấp trên của Tòa án đã
xét xử sơ thẩm.
Như vậy, không phải tất cả các vụ án đều phải trải qua thủ tục sơ thẩm
và phúc thẩm mà chỉ những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị thì mới được xét xử ở cấp phúc thẩm. Đối với vụ án có kháng cáo, kháng
nghị thì bản án chưa được đưa ra thi hành ngay trừ trường hợp bị cáo đang bị
tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội,
miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là
tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng
hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của tòa án
được thi hành ngay (khoản 2 Điều 255) mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo,
kháng nghị, mục đích là đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, trả lại tự do cho bị cáo
nếu bị cáo không bị giam giữ về một hành vi khác.
Khi kháng cáo, kháng nghị thì tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển hồ sơ
cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử. Tuy nhiên, trước khi bắt đầu hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc VKS có quyền bổ sung, thay đổi kháng
cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, rút một
phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp rút toàn bộ
án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định
đó thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Giám đốc
thẩm, tái thẩm là hai hình thức của thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm và bị kháng nghị. Nó được thực
hiện sau khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không
phải là thủ tục nối tiếp của hai cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Vì vậy, giám
đốc thẩm và tái thẩm không được coi là cấp xét xử thứ ba. Việc kháng nghị
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét lại theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm thuộc về VKS, Tòa án. Người phạm tội có quyền kháng cáo 12
đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Việc kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm phải có các căn cứ quy định tại Điều 273, Điều 291 BLTTHS.
b) Phân biệt hai cấp xét xử với xét xử một cấp. Xét xử một cấp là chế
định về xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm, nghĩa là các bản án chỉ được
xét xử một lần là xét xử sơ thẩm. Cơ chế xét xử một cấp tồn tại từ sau Cách
mạng tháng Tám thành công, ngày 14-2-1946 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số
21/ SL về việc tổ chức Tòa án quân sự (TAQS) quy định: "Tất cả những vụ án
phản cách mạng đều được xét xử một lần và là chung thẩm", việc xét xử này
thuộc thẩm quyền của TAQS. Đây là văn bản đầu tiên xác định sự ra đời của
thủ tục xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Từ khi ra đời cho đến nay, thủ
tục này được quy định ở nhiều văn bản pháp luật tố tụng khác nhau cụ thể tại
Sắc lệnh số 19/SL ngày 16/2/1947 về tổ chức Tòa án binh trên toàn cõi Việt
Nam; Sắc lệnh số 45/SL ngày 24/4/1947; Sắc luật số 01 ngày 15 tháng 3 năm
1976; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 1981; Luật Tổ chức
TAND năm 1992 và BLTTHS năm 1988. Từ năm 1960, Tòa án có thẩm
quyền xét xử một lần (chung thẩm) thuộc về Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC). "Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đều là
chung thẩm và có hiệu lực pháp luật" (Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 1960).
bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời chung thẩm theo thủ tục phúc thẩm.
Xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm trong thời điểm nhất định đã
góp phần đáng kể vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đặc biệt là trong
hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và trong những năm đầu mới giành chính
quyền. Nó có ưu điểm là làm cho việc xét xử nhất là các vụ án trọng điểm, án
phức tạp nhanh chóng hơn, bản án đã tuyên đảm bảo được tính ổn định, tiết kiệm
được chi phí xét xử cũng như thời gian và công sức. Đặc biệt là phù hợp và có
hiệu quả đối với việc xét xử các phần tử phản cách mạng chống chính quyền
nhân dân, giải quyết dứt điểm các vụ án phản cách mạng đồng thời thể hiện được
quyền lực của chính quyền nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự
xã hội và ổn định kinh tế trong những ngày đầu của chính quyền còn non trẻ phải
tiếp quản một xã hội đầy khó khăn và tội phạm. Việc xét xử do TANDTC tiến
hành với đội ngũ Thẩm phán có trình độ chuyên môn sâu, có nhiều kinh nghiệm 14
nên chất lượng xét xử nhìn chung tốt, đảm bảo xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Song, xét về mặt đảm bảo quyền kháng cáo của người bị kết án nói
riêng, quyền con người nói chung thì thủ tục xét xử sơ thẩm đồng thời là chung
thẩm cần được xem xét lại. Điều này xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, nếu như nguyên tắc hai cấp xét xử bảo đảm bản án quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định
của pháp luật, điều này có nghĩa là tất cả các bản án, quyết định của Tòa án sơ
thẩm đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị không loại trừ bất kỳ trường hợp
nào đối với bất kỳ bị cáo nào phạm tội vào bất kỳ loại tội nào kể cả tội ít
nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Trong khi đó, đối tượng của xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm trước đây
chỉ là đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, do đó, mức hình phạt
tuyên đối với bị cáo thường rất nặng, thậm chí tù chung thân hoặc tử hình mà
người bị kết án lại không có quyền kháng cáo, trong khi người phạm tội ít
BLTTHS năm 2003 với những nội dung cơ bản như đã nêu trên thể hiện sự
tiến bộ trong lập pháp của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
1.1.3. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nguyên tắc cơ bản của
Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nguyên tắc vốn được hiểu là "những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm
cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc" [44, tr. 1217].
