Bài tập học kỳ Luật tố dụng dân sự (9 điểm) Đề bài số 10: “Quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự” - Pdf 52

MỤC LỤC

Trang:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG.......................................................................................................1
I. Cơ sở lý luận về quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự.........................1
1. Khái niệm bị đơn trong tố tụng dân sự.............................................................1
2. Khái niệm quyền phản tố................................................................................1
3. Điều kiện cần và đủ để nhận diện yêu cầu phản tố của bị đơn...........................2
4. Cơ sở để pháp luật Tố tụng dân sự quy định bị đơn có quyền phản tố...............2
II. Quy định của pháp luật về quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố của bị
đơn trong tố tụng dân sự.....................................................................................3
1. Các trường hợp bị đơn được thực hiện quyền yêu cầu phản tố..........................3
2. Thời hạn thực hiện quyền yêu cầu phản tố.......................................................4
3. Thủ tục thực hiện quyền yêu cầu phản tố.........................................................6
4. Thay đổi, bổ sung rút yêu cầu phản tố.............................................................6
III. Thực tiễn áp dụng quy định về việc thực hiện quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
trong tố tụng dân sự và hướng hoàn thiện pháp luật.............................................7
1. Thực tiễn áp dụng...........................................................................................7
2. Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật...................................................8
KẾT LUẬN.......................................................................................................8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
1. BLTTDS :
2. TTDS
:
3. HĐXX
:


2. Khái niệm quyền phản tố
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 200 BLTTDS 2015: “Cùng với việc phải nộp cho
Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu
cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập”.
Với quy định trên, phản tố có thể được hiểu là việc bị đơn khởi kiện lại nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Mục đích của yêu cầu phản tố
là để bù trừ nghĩa vụ, khấu trừ nghĩa vụ hoặc loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ với
yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Về bản chất, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được
khởi kiện bằng vụ án độc lập. Nhưng vì yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa
vụ của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập trong vụ án đang được giải quyết và nhằm cho vụ án giải quyết chính xác, nhanh
chóng hơn nên bị đơn có quyền yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án. Nếu yêu cầu của bị
đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn
phải khởi kiện thành một vụ án dân sự mới. Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát
sinh khi có việc nguyên đơn kiện bị đơn, và Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau đó bị đơn cũng cho rằng nguyên đơn xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên đã kiện trở lại. Ví dụ: A kiện B yêu cầu bồi
thường thiệt hại vì đi xe máy gây tai nạn cho A (A cũng là người đi xe máy), làm A bị gãy
tay, hỏng lốp xe và đã được Tòa án thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết thì B lại
kiện ngược lại A, yêu cầu A bồi thường thiệt hại cho mình vì A cũng có hành vi phóng
nhanh vượt ẩu nên đã lao xe vào B làm xe B cũng bị hư hỏng nặng.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu Tòa án bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu
Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu
của nguyên đơn) thì đây chỉ là phản bác ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn
chứ không phải là yêu cầu phản tố2.
Như vậy, quyền phản tố là việc pháp luật quy định cho bị đơn được khởi kiện ngược
trở lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong cùng
một vụ án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan độc lập.
Thứ sáu, yêu cầu của bị đơn phải cùng loại quan hệ pháp luật tranh chấp với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập,
có (cùng trong một loại quan hệ pháp luật dân sự, lao động, kinh doanh thương mại).
Thứ bảy, bị đơn đưa ra yêu cầu nhằm mục đích buộc nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bị đơn.
4. Cơ sở để pháp luật Tố tụng dân sự quy định bị đơn có quyền phản tố
- Cơ sở lý luận:
Con người để tồn tại trong xã hội đòi hỏi phải được bảo đảm các lợi ích vật chất và
tinh thần. Để bảo đảm các lợi ích đó, pháp luật quy định việc bảo đảm các quyền con
người. Pháp luật của các quốc gia đều ghi nhận các quyền con người. Trong Tuyên ngôn
độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776 có ghi: “Tất cả mọi người sinh ra đều có
quyền bình đẳng, đấng tạo hóa đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được,
trong những quyền đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Trong Tuyên ngôn độc lập, ngày 02/9/1945 Bác Hồ đã đọc tại Quảng trường Ba Đình –
Hà Nội khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa cũng đã một lần nữa nhấn mạnh lại
những quyền này. Để thể chế hóa những tư tưởng tiến bộ đó, tại Điều 14 Hiến pháp nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng đã ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật”. Trên cơ sở quy định về quyền con người trong Hiến pháp, nhằm giải quyết đúng
đắn các vụ án dân sự, bảo đảm lẽ công bằng cho các bên. BLTTDS 2015 đã đưa ra các
nguyên tắc: Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS; Cung cấp chứng cứ và chứng
minh; Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự; Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa,… Để
triển khai thực hiện các nguyên tắc này, để bảo đảm cho các đương sự có quyền và nghĩa
vụ như nhau trong tố tụng: nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn cũng có quyền, phản đối hoặc
khởi kiện ngược trở lại nguyên đơn bằng việc cung cấp các chứng cứ, chứng minh bên
nguyên đơn cũng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình và yêu cầu Tòa án
bảo vệ quyền lợi cho mình thì BLTTDS đã quy định cho bị đơn có quyền phản tố nguyên

