1
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
trần xuân huệ
Trả hồ sơ để Điều tra bổ sung của toà án cấp sơ thẩm
những vấn đề lý luận và thực tiễn
CHUYÊN Ngành: Luật hình sự
Mã số: 60.38.40 luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS, Phạm mạnh hùng hà Nội 2009
1.3.1.Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà Liên bang
Đức 20
1.3.2. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga 23
1.3.2. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa 26
CHƢƠNG 2 29
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ VIỆC
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM 29
2.1. Những căn cứ ( các trƣờng hợp ) Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 29
2.1.1. Các căn cứ pháp luật và thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung 45
2.1.2. Thủ tục Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 46
2.2. Việc giải quyết của Viện kiểm sát sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ
sung 50
2.3. Thời hạn chuẩn bị xét xử của Toà án sau khi trả hồ sơ để điều tra bổ
sung 52
CHƢƠNG 3 54
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ
SUNG CỦA TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM ( TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ, KHẮC PHỤC NHẰM HẠN CHẾ VIỆC
TRẢ LẠI HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 54
3.1. Thực trạng áp dụng các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà
án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Thành phố Hà nội ) 54
3.1.1. Tình hình Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung 54
3
3.1.2. Lý do Toà án các Quận, Huyện thuộc Thành phố Hà nội trả hồ sơ để
điều tra bổ sung 57
3.1.3. Nguyên nhân của tình trạng Toà án trả hố sơ để điều tra bổ sung 65
3.3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ
sung 68
NĐ Nghị Định
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
TAND Tòa án nhân dân
TTLT Thông tƣ liên tịch
XHCN Xã hội chủ nghĩa
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.Bảng thống kê các vụ án do Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra
bổ sung ( trên toàn quốc).
2. Bảng thống kê các vụ án do Toà án cấp sơ thẩm trên địa bàn Thành Phố Hà
Nội trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung ( từ năm 2003 - 2007).
tội phạm hiện nay.
Trong những năm qua, hoạt động tƣ pháp của các cơ quan tƣ pháp đã
có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên vẫn còn tình trạng việc áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự trong việc giải quyết các vụ án không đúng và không thống
nhất cũng nhƣ việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong đó
có chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng
còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến việc giải quyết vụ án còn kéo dài gây lãng
7
phí thời gian, công sức, tài sản của Nhà nƣớc và làm ảnh hƣởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân.
Việc nghiên cứu một cách hệ thống những quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự hiện hành về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ
thẩm ( trên địa bàn Hà Nội giai đoạn từ năm 2003 đến 2007 ), nhằm đối chiếu
với thực tế và đƣa ra những kiến nghị, giải pháp góp phần giải quyết hạn chế
tình trạng trên là rất cần thiết.
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Cho đến nay, chƣa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách đầy đủ và có hệ thống về vấn đề này. Một số bài viết trong các sách, báo
pháp lý có đề cập đến vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhƣ bài viết “
Những trƣờng hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 179
BLTTHS”. Tạp chí TAND số 5 tháng 3 năm 2006 của tác giả Nguyễn Đức
Dũng;. “ Một số ý kiến về việc áp dụng quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
trong BLTTHS năm 2003”. Tạp chí TAND số 6 tháng 3 năm 2006 của tác giả
Nguyễn Minh Đức. Song các bài viết đó mới đề cập, xem xét đến các trƣờng
hợp Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhƣng chƣa giải quyết đƣợc vấn đề
tổng thể về lý luận và thực tiễn cũng nhƣ chƣa đƣa ra đƣợc những giải pháp
thực hiện trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự.
1.3. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
1.3.1. Phạm vi nghiên cứu
nhân dân tối cao và các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn Hà Nội.
1.6. Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của Pháp
luật Tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung của
Tòa án cấp sơ thẩm và phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình
9
sự trong việc giải quyết các vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa
bàn thành phố Hà nội từ năm 2003 – 2007. Từ kết quả nghiên cứu luận văn,
tác giả đƣa ra những giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự và pháp luật tố tụng hình sự nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều
tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam.
1.7. Kết cấu của Luận văn
Luận văn đƣợc xây dựng dựa trên mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu của đề tài, theo đó cơ cấu của luận văn bao gồm:
- Chƣơng 1: Những vấn đề chung về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
- Chƣơng 2: Những Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về
việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm.
- Chƣơng 3: Thực trạng áp dụng các quy định về trả hồ sơ để điều tra
bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Thành phố Hà Nội ) và một số
giải pháp kiến nghị, khắc phục nhằm hạn chế việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ
sung.
- Kết Luận.
- Danh mục tài liệu tham khảo.