Do đó, có thể khẳng định nguyên tắc là cái không thể thiếu trong hoạt
động thực tiễn của con người, đảm bảo cho những hoạt động đó đi đúng
hướng và đạt hiệu quả.
Tố tụng hình sự, với tư cách là hoạt động pháp luật của các cơ quan
nhà nước được giao nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm phải tuân theo
những nguyên tắc nhất định. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguyên tắc
của luật tố tụng hình sự có thể được định nghĩa "là tư tưởng chủ đạo và là
định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như
trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự
thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó" [1, tr. 3] 16
Hoạt động xét xử là quy trình Tòa án áp dụng luật vào việc xử lý hành
vi phạm tội nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế, chính trị-xã
hội, bảo vệ trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nó là
hoạt động trọng tâm của hoạt động tố tụng nói riêng và hoạt động tư pháp nói
chung nên cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của các nguyên tắc luật tố
tụng hình sự mà đặc trưng là nguyên tắc thực hiện cơ chế hai cấp xét xử.
Cấp xét xử được hiểu với nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm
cho rằng cấp xét xử là giai đoạn xem xét lại vụ án tại Tòa án với thẩm quyền
xác định. Theo khái niệm này thì cấp xét xử đơn thuần là khái niệm tố tụng
chung, thể hiện một giai đoạn xét xử trong quy trình giải quyết vụ án hình sự.
Xuất phát từ đây, người ta cho rằng trong pháp luật tố tụng hình sự có các cấp
làm luật xác định là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam
và đã được quy định tại một điều luật cụ thể - Điều 20 Chương II "Những
nguyên tắc cơ bản" BLTTHS năm 2003. Bàn về các nguyên tắc cơ bản của
BLTTHS Việt Nam, một số tác giả cho rằng: Nguyên tắc cơ bản của luật tố
tụng hình sự là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số
giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình xây dựng và áp dụng
pháp luật tố tụng hình sự. Nói một cách cụ thể hơn, đó là những nguyên tắc
chi phối hoặc là tất cả các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án hoặc chí ít cũng là một số giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Như vậy, nếu theo quan điểm này thì nguyên tắc thực hiện chế độ hai
cấp xét xử chỉ là nguyên tắc đặc trưng của giai đoạn xét xử chứ không phải là
nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quan điểm cuả tác giả
cho rằng với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của nó đã được nhà làm luật
xác định tại Điều 20 Chương II, chúng ta có thể khẳng định nguyên tắc hai
cấp xét xử là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về nguyên tắc hai
cấp xét xử như sau:
Nguyên tắc hai cấp xét xử là những tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc
chung trong hoạt động xét xử, được quy định trong Luật tố tụng hình sự, đảm
bảo mọi vụ án đều có thể được xét xử theo hai cấp là cấp sơ thẩm và cấp 18
phúc thẩm nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, để Tòa án xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng
cách yêu cầu Tòa án cấp trên xét lại bản án.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử như sau:
Trước hết, nguyên tắc hai cấp xét xử là tư tưởng chủ đạo, định hướng,
Thực tế, khi xây dựng hệ thống các nguyên tắc của một ngành luật
tương ứng nào đó, quan điểm được thừa nhận chung là nhà làm luật nên ghi
nhận các nguyên tắc có liên quan trực tiếp đến các quan hệ xã hội trong lĩnh
vực cần điều chỉnh. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp tố tụng hình sự còn ghi
nhận cả những nguyên tắc tổ chức và hoạt động trong các cơ quan tư pháp.
