ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
*
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ VIỆC THỰC THI CÁC CAM KẾT
CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – năm 2012
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU……………………………………………………… 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 7
1.1 Khái niệm Khí hậu và Biến đổi khí hậu……… ……………………………7
1.1.1. Khái niệm khí hậu… ……………………………… … 7
1.1.2. Khái niệm BĐKH… ……………………………… … 10
1.2. Nguyên nhân và một số biểu hiện của biến đổi khí hậu…………… 12
1.2.1. Nguyên nhân của BĐKH………………… …….……………… 12
1.2.2. Một số biểu hiện của BĐKH…………………………………… 14
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu đối với từng lĩnh vực 23
1.3.1. Tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu……………………………… 23
1.3.2. Tác động của BĐKH đối với một số quốc gia và Việt Nam…… 28
Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 39
2.1. Khái niệm pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu 39
2.1.1. Định nghĩa pháp luật quốc tế về chống BĐKH… 39
2.1.2. Quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về chống BĐKH… … ….41
2.1.3. Vai trò của pháp luật quốc tế về chống BĐKH 44
2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về chống biến đổi
khí hậu 46
2.2.1. Nguyên tắc chống BĐKH là nghĩa vụ của từng quốc gia và của cả cộng đồng
quốc tế … …… 46
2.2.2. Nguyên tắc các quốc gia phát triển có trách nhiệm hỗ trợ tài chính và chuyển
giao công nghệ cho các nước đang phát triển nhằm chống BĐKH … 47
2.2.3. Nguyên tắc phát triển bền vững là cơ sở chống BĐKH ở từng quốc gia và
3.2.2. Thực tiễn triển khai UNFCCC và KP 107
3.2.3. Đánh giá mức độ thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam thông qua
thực tiễn triển khai các điều ước quốc tế về chống BĐKH 117
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả hoạt động
thực thi pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu của Việt 120
3.3.1. Ở phương diện quốc tế 120
3.3.2. Ở phương diện quốc gia 121
KẾT LUẬN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….129
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
Viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
BĐKH
Biến đổi khí hậu
2
Bộ NN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3
Bộ TN&MT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
4
CDM
Clean Development Mechanism - Cơ chế phát triển sạch
BĐKH là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại
từng đối mặt từ trước đến nay. Ngập lụt, hạn hán, nước biển dâng hay nhiệt độ Trái
đất tăng cao…đều là những biểu hiện cực đoan của khí hậu, là “sự giận dữ” mà
thiên nhiên đang đáp trả vào con người – tác nhân chủ yếu gây ra BĐKH toàn cầu.
Với mục đích tìm hiểu những kiến thức có ý nghĩa tổng quan nhất về BĐKH, tác
giả dành toàn bộ chương I để trình bày những vấn đề cơ bản về BĐKH và những tác
động sâu sắc của BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể, từ đó thấy được nhu cầu cấp
thiết của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chống BĐKH ở cả phương diện
quốc tế và quốc gia.
1.1. KHÁI NIỆM KHÍ HẬU VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1.1. Khái niệm khí hậu
a. Định nghĩa khí hậu
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và
không gian nhất định. Khí hậu ở một nơi được đặc trưng bởi trạng thái trung bình
nhiều năm của các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió v.v
Theo từ điển thuật ngữ của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (The
Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) thì: Khí hậu dùng để chỉ "thời tiết
trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi
về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng
nghìn, hàng triệu năm.
Như vậy, khác với thời tiết, một trạng thái mang tính nhất thời của khí quyển
ở một địa điểm hay một vùng nhất định và có thể thay đổi trong khoảng thời gian
ngắn, khí hậu là khái niệm mang tính ổn định và bền vững hơn. Nó là kết quả tổng
hợp của các quá trình vật lý và hóa học dưới tác động của bức xạ mặt trời lên bề
mặt trái đất. Bề mặt mặt trời (hay còn gọi là quang cầu) có nhiệt độ trung bình
6000K. Mỗi một giây, từ 1cm
2
bề mặt của mặt trời phát ra một năng lượng khoảng
6300Jun. Song lượng bức xạ mặt trời đi tới được Trái đất chỉ bằng một phần rất nhỏ
3.711m. Về mặt khí hậu, biển và đại dương được xem như một bình giữ nhiệt khổng
lồ của trái đất. Dưới ánh nắng mặt trời, thủy quyển của Trái đất không ngừng vận
động tuần hoàn. Nước ở trên mặt đất bốc hơi thành hơi nước trong khí quyển, sau
đó hơi nước trong khí quyển lại ngưng đọng thành nước mưa rơi xuống mặt đất và
biển. Nước trên mặt đất lại hội tụ thành suối, thành sông chảy ra hồ, ra biển hoặc
thấm xuống đất, qua các khe nứt của các nham thạch trở thành nước ngầm, hoặc bốc
hơi trở lại khí quyển. Có thể nói, nhờ có tuần hoàn nước trên Trái đất với quy mô
lớn, không ngừng nghỉ nên mặt đất mới biến đổi thường xuyên, vạn vật sinh sôi,
nảy nở.
