Phân định thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NÔNG XUÂN TRƯỜNG PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN HÀNH CHÍNH VÀ
THẨM QUYỀN TỐ TỤNG CỦA CƠ QUAN, NGƯỜI TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

28
1.3.1. Sự khác biệt giữa thẩm quyền hành chính và thẩm quyền
tố tụng
28
1.3.2. Ý nghÜa cña viÖc ph©n ®Þnh thÈm quyÒn hµnh chÝnh vµ
thÈm quyÒn tè tông trong ho¹t ®éng tè tông h×nh sù
30
1.3.3. Mối quan hệ giữa thẩm quyền hành chính và thẩm
quyền tố tụng của Cơ quan điều tra và của các chức danh trong Cơ
quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự

32
1.3.4. Mối quan hệ giữa thẩm quyền hành chính và thẩm
quyền tố tụng của Viện kiểm sát, của các chức danh tố tụng trong
Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự

35
1.3.5. Mối quan hệ giữa thẩm quyền hành chính và thẩm
37 5
quyền tố tụng của Toà án nhân dân, của các chức danh tố tụng
trong Toà án trong hoạt động tố tụng hình sự
1.4. Kết luận Chƣơng 1
41
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN
HÀNH CHÍNH VÀ THẨM QUYỀN TỐ TỤNG CỦA CÁC CƠ QUAN,
NGƢỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH
SỰ

2.2.3. Thực trạng về thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố
tụng giữa Chánh án, Phó Chánh án với Thẩm phán
58
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế - tồn tại trong việc
61 6
phân định thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng trong
hoạt động tố tụng hình sự
2.3.1. Nguyên nhân chủ quan
61
2.3.2. Nguyên nhân khách quan
63
2.4. Kết luận Chƣơng 2
65
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP - KIẾN NGHỊ VỀ PHÂN ĐỊNH
THẨM QUYỀN HÀNH CHÍNH VÀ THẨM QUYỀN TỐ TỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

68
3.1. Nội dung cải cách tƣ pháp và nhu cầu tất yếu khách
quan của việc phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm
quyền tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự

68
3.1.1. Nội dung cải cách tƣ pháp liên quan đến thẩm quyền của
các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng
68
3.1.2. Phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố

các hành vi vi phạm và tội phạm.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, thẩm quyền của những ngƣời tiến
hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án có vai trò rất quan trọng. Thực
hiện đúng thẩm quyền theo luật định sẽ làm cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự đƣợc minh bạch, chính xác, đảm bảo xử lý
đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Ngƣợc lại, thẩm quyền đƣợc quy định không rõ ràng sẽ dẫn
đến tình trạng lạm quyền, chồng lấn về thẩm quyền tố tụng, đặc biệt là giữa
thẩm quyền tố tụng với thẩm quyền hành chính, gây ảnh hƣởng tiêu cực đến
quá trình giải quyết vụ án và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, làm mất niềm tin của công chúng đối với nền tƣ pháp quốc gia và
tính đúng đắn của công lý.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nƣớc đã có
những Nghị quyết về cải cách tƣ pháp đề cập đến vấn đề này. Nghị quyết số
08 ngày 2/1/2001 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới” đã nêu: “…mỗi đơn vị, bộ phận thuộc cơ quan
điều tra cần được tổ chức, phân công chuyên sâu về từng lĩnh vực và quy
định rõ quyền hạn, trách nhiệm, đặc biệt là quyền hạn, trách nhiệm của từng 8
chức danh trong cơ quan điều tra; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra
và trinh sát…”.
Tiếp đó, ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49 về
“Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” trong đó nêu rõ: “Phân định rõ
thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong
hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều
tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong việc thực thi
nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các
hành vi và quyết định tố tụng của mình…”.