- Phụ lục.
phán hoặc Hội đồng xét xử có thể ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, quyết định này do Thẩm phán đƣợc phân
công thụ lý vụ án ban hành, nếu tại phiên toà mới phát hiện ra các căn cứ quy
11
định tại khoản 1 Điều 179 BLTTHS thì việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung do
Hội đồng xét xử quyết định.
- Chủ thể tiếp nhận hồ sơ Toà án trả để điều tra bổ sung là Viện Kiểm sát
nơi ra quyết định truy tố.
- Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Toà án cấp sơ thẩm chỉ đƣợc trả hồ
sơ cho Viện Kiểm sát khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 179
BLTTHS.
Để tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án, Toà án chỉ trả lại hồ sơ
để điều tra bổ sung nếu xét thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng có ý
nghĩa quyết định đến nội dung vụ án mà Toà án không bổ sung đƣợc tại phiên
toà. Ví dụ, những chứng cứ liên quan đến việc định tội hoặc ảnh hƣởng đến
trách nhiệm hình sự và hình phạt của bị cáo.
Nếu xác định có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc vụ án
có đồng phạm khác thì tuỳ từng trƣờng hợp nếu thấy việc trả lại hồ sơ không
cần thiết thì vẫn tiến hành xét xử. Ví dụ, có căn cứ xác định ngoài hành vi
phạm tội của bị can đã bị điều tra, truy tố còn có căn cứ để xác định bị can
phạm một tội khác mà việc điều tra, truy tố về tội đó không thể hoàn thành
sớm đƣợc, đồng thời tội đó độc lập với hành vi phạm tội đã đƣợc điều tra,
truy tố thì vẫn tiến hành xét xử đối với tội mà Viện kiểm sát có quyết định
truy tố, đối với tội mới phát hiện thì Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ
án hoặc có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra khởi tố giải quyết bằng một vụ
án khác.
Đối với trƣờng hợp có vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra,
truy tố. Hiện nay cũng chƣa có văn bản nào quy định, hƣớng dẫn thế nào là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy,
cấp sơ thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà quyết định trả
lại hồ sơ hình sự cho Viện Kiểm sát nơi ra quyết định truy tố để điều tra bổ
13
sung nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố để đảm
bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện và đúng
các quy định của pháp luật”.
1.2. Những quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án
cấp sơ thẩm trong các giai đoạn phát triển của pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo ra một bƣớc
ngoặt lớn cho đất nƣớc ta, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa đƣợc thành
lập. Tuy nhiên, do mới hình thành nên bộ máy cơ quan nhà nƣớc Việt Nam
nói chung và các cơ quan tƣ pháp nói riêng đều thiếu và yếu. Trong khi đó,
tình hình chính trị và an ninh trật tự của đất nƣớc diễn biến phức tạp, đòi hỏi
phải thành lập kịp thời hệ thống Toà án nhân dân và Toà án quân sự để xét xử
các vụ án hình sự. Bên cạnh hệ thống Toà án nhân dân thì Viện công tố cũng
đƣợc thành lập. Lúc đó hoạt động xét xử tuân theo sắc lệnh số 13/SL ngày 24.
01.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành.
Theo quy định tại Điều 17 của Sắc lệnh thì Toà án sơ cấp ( quận, huyện)
xét xử về dân sự và thƣơng sự, Chánh án xử một mình. Những khi xử các việc
tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm Nhân dân góp ý kiến. Toà án xét xử
những vụ việc do Ban tƣ pháp xã lập biên bản đệ lên. Mặc dù đã có Viện công
tố nhƣng Viện công tố chỉ lập Cáo trạng ở phiên toà Đại hình. Do đó không
có quy định về việc Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở Toà án sơ cấp
Cùng với việc cải cách bộ máy các cơ quan hành chính nhà nƣớc, hệ
thống Toà án tƣ pháp cũng đƣợc kiện toàn. Sắc lệnh số 85 ngày 25/5/1950
quy định đổi tên các Toà án sơ cấp, đệ nhị cấp, thƣợng thẩm thành TAND
huyện, TAND tỉnh, TAND liên khu. Theo Sắc lệnh 150/SL ngày 22/11/1950
thì TAND liên khu là sự hợp nhất giữa Toà Thƣợng thẩm và Toà án quân sự.
15
1. “ Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát để điều tra
bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a. Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
không thể bổ sung tại phiên toà được;
b. Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng
phạm khác;
c. Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định
yêu cầu điều tra bổ sung.
2. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện Kiểm sát
ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết.
Trong trường hợp Viện Kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà
Toà án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn
tiến hành xét xử”.
Điều 173 BLTTHS năm 1988 quy định: Việc ra bản án và các quyết định
của Toà án
“1
2. Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát
viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký Toà án, chuyển vụ án, yêu
cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam
hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
và phải được lập thành văn bản”.