cũng được quy định lại tại Khoản 1 Điều 200 BLTTDS 2015.
II. Quy định của pháp luật về quyền phản tố và việc thực hiện quyền phản tố
của bị đơn trong tố tụng dân sự
1. Các trường hợp bị đơn được thực hiện quyền yêu cầu phản tố
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015 thì:
“Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng
một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”
Nhìn chung quy định này vẫn được giữ nguyên như quy định tại Khoản 2 Điều 176
BLTTDS 2004 đã được sửa đổi và bổ sung năm 2011. Theo đó, yêu cầu phản tố của bị đơn
được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Yêu cầu phản tố được chấp nhận để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên
đơn là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có nghĩa
vụ đối với bị đơn. Do đó, bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ
phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. Ví dụ: Trong hợp đồng kí cược: C kiện D
đòi bồi thường thiệt hại (chi phí sửa chữa) chiếc ô tô Camry mà C đã cho D thuê trong
buổi lễ cưới (do D gây tai nạn dẫn đến hỏng xe). Trong quá trình giải quyết vụ án, D cũng
kiện lại C yêu cầu C bồi thường chi phí sửa chữa chiếc nhẫn kim cương (do C không may
làm gãy chiếc nhẫn) trong hợp đồng kí cược mà D đã cược cho C để thuê chiếc xe.
- Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận, dẫn đến loại trừ việc chấp một phần
hay loại trừ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại

3

theo quy định tại Điều 199 và 200 BLTTDS 2015.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu
cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải”.
Như vậy, về thời hạn bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trong BLTTDS 2015 đã
có sự sửa đổi, bổ sung. Do BLTTDS 2015 đã bổ sung một thủ tục tục tố tụng dân sự hoàn
toàn mới là phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nên bị đơn sẽ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp nêu trên.
Như vậy, thời hạn đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn đã được rút ngắn so với quy định tại
Khoản 2 Điều 177 BLTTDS 2011. Quy định này giúp cho việc giải quyết yêu cầu phản tố
của bị đơn của Tòa án được chủ động và hợp lý hơn. Bởi lẽ, nếu quy định bị đơn có quyền
đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử như trước đây
sẽ dẫn đến trường hợp Tòa án đã tiến hành hòa giải xong đối với vụ án thì bị đơn mới đưa
ra yêu cầu phản tố. Lúc đó Tòa án lại phải tiến hành các thủ tục xác minh, thu thập chứng
cứ, sau đó mới tiến hành hòa giải riêng đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và như vậy,
việc giải quyết vụ án sẽ kéo dài, gây tốn kém về thời gian, công sức của cơ quan tiến hành
tố tụng và của các đương sự3.
Do BLTTDS 2015 chưa có quy định rõ ràng về thời điểm kết thúc quyền yêu cầu
phản tố nên hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Qua quy định tại
3

TS. Bùi Thu Huyền, Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động năm 2016. Tr262

4


Khoản 1 Điều 199 và Khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015 thì có thể có hai cách hiểu về thời
điểm kết thúc quyền yêu cầu phản tố.
Nếu hiểu theo cách thứ nhất, áp dụng Khoản 1 Điều 199 BLTTDS 2015 thì thời điểm
quyền yêu cầu phản tố chấm dứt là sau 15 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được yêu cầu

nhiên sẽ thuộc về bên có vũ khí (bị đơn). Vậy thì sẽ không có sự bình đẳng giữa các
đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh. Nên quy định của pháp luật
là hợp lý.
3. Thủ tục thực hiện quyền yêu cầu phản tố
Thủ tục thực hiện quyền yêu cầu phản tố là trình tự do pháp luật TTDS quy định để
bị đơn thực hiện quyền yêu cầu phản tố của mình.
Theo quy định tại Điều 202 BLTTDS 2015 thì: “Thủ tục yêu cầu phản tố được thực
hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”.
Thủ tục thực hiện yêu cầu phản tố giống như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Tức
là phải tuân theo quy định tại Điều 189,190, 191,192, 193 của BLTTDS 2015 (Làm đơn
phản tố > Gửi đơn phản tố đến Tòa án > Tòa án tiếp nhận và xử lý đơn (nếu hợp lệ) > Tòa
án thông báo tiền tạm ứng án phí, lệ phí phải nộp > Người đưa ra yêu cầu phản tố > Nộp
tiền tạm ứng án phí > Tòa án thụ lý đơn). Tuy nhiên do yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ
phát sinh sau khi Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, do đó khi nhận được