chung, các thẩm quyền tố tụng thƣờng do ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố
tụng áp dụng đối với các đối tƣợng là ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình
xử lý vụ án hình sự.
Tuy nhiên, việc phân định thẩm quyền tố tụng và thẩm quyền hành
chính trong các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn chƣa thật rõ
ràng, chặt chẽ. Điều này đã gây ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả của cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, nhất là trong quá trình thực thi
nhiệm vụ của những ngƣời tiến hành tố tụng mà chỉ có một số quyền năng
hạn chế, phụ thuộc nhiều vào các quyết định, phân công mang tính hành
chính của thủ trƣởng cơ quan và không có nhiều thực quyền trong hoạt động
tố tụng thực tế. Do đó, dẫn đến tình trạng phải thỉnh thị, xin ý kiến và chờ
quyết định của cấp trên, thiếu chủ động trong hoạt động đấu tranh chống tội
phạm và trong hoạt động tác nghiệp chuyên môn. Đôi khi, chính những vấn
đề chƣa rõ ràng về phƣơng diện thẩm quyền là những tác nhân gây tác động
tiêu cực đến việc giải quyết án và làm chậm tiến độ, quá thời hạn hoặc gây
ra những bị động, lúng túng không đáng có của những nhân viên thực thi
pháp luật trực tiếp đấu tranh với tội phạm trƣớc các diễn biến phức tạp, đa
dạng của tội phạm . 10
Nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã
hội nói chung, trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm là nhiệm vụ của các
cơ quan tiến hành tố tụng mà nòng cốt của các cơ quan này là những ngƣời
tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo luật định. Để đạt đƣợc hiệu quả tối đa
trong công tác này, những ngƣời tiến hành tố tụng cần có đầy đủ thẩm quyền
trong hoạt động nghiệp vụ. Mặc dù các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự đã có những quy định về vấn đề này nhƣng có thể nói pháp luật tố tụng
hiện hành vẫn còn một số quy định chƣa đầy đủ và rõ ràng về thẩm quyền
cũng nhƣ phân định thẩm quyền hành chính trong hoạt động tố tụng và thẩm

nhân, nhƣng một trong những nguyên nhân quan trọng là các quy định pháp
luật về thẩm quyền của những cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng chƣa đầy đủ
và chặt chẽ, do đó, thiếu cơ sở pháp lý cần thiết cho các lực lƣợng chuyên
trách trực tiếp đấu tranh chống tội phạm, thậm chí, trên thực tế đôi khi còn
chồng lấn giữa thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng trong các cơ
quan tiến hành tố tụng và với những ngƣời tiến hành tố tụng.
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý
trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên, chỉ có một số chuyên đề đề cập tới
vấn đề thẩm quyền của một cơ quan hay một loại ngƣời tiến hành tố tụng
hình sự cụ thể nhƣ đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên…chƣa có một công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu vấn đề phân định thẩm quyền hành chính
và thẩm quyền tố tụng của các cơ quan và ngƣời tiến hành tố tụng với thực
tế hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam để từ đó đề ra những phƣơng
hƣớng, kiến nghị lập pháp về vấn đề này trên phƣơng diện tổng thể cho phù
hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị để phân định rõ hơn từng loại thẩm quyền của các cơ quan và ngƣời
tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. 12
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích, nêu
lên thực trạng về vấn đề phân định thẩm quyền tố tụng với thẩm quyền hành
chính của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự, những ngƣời
tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự. Cụ thể là Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và Toà án cũng nhƣ những ngƣời trong các cơ quan này có
chức danh và thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đề
tài không nghiên cứu vấn đề này trong hệ thống tƣ pháp quân đội nhƣ cơ

