Bài làm
A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua trước sự chuyển biến mau lẹ về kinh tế xã hội và
hội nhập kinh tế với thế giới thì tình hình tội phạm kể cả tội phạm an ninh
quốc gia và tội phạm hình sự đều diến ra phức tạp, đa dạng và nghiêm trọng.
Đặc biệt nổi lên là các tội trộm cắp tài sản, rất được xã hội quan tâm. Trước
tình hình đó, công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm dược đặt ra hết sức cấp
bách, đòi hỏi các cấp, các ngành cùng nhân dân phải tích cực góp phần vào
công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội, trật tự an ninh. Qua đó, để thấy được
việc nghiên cứu tội trộm cắp tài sản có ý nghĩa trong cả lí luận và thực tiễn.
Xét về phương diện lí luận: "Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản của người khác".
Theo tình huống đề bài cho thì: A trộm cắp tài sản của B trị giá 100
triệu đồng. Hành vi của A xâm hại đến quan hệ sở hữu cùng với hành vi cố ý
lấy cắp 100 triệu đồng đã thoả mãn cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điểm e
khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự và bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù. Vấn đề
trách nhiệm hình sự của A sẽ được phân tích như sau.
B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
a. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì loại tội mà A thực hiện
thuộc loại tội nghiêm trọng:
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các
nhà làm luật chia tội phạm thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
(phân biệt theo dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và dấu hiệu về mặt
hậu quả pháp lý), mỗi loại tội phạm được xác định một khung hình phạt khác
nhau, được quy định rõ ở khoản 3 Điều 8 – BLHS: “Tội phạm ít nghiêm trọng
là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm
gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
c. Nếu A là người nước ngoài thì A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền toàn vẹn và tuyệt đối của qốc gia đã
được luật pháp của quốc tế thừa nhận rộng rãi, luật hình sự Việt Nam có hiệu
lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều 5 BLHS VIệt Nam quy định:
"1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực
hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ
ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt
Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm
hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao."
Vậy nếu A là người nước ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của
B (100 triệu đồng) thì việc giải quyết tranh chấp hình sự của A sẽ xảy ra theo
hai trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu A không thuộc đối tượng đối tượng điều chỉnh tại
khoản 2, Điều 5 thì A đương nbiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp
luật Việt Nam Vì theo Điều 1 BLHS Việt Nam: "Bộ luật hình sự có nhiệm vụ
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền
bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân
theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Để thực hiện nhiệm
vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.". Như
vậy, BLHS Việt Nam có nghĩa vụ phải bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người bị
hại, cụ thể ở đây là B. Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 5 BLHS thì BLHS Việt
Nam hoàn toàn có hiệu lực đối với trường hợp này dù cho A có là công dân
Việt Nam, người nước ngoài hay người không có quốc tịch đi nữa. Bởi tội
dựng luật, pháp lệnh năm 2008, tại kì họp thứ tư, Quốc hội đã thảo luận và
cho ý kiến về dự án luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS, ngày 19
tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Ngày 29 tháng 6 năm 2009 Chủ
tịch nước ký Lệnh công bố Luật này (Lệnh số 13/2009/L- CTN) có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, trong đó liên quan đến đối tượng tội
phạm trộm cắp ta đặc biệt chú ý đến Điều 138.
Tại khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 quy đinh: "Người nào trộm cắp tài
sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi
triệu đồng ...", được thay đổi thành: "Người nào trộm cắp tài sản của người
khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng ...". Tức mức
định lượng tối thiểu thay đổi từ năm trăm nghìn đồng thành hai triệu đồng.
Nghĩa là, nếu theo BLHS năm 1999 chưa được sửa đổi thì người nào trộm cắp
tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng là đã phải chịu trách
nhiệm hình sự thì theo luật sửa đổi bổ sung mới quy định người nào trộm cắp
tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng mới phải chịu trách nhiệm
hình sự, điều này là có lợi cho người phạm tội.
Có sự thay đổi này là do: pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng
đều thuộc bộ phận của kiến trúc thượng tầng và bị quyết định bởi những điều
kiện kinh tế, xã hội thuộc cơ sở hạ tầng. Do đó, cần có sự hoà hợp giữa pháp
luật với đời sống kinh tế xã hội. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây
nền kinh tế nước ta đang có sự thay đổi và phát triển mạnh mẽ. Căn cứ vào
các chỉ số tăng giá cả hàng năm, hệ số các lần tăng mức lương tối thiểu, cũng
như tình hình biến động giá cả trong những năm qua, thì việc thay đổi mức
định lượng tối thiểu về giá trị tài sản hoặc giá trị thiệt hại để truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với việc trộm cắp tài sản là điều hoàn toàn đúng đắn, phù
hợp với yêu cầu phòng chống tội phạm.
Có thể thấy rằng việc thay đổi này là phù hợp với yêu cầu thực tế khách