Băng quyển: Bao gồm tất cả các vùng có băng và tuyết bao phủ trên Trái đất ở
các cực địa (Bắc cực, Nam cực), các đới vĩ độ cao (đảo Greenland, miền bắc Canađa,
miền bắc Siberia) và phần lớn các núi cao trên thế giới, hay khắp các châu lục - những
nơi có nhiệt độ dưới 0
o
C quanh năm. Băng quyển cũng giữ vai trò quan trọng trong việc
điều chỉnh hệ thống khí hậu toàn cầu. Tuyết và băng có độ phản xạ lớn nên đã phản xạ
phần lớn bức xạ của mặt trời. Một số nơi ở Nam cực phản xạ tới 90% lượng bức xạ mặt
trời đi tới, cao hơn nhiều so với độ phản xạ trung bình của trái đất, chỉ vào khoảng 30%.
Do đó, nếu băng quyển tan chảy, Trái đất sẽ nóng lên và làm cho khí hậu thay đổi.
Thạch quyển: Là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá.
Thạch quyển bao gồm đất liền, trầm tích, đất đá trên mặt đất, các đại lục và cả trong
lòng đất. Cơ cấu thạch quyển, đặc biệt là phân bố đất liền và đại dương có vai trò
đặc biệt quan trọng trong phân bố khí hậu trên trái đất. Đất liền phân bố không đều
giữa hai bán cầu, trên từng bán cầu và theo vĩ độ. Khu vực từ 30
o
vĩ về xích đạo của
hai bán cầu, thường gọi là vùng nhiệt đới, chiếm một nửa diện tích trái đất, nhưng
chỉ có 20% trong đó là đất liền. Ở bán cầu Nam, chỉ có 19% diện tích là đất liền,
còn 81% là biển. Ngược lại, ở bán cầu Bắc, 40% diện tích là đất liền, 60% là biển.
Phần lớn diện tích đất liền (55%) ở bán cầu Bắc trải dài trên các vĩ độ và nằm ngoài
dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ
hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác
động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí
quyển hay trong khai thác sử dụng đất”.
Như vậy, BĐKH được hiểu chung là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với
trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài,
thường là vài thập kỷ hoặc hơn. BĐKH có thể là do sự biến đổi của các quá trình tự
nhiên, hoặc do những tác động của con người.
b. Lịch sử BĐKH
Nhiều tài liệu khoa học địa chất cho thấy, trong lịch sử xa xưa của Trái đất đã xảy
ra những biến đổi sâu sắc trong khí hậu. Những biến đổi này xảy ra vào những thời kỳ
băng hà, khi con người chưa xuất hiện và sự sống trên Trái đất còn rất hạn chế. Quá trình
băng hà và không băng hà bắt đầu xảy ra từ khoảng hai triệu năm trước công nguyên.
Trong chu kỳ này, nhiệt độ bề mặt Trái đất thường biến động từ 5-7
o
C. Tuy nhiên, có thể
có những biến động tới 10-15
o
C ở các vùng vĩ độ trung bình và vĩ độ cao thuộc bán cầu
Bắc.
Từ khoảng giữa thế kỷ XIX, nhờ đo đạc chính xác bằng các dụng cụ, con người
mới bắt đầu có được những số liệu định lượng chi tiết về BĐKH. Kết quả đo đạc và
nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng, nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ
XX đã tăng lên 0,74
o
C ( 0,2
o
C); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và
thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001) [52].