+ Nêu lên những đặc trƣng pháp lý, mối liên hệ giữa hai loại thẩm
quyền hành chính và tố tụng. Những bất cập trong thực tế khi chƣa có sự
phân định rạch ròi hai loại thẩm quyền trong quá trình tiến hành giải quyết
án hình sự. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị lập pháp về tố tụng hình
sự nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở các phƣơng pháp sau:
+ Phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử;
+ Phƣơng pháp nghiên cứu hệ thống;
+ Phƣơng pháp lịch sử, logic;
+ Phƣơng pháp phân tích, so sánh;
+ Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp.
6. Những cái mới về mặt khoa học
- Đây là luận văn cao học đề cập tới vấn đề phân định thẩm quyền
hành chính và thẩm quyền tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự, khái
niệm pháp lý của các loại thẩm quyền này, rút ra những yếu tố hợp lý trong
việc áp dụng các thẩm quyền hành chính, thẩm quyền tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Đồng thời, nêu lên những bất cập, hạn chế trong
thực tiễn hoạt động tiến hành tố tụng của các cơ quan, ngƣời tiến hành tố 14
tụng do sự phân định chƣa rạch ròi của những loại thẩm quyền này gây ra,
đƣa ra một số kiến nghị, giải pháp để phân định các thẩm quyền này.
- Rút ra một số kết luận mang tính khoa học về hiệu quả của việc áp
dụng các loại thẩm quyền trên trong hoạt động tố tụng hình sự, những đóng
góp của nó trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Đề xuất những kiến
giải về những biện pháp khắc phục những hạn chế của việc phân định thẩm
quyền không rõ ràng giữa hành chính và tố tụng để góp phần nâng cao hơn

Hành chính công thể hiện thành một hệ thống thiết chế, cơ cấu tổ chức
và đội ngũ viên chức thi hành công vụ, theo đó, các nguồn lực và nhân sự
công đƣợc tổ chức và phối hợp để tạo ra, đƣa vào vận hành, thực thi và quản
lý các chính sách công đƣợc bảo đảm bằng chế độ công vụ với trách nhiệm
hành chính chặt chẽ, rành mạch. 16
Trong mô hình hành chính công đƣợc phân chia thành 2 loại chủ yếu
là mô hình hành chính công truyền thống với những đặc tính chủ yếu nhƣ
sau: Đƣợc tiến hành dƣới sự kiểm tra chính thức của lãnh đạo chính trị; dựa
trên hệ thống thứ bậc cấp trên - cấp dƣới; có biên chế cụ thể gồm những
ngƣời làm việc chuyên trách phục vụ lợi ích chung và không tham gia chính
trị và chủ yếu đƣợc sử dụng bằng phƣơng pháp mệnh lệnh trực tiếp.
Mô hình hành chính công hiện đại có các đặc tính chủ yếu sau: Định
hƣớng thị trƣờng rõ hơn cho dịch vụ công; chú ý đến khu vực công và tƣ;
quá trình quản lý, điều hành linh hoạt hơn và công khai hơn; đề cao tính
chính trị; hoạt động công vụ mang tính chuyên nghiệp hơn.
Hành chính tƣ pháp, là hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực tƣ
pháp, theo đó, hành chính tƣ pháp gắn bó chặt chẽ với các hoạt động tƣ pháp
cũng nhƣ quyền tƣ pháp và mang một số đặc điểm sau: Là hoạt động quản lý
nhà nƣớc mang tính chất chấp hành, điều hành đối với lĩnh vực tƣ pháp;
Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất có nhiệm vụ quản lý tất cả các mặt,
các lĩnh vực của đời sống xã hội; nội dung quản lý hành chính tƣ pháp còn
bao gồm toàn bộ các hoạt động trong lĩnh vực tƣ pháp và bổ trợ tƣ pháp.
Trong các cơ quan tƣ pháp, hoạt động quản lý hành chính nội bộ của
các cơ quan này bao gồm cả điều hành công việc nội bộ với một số nội dung
nhƣ xây dựng tổ chức bộ máy của cơ quan; quản lý, điều hành cán bộ; quản
lý công sản, tài chính ngân sách v.v…Ngoài ra, còn có những hoạt động
mang tính chất hành chính phục vụ đƣợc thực hiện tại các cơ quan tƣ pháp

