nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 37
ThS. Phan Thanh Mai *
heo quy định của Điều 154 BLTTHS,
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm
phán đợc phân công chủ toạ phiên toà ra
quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung
trong những trờng hợp sau đây:
- Khi cần xem xét thêm những chứng cứ
quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ
sung tại phiên toà đợc;
- Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm
một tội khác hoặc có đồng phạm khác;
- Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng.
Khi quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra
bổ sung, thẩm phán cần chú ý một số vấn đề:
Chỉ trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với
những trờng hợp thật cần thiết mà nếu
không điều tra bổ sung có thể ảnh hởng rất
lớn đến việc định tội danh, quyết định hình
phạt, bỏ lọt ngời, lọt tội hoặc ảnh hởng
nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bị can
và những ngời tham gia tố tụng khác.
Trờng hợp tòa án có thể khắc phục đợc
thiếu sót và thuộc thẩm quyền của tòa án nh
điều tra bổ sung theo yêu cầu của tòa án thì
tòa án phải căn cứ vào tài liệu đ có trong hồ
sơ vụ án mà giải quyết. Nếu vụ án đợc đa
ra xét xử tại phiên tòa thì căn cứ vào kết quả
điều tra tại phiên tòa mà kết luận về vụ án.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình
chỉ vụ án thì viện kiểm sát quyết định đình
T
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
38 - Tạp chí luật học
chỉ vụ án và báo cho tòa án biết.
(1)
Thời hạn điều tra bổ sung theo yêu cầu
của tòa án không quá một tháng, tính từ khi
cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ và yêu cầu
điều tra bổ sung. Sau khi nhận lại hồ sơ,
trong thời hạn 15 ngày, thẩm phán phải ra
quyết định đa vụ án ra xét xử.
Nh vậy, về vấn đề tòa án ra quyết định
trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung đ đợc
quy định cụ thể tại Điều 154 BLTTHS, ngoài
ra còn đợc quy định ở một số điều luật khác
nh tại khoản 2 Điều 98 BLTTHS quy định
một tháng kể cả hai lần điều tra bổ sung
nhng cũng có thể hiểu rằng thời hạn một
tháng là thời hạn đợc quy định cho mỗi lần
điều tra bổ sung.
Trớc khi sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa
đổi bổ sung một số điều của BLTTHS đợc
Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000, Điều 98
BLTTHS không quy định về việc tòa án có
trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hai lần, vì
vậy, thời hạn điều tra bổ sung đợc quy định
trong Điều 98 đợc hiểu là thời hạn cho một
lần điều tra bổ sung. Trên thực tế áp dụng
pháp luật từ trớc đến nay cũng đều áp dụng
thời hạn điều tra bổ sung là một tháng cho
mỗi lần điều tra bổ sung (trờng hợp do tòa
án trả lại để điều tra bổ sung). Để tránh việc
điều luật có thể bị hiểu sai, theo chúng tôi,
cần phải thêm cụm từ mỗi lần vào trớc
cụm từ không quá hai tháng và không quá
một tháng. Cụ thể: Trong trờng hợp vụ án
do viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung
thì thời hạn điều tra bổ sung mỗi lần không
quá hai tháng; nếu do tòa án trả lại để điều
tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung mỗi
lần không quá một tháng. Viện kiểm sát hoặc
tòa án chỉ đợc trả lại hồ sơ để điều tra bổ
sung không quá hai lần .
Thứ hai, về cách tính thời hạn điều tra bổ
sung, khoản 2 Điều 98 BLTTHS quy định:
Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày cơ
số quy định của BLTTHS về lí lịch của bị
can, bị cáo quy định: Trong trờng hợp hồ
sơ vụ án đ chuyển sang tòa án, nếu viện
kiểm sát thấy cần phải thay đổi hoặc bổ sung
cáo trạng do việc mới nhận đợc tài liệu về lí
lịch của bị can thì viện kiểm sát đề nghị tòa
án ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm
sát Đối với các trờng hợp tòa án trả hồ
sơ yêu cầu điều tra bổ sung và viện kiểm sát
tự mình tiến hành điều tra bổ sung nh đ
nói ở trên thì thời hạn điều tra bổ sung phải
đợc tính từ ngày viện kiểm sát nhận lại hồ
sơ và yêu cầu điều tra bổ sung mà không thể
tính từ ngày cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ
và yêu cầu điều tra nh luật quy định. Theo
chúng tôi, cần phải bổ sung nh sau: Thời
hạn điều tra bổ sung tính từ ngày cơ quan
điều tra hoặc viện kiểm sát nhận lại hồ sơ vụ
án và yêu cầu điều tra.
Thứ ba, về việc áp dụng, thay đổi hoặc
huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn trong thời hạn
điều tra bổ sung. Khoản 4 Điều 98 BLTTHS
quy định: Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ
sung, điều tra lại, cơ quan điều tra có quyền
áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp
ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này.
Trong quy định này không đề cập việc viện
kiểm sát đợc quyền áp dụng, thay đổi, huỷ
bỏ biện pháp ngăn chặn khi điều tra bổ sung
(vấn đề này cũng không đợc đề cập ở bất kì
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình
chỉ vụ án thì viện kiểm sát ra quyết định đình
chỉ vụ án và báo cho tòa án biết. Quy định
này không đề cập việc viện kiểm sát ra quyết
định tạm đình chỉ vụ án khi có những căn cứ
do luật định. Trong thực tế, khi viện kiểm sát
điều tra bổ sung, có thể xảy ra những trờng
hợp bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm
nghèo khác mà có chứng nhận của hội đồng
giám định pháp y hoặc trờng hợp bị can bỏ
trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu.
Trong những trờng hợp này, việc tiếp tục
tiến hành điều tra là không thực hiện đợc,
cần phải tạm đình chỉ vụ án. Vì vậy, theo ý
kiến của chúng tôi cần quy định thêm về việc
viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ
án trong khi điều tra bổ sung. Cụ thể, khoản
2 Điều 154 BLTTHS cần quy định nh sau:
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình
chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án thì viện
kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc
tạm đình chỉ vụ án và báo cho tòa án biết./.
(1). Xem: Thông t liên ngành số 01/TTLN ngày
8/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hớng dẫn thi hành một số
quy định trong BLTTHS và kết luận của chánh án
Tòa án nhân dân tối cao tại hội nghị tổng kết công
tác ngành tòa án năm 1993.
Các nguyên tắc
thể hoá trong các quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Việc
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này không
chỉ bảo vệ lợi ích của quốc gia trong quan hệ
quốc tế mà còn bảo vệ các nguyên tắc pháp
lí trong quan hệ hôn nhân đồng thời bảo vệ
quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong
quan hệ hôn nhân có yếu tố nớc ngoài./.