Sự thay đổi trong quỹ đạo của Trái đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm
thay đổi năng lượng mặt trời, bởi chỉ cần có sự thay đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái
đất cũng dẫn tới những thay đổi trong sự phân phối của ánh sáng Mặt trời khi tiến
tới bề mặt Trái đất. Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật liệu từ dưới
sâu lòng đất lên bề mặt, như là một phần của tiến trình Trái đất loại bỏ sự quá dư
thừa về nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó. Hoạt động phun trào của núi lửa cũng
tạo ra nhiều các hoạt chất gây ô nhiễm, như các sol khí (hay còn gọi là các hạt bụi và
hạt lơ lửng). Các hạt này làm giảm độ trong suốt của khí quyển và ảnh hưởng mạnh
mẽ tới thời tiết và khí hậu. Dung nham nóng chảy tràn lên bề mặt đất, với lượng lớn,
tốc độ nhanh, phủ trên diện rộng, có thể hủy diệt các vật thể sống và biến cải môi
trường sống của tiểu khu vực đó.
Như vậy, bản thân thiên nhiên cũng là nhân tố tạo ra sự BĐKH trên toàn thế
giới. Tuy nhiên, theo đánh giá của các nhà khoa học, sự vận động của tự nhiên chỉ
đóng góp 10% trong số các tác động tới BĐKH toàn cầu.
b. Về những tác động của con người
Môi trường tự nhiên có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng cuộc sống, sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và phát triển của con người. Do đó,
môi trường tự nhiên được xác định là một trong 3 trụ cột quan trọng của sự phát
triển bền vững. Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế vẫn đang diễn ra đó là: con
người đang ngày càng lạm dụng tự nhiên, tác động mạnh mẽ đến tự nhiên và làm
biến đổi tự nhiên theo chiều hướng ngày càng tiêu cực hơn. Theo báo cáo đánh giá
lần thứ 4 của IPCC năm 2007, trong số các nguyên nhân gây ra BĐKH toàn cầu thì
có đến 90% là xuất phát từ các hoạt động của con người.
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất và phát triển các ngành công nghiệp năng
lượng, con người đã “xả” vào bầu khí quyển một lượng lớn các khí thải độc hại, trong đó
lượng CO
2
do con người thải ra là một trong những thủ phạm chính làm Trái đất nóng
lên, dẫn đến sự thay đổi về khí hậu. Theo thông báo thường niên được Tổ chức Khí
tượng Thế giới (WMO) công bố ngày 24/11/2009, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính
gần 7 tỷ người sinh sống; dự đoán tới năm 2050 sẽ tăng lên hơn 9 tỷ người. Dân số
đông, không gian sinh sống chật hẹp sẽ kéo théo đó là sự gia tăng của hàng loạt các
nhu cầu sinh hoạt đang đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống của con người.
1.2.2. Một số biểu hiện của BĐKH
1.2.2.1. Hiệu ứng nhà kính
a. Định nghĩa
Hiệu ứng nhà kính là sự nóng lên của Trái đất do sự có mặt của các KNK. Là kết
quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa Trái đất với không gian
xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất.
b. Nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính
Nguyên nhân chủ yếu là sự mất cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu
xuống Trái đất và lượng bức xạ nhiệt trở lại của mặt đất vào vũ trụ. Bức xạ nhiệt
của mặt trời là bức xạ sóng ngắn nên dễ dàng xuyên qua tầng ozone và lớp khí CO2
để đi tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ Trái đất vào vũ trụ là bức sóng dài,
không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị khí CO2 + hơi nước trong khí
quyển hấp thụ. Lớp khí CO2 này có tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng phát
ngược vào vũ trụ của Trái đất trên quy mô toàn cầu. Hiện tượng này làm cho khí
quyển và bề mặt Trái đất ấm lên, và được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Hình 1.3. hiệu ứng nhà kính (Nguồn Internet)
Hiệu ứng nhà kính có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh khí hậu trái đất,
làm cho Trái đất trở nên ấm áp hơn và giúp duy trì sự sống của con người. Theo tính
toán của các nhà khoa học, nhờ có hiệu ứng nhà kính, Trái đất mới có nhiệt độ trung
bình đạt 15
o
C, thay vì -18
o
C trong trường hợp không có hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên,
nếu hàm lượng cacbon đioxit càng tăng thì khả năng bắt giữ nhiệt của Trái đất càng
cao, điều này giải thích tại sao Trái đất lại ấm dần lên. Vai trò gây nên hiệu ứng nhà
2
O): Ôxit nitơ (N
2
O) cũng là một loại KNK. Từ những mẫu bọt
khí lấy được trong băng, người ta thấy rằng nồng độ N
2
O trong khí quyển đã tăng
khoảng 8% từ đầu thế kỷ đến nay và hiện đang tiếp tục tăng cao. Nguồn N
2
O chủ
yếu hiện nay là do đốt các loại nhiên liệu, sử dụng phân hóa học, sản xuất các chất
hóa học như các nhà máy làm nilông
Chlorofluorocarbons (CFCs): Khác với các KNK tự nhiên khác, chất CFCs
hoàn toàn là sản phẩm do con người tạo ra. CFCs được sản xuất từ những năm 1930
và được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật làm lạnh như: tủ lạnh, điều hòa không khí,
các loại máy lạnh, các bình xịt mỹ phẩm, làm chất tẩy rửa linh kiện điện tử v.v Từ
những năm 70 các nhà khoa học đã phát hiện ra nguyên nhân chính gây nên sự suy
giảm ozone là những hóa chất nhân tạo trong phân tử có chứa clo, điển hình là
cloflocacbon (CFC), chiếm tới 70% các hóa chất nhân tạo phá hủy tầng ozone do
con người tạo ra phát thải vào khí quyển. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh
rằng, clo phản ứng rất nhanh với ozone để tạo thành clorine ôxit (ClO), sau đó ClO
lại phân ly thành Cl nguyên tử và ôxy, Cl lại tiếp tục phản ứng với ozone,…Quá
trình này tạo thành một chuỗi phản ứng, trong đó mỗi nguyên tử Cl có thể phá hủy
hàng nghìn phân tử ozone. Lượng ozone bị phá hủy nhiều tới mức đã xuất hiện lỗ
thủng ở tầng ozone, các tia cực tím khi đó có cơ hội đi tới bề mặt Trái đất và gây
các tác dụng xấu. Chính vì đặc tính nguy hiểm này, nên CFCs được xếp vào danh
mục các chất bị cấm trong các hiệp ước về bảo vệ tầng ozone.
Hơi nước (H
2
O): Hơi nước cũng có vai trò điều chỉnh nhiệt độ Trái đất thông
bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam, Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập,
Hoa Kỳ, Thái Lan
1.2.2.3. Mưa acid
Mưa axit là hiện tượng nước mưa có độ pH dưới < 5.6 (Khi độ pH nhỏ hơn
5.6, nước có tính axit, ăn mòn các vật dụng bằng kim loại, ảnh hưởng đến hệ tiêu
hóa, gây đau bụng, ói mửa).
Hình 1.6: Chu trình hình thành và hệ quả của mƣa acid (Nguồn Internet)
Nguyên nhân của hiện tượng mưa axit là sự gia tăng năng lượng axit của lưu
huỳnh và nitơ ở trong khí quyển do hoạt động của con người gây nên. Ước tính khoảng
80% oxit sulfur là do hoạt động của các thiết bị tạo năng lượng, 15% do hoạt động đốt
cháy của các ngành công nghiệp khác nhau và 5% từ các nguồn khác. Còn đối với oxit
nitơ, 1/3 là do hoạt động của các máy năng lượng, 1/3 khác là do hoạt động của đốt nhiên
liệu để chuyển hóa thành năng lượng và phần còn lại cũng do các nguồn khác nhau. Mưa
axit ảnh hưởng xấu tới nguồn nước trong các sông, ao, hồ; gây ra tác động nghiêm trọng
tới đất trồng; làm giảm tuổi thọ của các công trình xây dựng và làm lở loét bề mặt bằng
đá của các công trình.
1.2.2.4. Cháy rừng
Nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng cao là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hàng loạt
các vụ cháy rừng trên diện rộng trong suốt mấy thập kỷ qua. Các đám cháy rừng và
than bùn giải phóng carbon dioxide vào khí quyển và thúc đẩy quá trình ấm lên của
khí hậu và làm gia tăng các vụ cháy rừng.
Hình 1.7. Cháy rừng (Nguồn Internet)
Trong giai đoạn 2008-2010, trên thế giới đã xảy ra rất nhiều vụ cháy rừng
nghiêm trọng, gây hậu quả nặng nề cho môi trường và nền kinh tế của các quốc gia.