trong nội dung cải cách tƣ pháp là phải nghiên cứu và hoàn thiện quy định
về thẩm quyền của các cơ quan tƣ pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng
hình sự nói riêng. Vì vậy, khi nghiên cứu để hoàn thiện các chế định về thẩm
quyền tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng cần
phải xem xét đến một số khía cạnh sau: 18
- Việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền tố tụng của cơ quan,
ngƣời tiến hành tố tụng phải đƣợc thực hiện phù hợp với những điều kiện
kinh tế-xã hội của Việt Nam.
- Việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền tố tụng của cơ quan,
ngƣời tiến hành tố tụng phải đƣợc đặt trong bối cảnh cải cách tƣ pháp và xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam.
- Việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền tố tụng của cơ quan,
ngƣời tiến hành tố tụng phải đƣợc đặt trong khả năng thực tế của hiện tại và
tƣơng lai gần của các cơ quan này cũng nhƣ các cơ quan bổ trợ tƣ pháp
khác.
- Việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền tố tụng của cơ quan,
ngƣời tiến hành tố tụng phải đƣợc thực hiện trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện hội nhập nền kinh tế
quốc tế hiện nay.
Ngoài ra, khi nghiên cứu, xem xét đến việc hoàn thiện các chế định về
thẩm quyền tố tụng cũng cần cân nhắc đến một số yếu tố khác nhƣ: Cách
thức tổ chức của bộ máy nhà nƣớc; tính chất nghiêm trọng, phức tạp của vụ
án; năng lực thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố
tụng và hiệu quả của việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan tƣ pháp nói
chung xét từ góc độ pháp lý, xã hội và kinh tế.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, mỗi giai đoạn tố tụng
hình sự đều có một nhiệm vụ riêng của từng giai đoạn đó, tƣơng ứng với nó

ngƣời tiến hành tố tụng cũng có những thẩm quyền riêng của mình theo quy
định của luật tố tụng hình sự với mục đích áp dụng các thẩm quyền này để
giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, công bằng, đúng ngƣời, đúng
tội, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên đây, có thể đƣa ra khái niệm về thẩm quyền
tố tụng nhƣ sau: “Thẩm quyền tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng
là quyền do pháp luật quy định giao thực hiện hành vi, quyết định tố tụng 20
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự tuỳ theo từng giai đoạn cụ thể với
mục đích thực thi công lý, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân và của xã hội, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi
phạm tội bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án một cách
công bằng, khách quan”.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC
QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN HÀNH CHÍNH VÀ THẨM QUYỀN TỐ TỤNG
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Chính phủ nƣớc Việt Nam
dân chủ cộng hòa mặc dù rất bận rộn với việc xây dựng và củng cố chính
quyền Cách mạng non trẻ nhƣng cũng đã rất quan tâm đến công tác xây
dựng pháp luật để có công cụ sắc bén nhằm trấn áp các phần tử phản cách
mạng và bảo vệ chính quyền nhân dân, Chính phủ lâm thời đã ban hành một
loạt sắc lệnh về thiết lập các Toà án quân sự để truy tố và xét xử những tội
phạm phản cách mạng và các vụ bắt cóc, tống tiền, ám sát cán bộ…trong các
văn bản ở thời kỳ sơ khai này cũng đã có một số quy định liên quan đến
thẩm quyền tố tụng và thẩm quyền hành chính của các cơ quan chuyên chính
thời kỳ đầu cách mạng. Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng 8, nhân dân ta mới
giành đƣợc chính quyền lại phải đối phó với tình hình phức tạp thời kỳ đó
rồi bắt tay ngay vào cuộc trƣờng kỳ kháng chiến nên trong hoàn cảnh này,