Để việc áp dụng các quy định của pháp luật đƣợc thống nhất trong hoạt
động thực xét xử cho các Toà án cấp dƣới. Ngày 8-12-1988, Toà án nhân dân
16
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tƣ liên ngành số 01/
TTLN “ Hƣớng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự ”
tra bổ sung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS thì một trong các
quyết định mà Hội đồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
là quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Điều đó có nghĩa là, tại phiên toà khi
xét thấy có một trong các trƣờng hợp quy định tại khoản 1 Điều 154
BLTTHS thì Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173 BLTTHS để ra
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”.
Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định các căn cứ để
Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đối chiếu với quy định tại Điều 154
BLTTHS năm 1988 thì quy định tại Điều 179 trong BLTTHS năm 2003 cơ
bản không có gì thay đổi, chỉ khác nhau ở một số từ nhƣ: “Những vấn đề cần
điều tra bổ sung phải đƣợc nói rõ trong quyết định yêu cầu bổ sung”
(BLTTHS 2003 sửa “nói rõ” thành “nêu rõ”), “nếu kết quả điều tra bổ sung
dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và
báo cho Toà án biết” (BLTTHS 2003 sửa “báo” thành “thông báo”) và đoạn
cuối của Điều 179 bổ sung thêm cụm từ “vụ án”. Điều 199 thay đổi cụm từ “
viết ” bằng cụm từ “ lập” tại khoản 3. Việc giữ nguyên nội dung và chỉ sửa
đổi câu chữ trong các điều luật cho thấy quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ
sung của Tòa án mang tính ổn định và phù hợp với thực tiễn xét xử của nƣớc
ta. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là việc áp dụng chúng trong hoạt động
tố tụng không có vƣớng mắc gì. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thời gian
qua cho thấy còn nhiều vụ án Viện kiểm sát trả cho Cơ quan điều tra, Toà án
trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Trong số hồ sơ bị trả lại,
không ít trƣờng hợp sau khi nhận lại hồ sơ, Viện kiểm sát lại chuyển ngay hồ
sơ sang Toà án, thậm chí có vụ hồ sơ bị trả, nhận lại nhiều lần. Tình trạng trên
làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây lãng phí thời gian, công sức và
tiền bạc, làm ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những ngƣời tham
gia tố tụng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của việc trả, nhận lại hồ sơ
mà không điều tra bổ sung là do nhận thức không thống nhất của các Cơ quan
18
19
phần với khoảng gần 470 điều quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong
trình tự tố tụng giải quyết vụ án hình sự của CHLB Đức.
Thẩm quyền xét xử của Toà án đƣợc quy định dẫn chiếu tại Điều 1,
theo đó nêu ngắn gọn: Thẩm quyền xét xử của các Toà án sẽ đƣợc Luật tổ
chức Toà án quy định. Tố tụng ở cấp sơ thẩm đƣợc quy định tại Phần hai từ
Điều 151 đến Điều 295, bao gồm các quy định về điều tra, truy tố và xét xử
sơ thẩm.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm (hay còn gọi là giai đoạn tố tụng chính) bắt
đầu khi công tố viên chuyển sang Toà án bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và đơn đề
nghị đƣa vụ án ra xét xử (Điều 199 - Quyết định mở thủ tục chính thức).
Trƣớc khi Toà án quyết định mở thủ tục chính thức, Toà án có thể yêu cầu thu
thập chứng cứ riêng biệt để làm rõ vụ án. Quyết định này của Toà án không bị
khiếu nại ( Điều 202 - Điều tra bổ sung ).