Nằm trong danh sách các quốc gia bị cháy rừng nghiêm trọng có Nga, Canada và
Úc. Tại Nga, cháy rừng và than bùn bắt đầu bùng phát cao điểm vào cuối tháng
7/2010, sau hơn một tháng nước Nga phải chịu cảnh hạn hán và nắng nóng lên đến
mức kỷ lục trong vòng 130 năm trở lại đây. Tại khu vực thủ đô Matxcơva, các đám
trọng đến sức khỏe con người. Khi bão từ hoạt động mạnh, tác động lên hệ thống
thần kinh thực vật, ảnh hưởng đến dịch thể trong cơ thể (vì 70% cơ thể là nước) sẽ
dẫn tới ảnh hưởng tới hệ tim mạch, tới nhịp tim, gây đau đầu, tăng huyết áp…
Hình 1.9: Bão mặt trời (Nguồn Internet)
Viện vật lý địa cầu nhận định, đến năm 2012, hoặc 2013, cường độ của các
trận bão mặt trời đạt mức lớn nhất từ trước đến nay với 700 nT. Trung bình mỗi
năm sẽ có khoảng 40 đến 50 trận bão từ. Một số nhà khoa học Mỹ còn cho rằng,
toàn bộ cư dân trên Trái đất sẽ không có ai tránh được những ảnh hưởng xấu của
cơn bão này. Daniel Becker, chuyên gia khí hậu vũ trụ của Đại học Colorado cho
rằng: "Hiện tại, chúng ta đang ngày càng tiến đến gần hơn khả năng xảy ra các loại
tai nạn này. Nếu như con người không có sự chuẩn bị đầy đủ để đối phó với những
cơn bão Mặt trời có khả năng sẽ phát sinh trong tương lai, thì loại bão vũ trụ này
có thể cắt đứt sự cung ứng điện, sóng điện thoại, thậm chí cả hệ thống cung cấp
nước cho xã hội loài người".
b. Lũ lụt
Lũ là hiện tượng dòng nước do mưa lớn tích luỹ từ nơi cao tràn về dữ dội
làm ngập lụt một khu vực hoặc một vùng trũng, thấp hơn.
Năm 2010, trận đại hồng thủy chưa từng có trong lịch sử đã nhấn chìm
khoảng 1/5 diện tích đất nước Pakistan đồng thời sát hại hơn 2.000 dân thường vô
tội. Khoảng 2 triệu người đã buộc phải rời bỏ nhà cửa đi xơ tán sau khi những cơn
mưa lớn kéo dài triền miên hồi tháng 7 gây ra trận lụt lớn chưa từng có tại quốc gia
Nam Á này, với thiệt hại kinh tế ước tính lên tới hơn 40 tỉ đôla. Lũ lụt cũng xảy ra
tại châu Âu trong khoảng 10 năm trở lại đây đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng.
Không chỉ riêng Pakistan, nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Mexico,
Venezuelia, Việt Nam… cũng phải gánh chịu những trận lụt gây thiệt hại lớn về
người và của.
c. Hạn hán
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm
hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng
1.3.1. Tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu
BĐKH có tác động trực tiếp đến tự nhiên và con người. Trong khoảng một thế kỷ
trở lại đây, nhiệt độ Trái đất đã tăng 0,74
o
C, cùng với đó là một loạt các hiện tượng thời
tiết cực đoan đang diễn biến ngày càng phức tạp và gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng
đối với các quốc gia trên thế giới. Có thể nói, năm 2009-2010 đi qua để lại rất nhiều
“điểm đen” về thiên tai và những biến động của khí hậu đối với trái đất. Ngay từ đầu
năm là trận động đất kinh hoàng ở Haiti, tiếp theo là các cơn địa chấn dữ dội ở Chile,
Trung Quốc, lũ lụt ở Pakistan và sự phun trào của núi lửa Merapi (Indonesia) năm
2010 cũng là năm thế giới xác lập nhiều kỷ lục về mức độ nắng nóng kinh hoàng ở các
quốc gia. Mặc dù BĐKH là hiện tượng toàn cầu, nhưng hậu quả của nó sẽ không đựợc
phân bổ đều giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới. BĐKH sẽ tác động mạnh mẽ
lên hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Cụ thể:
a. Tác động của BĐKH đối với hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học
Các loài động, thực vật qua quá trình tiến hoá trên Trái đất hàng trăm triệu năm đã và
đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên Trái Đất, ổn
định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất và làm tăng độ phì nhiêu đất.
Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược
phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người và là nguồn gen phong phú để tạo
ra các giống loài mới.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học gần đây đã chỉ ra rằng BĐKH đang làm
thay đổi cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái và làm suy giảm đa dạng sinh học. Theo
tính toán, trên thế giới có 492 chủng quần thực vật có tính chất di truyền độc đáo đang
bị đe doạ tuyệt chủng. Sự đe doạ không chỉ riêng đối với động và thực vật hoang dại
mà trong nhiều thập kỷ gần đây với cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, công
nghiệp hoá đã làm biến mất nhiều giống loài địa phương quý hiếm, 1.500 giống lúa địa
phương đã bị tuyệt chủng trong 20 năm qua ở Inđônêxia. Số liệu thống kê của Hiệp hội
bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) ghi nhận: có17.291 trong tổng số 47.677 loài trên
thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng. Trong đó gồm 21% động vật có vú, 30% động vật
chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như: trầm
hương, hoàng đàn, pơmu, gõ đỏ, lát hoa, có thể bị suy kiệt; cháy rừng, sâu bệnh
phá hoại cây rừng phát triển…
* Đối với thủy sản: BĐKH sẽ làm cho nước mặn lấn sâu vào lục địa, làm mất
nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt; khả năng cố định chất
hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm
quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Chất lượng môi trường sống của
nhiều loại thủy sản bị xấu đi. Do nhiệt độ tăng, một số loài sẽ di chuyển đi nơi khác
hoặc xuống sâu hơn, làm thay đổi cơ cấu phân bố thủy sinh vật theo chiều sâu.
Thêm vào đó, cường độ mưa lớn, nồng độ muối giảm đi 10 - 20% trong một thời
gian dài (có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần) làm cho sinh vật hệ sinh thái nước
lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò, trai ), bị chết hàng
loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi. Bên cạnh đó, nước biển
dâng cao cũng ảnh hưởng xấu đến việc nuôi trồng thủy sản và quy hoạch đô thị ven
biển. Khoảng 2/3 các loài cá được con người đánh bắt và dùng làm thực phẩm phụ
thuộc vào các hệ sinh thái ven bờ. Các đầm phá nuôi trồng thủy sản và các cảng
biển sẽ bị ngập nặng.
c. Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước
BĐKH có những ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến tài nguyên nước. Trong mối
quan hệ với nhu cầu sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt xã hội và phát triển kinh tế,
BĐKH như một “chất xúc tác” làm cho các vấn đề an ninh nguồn nước trở nên nghiêm
trọng hơn.
- BĐKH làm thay đổi lượng mưa và phân bố mưa ở các vùng khác nhau.
- Những thay đổi về mưa dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các sông.
Dòng chảy sông tăng từ 10-40% vào giữa thế kỷ ở các vùng có vĩ độ cao và nhiệt
đới ẩm ướt (Đông Á, Đông Nam Á) và giảm 10-30% ở những khu vực khô ráo.
- BĐKH làm tăng các thiên tai liên quan đến nước và khuếch đại nguy cơ
thiếu nước do sự tăng dân số, chuyển đổi kinh tế và sử dụng đất (bao gồm cả đô thị
hóa). Ở nhiều nước trên thế giới, từ nay đến năm 2080 được dự đoán sẽ rơi vào tình
trạng thiếu nước trầm trọng do BĐKH. Hiện nay có khoảng trên 1,7 tỷ người, tức là
sống ở các khu đô thị với những dấu chân môi trường tan hoang. Trong những thập
kỷ tới đây, BĐKH sẽ khiến hoặc buộc hàng triệu người phải rời bỏ nhà cửa để tìm
kiếm sự an toàn và nguồn sinh kế giúp họ tồn tại trong những khu vực khác nhau
trên thế giới. Đứng trước nguy cơ này, ngày 13/4/2011 LHQ đã giới thiệu Báo cáo
toàn cầu về định cư con người 2011 của Chương trình định cư con người Liên hợp