5


đơn về các vấn đề này để giải quyết trong cùng một vụ án thì Tòa án phải xác định lại
ngày thụ lý vụ án từ đó làm căn cứ tình thời hạn xét xử4. Cụ thể:
- Trường hợp bị đơn được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày
thụ lý là ngày Tòa án nhận được đơn phản tố.
- Trường hợp bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị
đơn nộp cho Tòa án biên lai tiền tạm ứng án phí.
- Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố thì ngày thụ lý vụ án là: Ngày Tòa
án nhận đơn về yêu cầu phản tố cuối cùng nếu họ đều thuộc trường hợp không phải nộp
tiền tạm ứng án phí; Là ngày mà người cuối cùng nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm
ứng án phí nếu họ phải nộp tiền tạm ứng án phí
4. Thay đổi, bổ sung rút yêu cầu phản tố
Xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS mà

- Đối với trường hợp rút yêu cầu phản tố

4

TS. Bùi Thu Huyền, Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động năm 2016, tr263.

5

TS. Bùi Thu Huyền, Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb Lao động năm 2016, tr324

6

Xem Điều 96 BLTTDS năm 2015

6


Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút
yêu cầu phản tố thì Tòa án sẽ chấp nhận và ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại
điểm c và điểm h Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, thì HĐXX sẽ căn cứ theo Khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015
để giải quyết. Trường hợp rút một phần và việc rút này là tự nguyện thì HĐXX sẽ chấp
nhận và đình chỉ phần yêu cầu bị rút, phần không bị rút thì HĐXX vấn giải quyết theo thủ
tục chung. Trường hợp rút toàn bộ và việc rút này là tự nguyện thì HĐXX sẽ chấp nhận và
ra quyết định đình chỉ vụ án.
Về hình thức của việc đình chỉ xét xử và hậu quả pháp lý của nó. Khi rút toàn bộ yêu
cầu thì thực chất đối tượng xét xử của Tòa án không còn nữa nên trong trường hợp này
HĐXX không cần thiết phải ra bản án để đình chỉ giải quyết vụ án, vì việc ra bản án chỉ
được đặt ra trong trường hợp Tòa án thực hiện việc xét xử. Do đó, Tòa án sẽ ra quyết định
đình chỉ vụ án và quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

2. Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật
Từ những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về
quyền yêu cầu phản tố như đã phân tích ở các phần trên. Em xin đề xuất một số giải pháp
sau:
Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể của Tòa tối cao trong việc xác định thời
hạn thực hiện quyền yêu cầu phản tố của bị đơn. Áp dụng theo Khoản 1 Điều 199 hay áp

7


dụng theo Khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015 để xác định thời điểm chấm dứt việc thực
hiện quyền yêu cầu phản tố của bị đơn. Từ đó sẽ giúp các Thẩm phán áp dụng thống nhất
pháp luật để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho các đương sự.
Thứ hai, quy định về các trường hợp bị đơn được thực hiện quyền yêu cầu phản tố
theo Khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015 còn khá chung chung, khó xác định, đôi khi còn
nhầm lẫn giữa quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 200 với quy định tại điểm a Khoản 2
Điều 200 BLTTDS 2015, nên cần có văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết điều khoản này.
Thứ ba, cần hướng dẫn rõ hình thức và hậu quả pháp lý của việc giải quyết vụ án khi
bị đơn rút yêu cầu phản tố được quy định tại Điều 244 và 255 BLTTDS 2015
Thứ tư, hiện nay các tranh chấp được giải quyết theo tố tụng dân sự xảy ra ngày
càng nhiều với diễn biến ngày càng phức tạp, số lượng bị đơn có yêu cầu phản tố ngày
càng tăng, trong khi không ít các Thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn chưa
cao nên đối với các tranh chấp có yêu cầu phản tố (thường là những vụ án rất phức tạp)
đòi hỏi các Thẩm phán phải dày dặn kinh nghiệm, có chuyên môn, nghiệp vụ tốt. Do đó,
Tòa tối cao cần có kế hoạch kiểm tra định kì để xác định Thẩm phán nào kiến thức pháp
luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn chưa tốt để tiếp tục đào tạo bồi dưỡng thêm.
Thứ năm, cần tuyên truyền phố biến, giáo dục pháp luật cho người dân, đặc biệt là
quyền của họ khi tham gia vào hoạt động tố tụng để họ biết và thực hiện quyền yêu cầu
phản tố có hiệu quả.
KẾT LUẬN

11. Ths. Thái Chí Bình, Quy định về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, vướng mắc, kiến nghị
hoàn thiện, Truy cập ngày 10/04/2017;
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1787
13. Cổng thông tin điện tử tòa án nhân dân tối cao
http://toaan.gov.vn/




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status