tiền thân của Cơ quan điều tra trong lực lƣợng công an ngày nay. Sắc lệnh
quy định: “Tư pháp công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp
(đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh); sưu tập các tang chứng, bắt người phạm
pháp giao cho các Toà án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”[36, tr.1].
Ngoài ra, các Sắc lệnh số 40 ngày 20/3/1946 và Sắc lệnh số 51 ngày
17/4/1946 cũng quy định cả về tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của lực
lƣợng công an trong khi thực thi nhiệm vụ, thẩm quyền của từng chức danh
trong lực lƣợng công an và thẩm quyền chỉ đạo lực lƣợng công an của Dự
thẩm, Ủy viên công tố đối với lực lƣợng này trong quá trình tố tụng. Đây là 22
những quy định sơ khai đầu tiên trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự
về thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng của cơ quan tƣ pháp Việt
Nam thời kỳ đầu thành lập.
Tiếp đó, ngày 17 tháng 4 năm 1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ
cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 51 về ấn định thẩm quyền của các Toà án và
sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa, trong đó có những quy định về
thẩm quyền của Tƣ pháp công an, nhiệm vụ của Chánh án Toà án, nhiệm vụ
của Ủy viên công tố, Phó công tố ủy viên…Đa số các quy định trong Sắc
lệnh này là những thẩm quyền tố tụng của Toà án. Điều đáng chú ý trong
thời kỳ này là các tổ chức Tƣ pháp công an và Công tố viện đều nằm trong
Toà án cho đến khi tách Viện công tố ra khỏi Toà án và trực thuộc Bộ Tƣ
pháp trong những năm 1959-1960.
Ngoài các Sắc lệnh do Chính phủ ban hành, Bộ Tƣ pháp cũng có
quyền ban hành một số văn bản quy định về thẩm quyền và sự phân công
cho Toà án, loại văn bản này đƣợc coi là văn bản hành chính của cấp trên
đối với cấp dƣới nhƣ Thông tƣ số 1840-P/4 ngày 10 tháng 6 năm 1946 của
Bộ Tƣ pháp về sửa đổi sự phân công trong Toà án trong đó đề cập tới quyền
điều khiển và kiểm soát các nhân viên của Toà án của Chánh án và Biện lý

Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 35 về cải cách bộ máy tƣ pháp và luật tố
tụng, trong đó có nhiều quy định khá chi tiết về tổ chức tƣ pháp và thẩm
quyền tố tụng tƣơng đối cụ thể thể hiện bƣớc phát triển mới của các quy
định pháp luật tố tụng trong cơ quan tƣ pháp Việt Nam trong thời kỳ này.
Ngày 16 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số
141/SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an. Sắc lệnh này
quy định về tổ chức bộ máy của Thứ Bộ Công an trong đó có Vụ Chấp pháp
với nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố các tội phạm phản cách
mạng và các tội hình sự khác, đồng thời có nhiệm vụ quản lý các trại giam.
Ty Công an các tỉnh có Ban chấp pháp làm nhiệm vụ điều tra và ở Công an
liên khu có các phòng chấp pháp. Đây là bƣớc chuyển đổi quan trọng trong 24
tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra nói chung và lần đầu tiên, pháp
luật đã quy định về cơ quan điều tra chuyên trách, còn các lực lƣợng khác
chỉ chuyên làm công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm bằng biện pháp
trinh sát và quản lý hành chính.
Điểm mới tiếp theo là về thẩm quyền của ngƣời tiến hành tố tụng,
thay vì quy định các chức danh pháp lý làm nhiệm vụ điều tra hình sự, giờ
đây luật quy định cụ thể hơn về Cơ quan điều tra hình sự. Nhƣ vậy, trách
nhiệm và quyền hạn điều tra hình sự thực chất thuộc về ngƣời đại diện cho
cơ quan điều tra nhƣ Vụ trƣởng, Phó Vụ trƣởng, Trƣởng phòng, Phó phòng
chấp pháp v.v…, ngƣời có thẩm quyền điều tra ở mức rất hạn chế theo giới
hạn luật định. Trƣớc đây, ngoài Trƣởng ty, Trƣởng phòng, Trƣởng ban chính
trị, tƣ pháp ra, Bộ trƣởng Bộ Nội vụ còn có quyền chỉ định các trƣởng ban
khác là Ủy viên tƣ pháp công an.
Từ năm 1958 đến 1960, hệ thống các cơ quan tƣ pháp của nƣớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa đƣợc đổi mới một cách cơ bản. Cùng với nó, các văn
bản pháp luật quy định về thẩm quyền của các cơ quan này cũng đƣợc ban