Nguyên tắc hai cấp xét xử là một ví dụ. Đây là nguyên tắc đặc trưng của giai
đoạn xét xử. Có thể nói, trong toàn bộ các nguyên tắc tố tụng hình sự, các
nguyên tắc về xét xử được nhà làm luật quan tâm hơn cả, ngay cả các nhà lập
hiến cũng quan tâm đến vấn đề này khi qui định về tổ chức và hoạt động của
cơ quan xét xử trong bộ máy nhà nước bởi vì xét xử - hoạt động tố tụng của
Tòa án được coi là hoạt động trọng tâm của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự,
nói cách khác xét xử hình sự là quá trình thể hiện một cách tập trung tính chất
hệ thống tố tụng hình sự. Không phải ngẫu nhiên các nhà khoa học về tố tụng
hình sự dùng hình tượng cái chóp của hình nón hoặc đỉnh của kim tự tháp để
chỉ hoạt động xét xử. Pháp luật của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
quy định nguyên tắc tố tụng hình sự xoay quanh hoạt động xét xử. Ở nước ta
cũng vậy, đó là các nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân
tham gia (Điều 15), nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật (Điều 16), nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể (Điều 17), nguyên
tắc xét xử công khai (Điều 18), nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
(Điều 20), nguyên tắc giám đốc việc xét xử (Điều 21). Xét trong BLTTHS
Việt Nam, nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc có vị trí rất quan trọng, là
nguyên tắc đặc trưng của giai đoạn xét xử và là nguyên tắc cơ bản. Xét trong
hệ thống các nguyên tắc của BLTTHS Việt Nam, nguyên tắc hai cấp xét xử có 20
mối liên hệ hữu cơ với các nguyên tắc khác, chúng bổ sung cho nhau, hỗ trợ
lẫn nhau, tạo thành một hệ thống. Mỗi nguyên tắc đều có vai trò độc lập
tương đối, song ý nghĩa đầy đủ của nó chỉ có thể xác định trong mối liên hệ
rằng giới hạn về cấp xét xử của Tòa án là hai cấp là cấp sơ thẩm và cấp phúc
thẩm. Quy định này nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật được thi hành nhanh chóng, kịp thời, hạn chế việc trì hoãn, kéo dài việc
thi hành án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Thứ ba, bên cạnh việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử của Tòa án, luật
tố tụng hình sự còn quy định việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật nhằm kiểm tra tính có căn cứ của bản án, quyết định sau khi có hiệu
lực pháp luật.
Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và của Tòa án
nói riêng cũng là hoạt động của con người, do đó không thể không có sự sai sót.
Việc xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật để khắc phục những sai sót đó là việc làm cần thiết.
1.3. NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ TRONG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
* Giai đoạn sau năm 1945 - 1960
Ở giai đoạn này hệ thống Tòa án được tổ chức theo sắc lệnh số 13/SL
ngày 21/1/1946 về "tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán". Nhưng những
qui định về hoạt động của nó lại được qui định theo sắc lệnh khác là sắc lệnh
số 51/SL ngày 17/4/1946 "ấn định thẩm quyền của các Tòa án và sự phân
công giữa các nhân viên trong Tòa án". Theo sắc lệnh này các cấp xét xử
bước đầu được hình thành. Điều thứ 5 sắc lệnh số 51/SL qui định: "về hình
sự, Tòa án sơ cấp có quyền xử:
A- Chung thẩm:
1- Những án phạt bạc từ 0đ 50 đến 9đ 00;
2- Những án xử bồi thường từ 150đ trở xuống do nguyên cáo bị thiệt
hại trong vụ vi cảnh thỉnh cầu trong đơn khiếu hay chậm nhất, lúc việc vi
cảnh đem ra phiên tòa xử. 22
lý của cơ chế này không chỉ khác trong phạm vi một quốc gia mà còn có tính
thống nhất trong phạm vi quốc tế.
* Giai đoạn từ năm 1960 - 1981
Hiến pháp 1959 và tiếp đến là Luật Tổ chức TAND năm 1960 đã bắt
đầu ghi nhận nguyên tắc Tòa án xét xử hai cấp. Điều 9 Luật Tổ chức TAND
năm 1960 qui định:
Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử.
Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Tòa
án nhân dân xử sơ thẩm lên Tòa án nhân dân trên một cấp.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và trên một cấp có quyền
kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân.
Nếu đương sự không chống án hoặc Viện kiểm sát nhân dân
không kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì bản án
hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân địa phương sẽ có
hiệu lực pháp luật.
Bản án và quyết định phúc thẩm của các Tòa án nhân dân,
bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đều là
chung thẩm và có hiệu lực pháp luật [14].
Như vậy cũng như thời kỳ trước, các bản án, quyết định sơ thẩm sau
khi tuyên án thì chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo,
kháng nghị trong một thời hạn nhất định do luật định. Việc xét xử lại thuộc
thẩm quyền của các Tòa án cấp trên một cấp và được gọi là cấp phúc thẩm
(thời kỳ trước gọi là chung thẩm). Thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
về cơ bản cũng không khác.
Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm:
- Điều 16 Luật Tổ chức TAND năm 1960 qui định: TAND cấp huyện
xử "sơ thẩm những vụ án hình sự và dân sự do pháp luật qui định thuộc thẩm
quyền của các Tòa án đó".