Cơ quan thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của Toà án là Viện công tố.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự thì Viện công tố của
Cộng hoà Liên bang Đức không trực tiếp tiến hành điều tra, bổ sung chứng cứ
mà Viện công tố chỉ đạo tiến trình tiền xét xử và đƣa ra các mệnh lệnh cho
cảnh sát để tiến hành hoạt động điều tra theo yêu cầu của Toà án. Sau khi điều
tra bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của Toà án thì Viện công tố chuyển toàn bộ
tài liệu đó cho Toà án. Sau đó Toà án có thẩm quyền sẽ quyết định liệu có đƣa
vụ án ra xét xử hay tạm thời đình chỉ (từ chối xét xử). Về nguyên tắc Toà án
sẽ quyết định xét xử vụ án khi thấy có đủ lý do để nghi ngờ bị can bị truy tố
đã thực hiện tội phạm (Điều 203 - Điều kiện mở thủ tục chính thức ). Tất
nhiên điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào các nhận định, đánh giá của Toà án
trên cơ sở chứng cứ do các bên đƣa ra trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở
phiên toà (các căn cứ thực tế). Toà án không có nghĩa vụ bắt buộc phải hành
động theo đơn của công tố viên trong việc đƣa ra các quyết định của mình
(Điều 206 – Yêu cầu không bắt buộc ). Tuy nhiên, Luật quy định cụ thể các
căn cứ để Toà án tạm thời đình chỉ tố tụng (các căn cứ pháp lý), đó là khi
21
Một điểm đáng lƣu ý nữa trong giai đoạn tiền xét xử là Thẩm phán của
Đức khi tham gia tiến hành tố tụng có các chức năng khác nhau trong giai
đoạn tiền xét xử và xét xử. Ở giai đoạn điều tra, Thẩm phán tiền xét xử ( chứ
không phải là công tố viên) thực hiện chức năng kiểm soát đối với các cơ
quan có chức năng điều tra. Bất chấp vai trò chỉ đạo của công tố viên đã đƣợc
Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì công tố viên không thể ra tất cả các mệnh
lệnh áp dụng các biện pháp cƣỡng chế và hầu hết thẩm quyền áp dụng các
biện pháp cƣỡng chế tố tụng nghiêm khắc nhất thuộc về Thẩm phán tiền xét
xử. Thẩm phán có quyền xem xét tính hợp pháp của các biện pháp do Công tố
viên áp dụng chứ không chỉ xem xét tính cần thiết của các biện pháp đó. Tuy
nhiên, thẩm phán không có quyền thực hiện điều tra tƣ pháp. Nếu thông tin
mà thẩm phán yêu cầu chƣa đƣợc đáp ứng đủ thì Thẩm phán phải đề nghị
cảnh sát hoặc Công tố viên cung cấp thêm bằng chứng.
Khác với luật tố tụng Việt Nam, các quy định liên quan đến xét xử vụ
án hình sự của Toà án tại phiên toà đƣợc quy định ở phần thủ tục xét xử. Bộ
luật tố tụng hình sự CHLB Đức quy định về các quyết định và thông báo của
Toà án ( Chƣơng IV ) ở phần những quy định chung. Bên cạnh đó, Luật tố
tụng hình sự của Liên bang Đức không quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ
tục và các căn cứ để Toà án trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung cho
Viện công tố cũng nhƣ quy định thời gian Viện công tố phải hoàn thành hồ
sơ điều tra bổ sung.
1.3.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga.
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga đƣợc ĐuMa quốc gia thông qua
ngày 22/11/2001 và đƣợc Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 5/12/2001. Bộ
luật gồm 18 Chƣơng 473 Điều. Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền xét xử
của Toà án đƣợc quy định tại Mục 5 Chƣơng II – Các chủ thể tham gia tố
tụng hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng Liên bang Nga thì Toà án
không phải là cơ quan truy tố hình sự không thuộc bên buộc tội hoặc bên bào
hợp quy định tại Điều 237 Bộ luật này.
23
Điều 236 quy định - Những quyết định do Thẩm phán ban hành khi
kiểm tra sơ bộ
1. Căn cứ kết quả thẩm tra sơ bộ Thẩm phán ra một trong những quyết
định sau:
1)
2) Về việc trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên
2. Phán quyết của Thẩm phán thể hiện dƣới hình thức bản quyết định
phù hợp với những yêu cầu quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật này.
Điều 237 quy định - Trả hồ sơ cho Kiểm sát viên
1.Thẩm phán tự mình hoặc theo yêu cầu của một trong các bên trả lại
hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên để khắc phục những trở ngại trong việc xét xử
của Toà án trong những trƣờng hợp , nếu:
1) Việc lập Cáo trạng hoặc quyết định truy tố vi phạm những quy
định của Bộ luật này dẫn đến Toà án không có khả năng ra bản án hoặc quyết
định dựa trên cơ sở bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố đó.
2) Bản sao bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố không đƣợc giao
cho bị can
3) Cần thiết phải lập bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố và chuyển
cho Toà án kèm theo quyết định biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Trong những trƣờng hợp quy định tại khoản 1 điều này Thẩm phán
giao trách nhiệm cho Kiểm sát viên trong thời hạn 5 ngày phải bảo đảm khắc
phục những vi phạm
3. Trong trƣờng hợp trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên, Thẩm phán
quyết định vấn đề về biện pháp ngăn chặn đối với bị can
Khoản 2 Điều 238 quy định - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
1.Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án:
1) Trong trƣờng hợp bị can bỏ trốn và không biết đƣợc họ đang ở đâu
lực thi hành kể từ ngày 1/1/1997. Bộ luật bao gồm 4 phần. Phần thứ 1: Những
quy định chung gồm 9 Chƣơng 82 Điều; Phần thứ 2: Khởi tố vụ án, Điều tra