bảo vệ kinh tế khởi tố, điều tra cho đến khi kết thúc điều tra mới chuyển
sang cơ quan chấp pháp làm cáo trạng truy tố. Đến năm 1973, Hội đồng
Chính phủ ra Nghị định số 32/CP sửa đổi tổ chức, bộ máy của Bộ Công an.
Căn cứ Nghị định này, Bộ Công an quyết định giao công tác hỏi cung, lập hồ
sơ truy tố các loại tội phạm hình sự cho Cục cảnh sát hình sự đảm nhiệm. Về
án kinh tế, mãi đến năm 1975 mới thực hiện sự phân công theo hƣớng: án
nghiêm trọng, phức tạp do cơ quan chấp pháp khởi tố, điều tra, hỏi cung, lập
hồ sơ đề nghị truy tố, án đơn giản và ít nghiêm trọng do cơ quan trinh sát
khởi tố, điều tra, hỏi cung, lập hồ sơ đề nghị truy tố. Cơ chế điều tra trên đây
tồn tại đến năm 1981 khi triển khai thực hiện Nghị định 250/CP của Chính
phủ. Theo Nghị định này, Cục Chấp pháp ở Bộ Công an đƣợc chia thành
Cục An ninh điều tra xét hỏi và Cục cảnh sát điều tra xét hỏi. Các cơ quan
trinh sát hình sự, kinh tế không làm công tác điều tra hỏi cung mà chỉ 26
chuyên trách công tác điều tra trinh sát bí mật là chính. Do vậy, các văn bản
này hầu nhƣ chỉ quy định về thẩm quyền tố tụng của cơ quan Công an, Viện
kiểm sát và Toà án chứ không quy định gì về thẩm quyền hành chính của
những cơ quan và nhân viên trong hệ thống các cơ quan này.
Có thể nói rằng, các quy định về thẩm quyền hành chính và thẩm
quyền tố tụng của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng trong giai đoạn trƣớc khi
có Bộ luật tố tụng hình sự chỉ thiên về cơ quan Công an mà đối với các cơ
quan tiến hành tố tụng khác hầu nhƣ không có quy định gì. Theo các quy
định này thì từ năm 1953 đến 1988, trong lực lƣợng công an luôn tồn tại tách
biệt hai hệ thống cơ quan điều tra. Thứ nhất là cơ quan điều tra chuyên trách
và công khai theo pháp luật tố tụng mà trƣớc năm 1973 là Cơ quan chấp
pháp; từ 1973 đến 1981 là Cơ quan cảnh sát hình sự; từ 1981 đến 1988 là Cơ
quan an ninh điều tra xét hỏi và Cơ quan cảnh sát điều tra xét hỏi có thẩm
quyền thụ lý điều tra theo pháp luật tố tụng đối với các vụ án phản cách

Bộ luật TTHS năm 1988 cũng chủ yếu nặng về các quy định về quyền
hạn tố tụng, còn quyền hạn mang tính hành chính hầu nhƣ để cho nội bộ các
cơ quan tự điều chỉnh bằng nhiều loại quy phạm hành chính khác nhau theo
đặc trƣng của từng ngành. Ví dụ nhƣ chỉ quy định chung về nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện trƣởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên mà chƣa quy định cụ
thể và có sự phân biệt chức năng quản lý và chức năng tố tụng của những
ngƣời này.
Qua 14 năm thực hiện Bộ luật TTHS năm 1988 đã phát huy hiệu quả
trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tuy nhiên cũng đã bộc
lộ nhiều hạn chế, bất cập trong đó có bất cập về phân định thẩm quyền hành
chính và thẩm quyền tố tụng trong tố tụng hình sự. Do đó, ngày 26 tháng 11
năm 2003, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Bộ luật TTHS năm
2003 sửa đổi và bổ sung tƣơng đối cơ bản nhằm khắc phục thiếu sót này, có
sự phân định rõ hơn giữa các chức năng quản lý và chức năng tố tụng của cơ
quan và ngƣời tiến hành tố tụng nhằm tạo những chuyển biến tích cực hơn

Trích đoạn Thực trạng về thẩm quyền hành chớnh và thẩm quyền tố tụng giữa Chỏnh ỏn, Phú Chỏnh ỏn Toà ỏn nhõn dõn với Thẩm phỏn Nguyờn nhõn chủ quan Nguyờn nhõn khỏch quan Nội dung cải cỏch tƣ phỏp liờn quan đến thẩm quyền của cỏc cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng Hoàn thiện cỏc quy định của phỏp luật tố tụng hỡnh sự liờn quan đến việc phõn định thẩm quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status