Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý trong tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THẢO

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
THEO NGHĨA VỤ PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THẢO

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG THEO
NGHĨA VỤ PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS. TRỊNH VĂN THANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015


BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

CA

Công an

CAND

Công an nhân dân

CQĐT

Cơ quan điều tra

CQNN

Cơ quan nhà nước

ĐTV

Điều tra viên

GĐTP

Giám định tư pháp

HĐXX


TAND

Tòa án nhân dân

TCXH

Tổ chức xã hội

TTHS

Tố tụng hình sự

THTT

Tiến hành tố tụng


TGTT

Tham gia tố tụng

TGTTHS

Tham gia tố tụng hình sự

TNHS

Trách nhiệm hình sự

XHCN

3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................. Error! Bookmark not defined.

4. Những vấn đề mới của luận án .................. Error! Bookmark not defined.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Error! Bookmark not defined.
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ......... Error!
Bookmark not defined.
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............... Error! Bookmark not defined.
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ............................................. Error! Bookmark not defined.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .......................................... Error! Bookmark not defined.
1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ................................. Error! Bookmark not defined.

2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu ....................... Error! Bookmark not defined.
2.1. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.2. Lý thuyết nghiên cứu ................................................................ Error! Bookmark not defined.
2.3. Giả thuyết nghiên cứu .............................................................. Error! Bookmark not defined.
2.4. Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu....................................... Error! Bookmark not defined.
2.5. Dự kiến kết quả nghiên cứu ...................................................... Error! Bookmark not defined.

3. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu ......... Error! Bookmark not defined.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................... Error! Bookmark not defined.

4. Cấu trúc của luận án ................................. Error! Bookmark not defined.


PHẦN THỨ BA: NỘI DUNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark
not defined.
Chương 1 ...................................................... Error! Bookmark not defined.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI THAM



DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ ........................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...... Error! Bookmark not defined.


1
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến
pháp và pháp luật” [17, tr. 14]. Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đáp ứng
được yêu cầu của cuộc sống, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Nhà nước được tổ chức, quản lý
bằng pháp luật; đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của
con người, quyền công dân. Trong các quyền con người thuộc lĩnh vực tư
pháp hình sự thì quyền của người TGTT là vấn đề được quan tâm trong cả
lĩnh vực khoa học và thực tiễn pháp lý. Nhất là vấn đề bảo đảm cho quyền của
họ được thực thi một cách nghiêm chỉnh trong thực tiễn.
Trong BLTTHS Việt Nam năm 2003, người tham gia TTHS có nhiều loại
khác nhau và trong khoa học pháp lý cũng chưa có sự thống nhất triệt để. Tuy
nhiên thực tế cho thấy, có người trong hoạt động TTHS thì có quyền tham gia,
có người có nghĩa vụ phải tham gia và có người tham gia chỉ nhằm bảo đảm
pháp chế XHCN. Trong đó, người tham gia TTHS theo nghĩa vụ pháp lý thường
ở vị thế yếu trong hoạt động TTHS. Cho nên, bảo đảm quyền của người TGTT
theo nghĩa vụ pháp lý là vấn đề quan trọng góp phần giúp cơ quan THTT giải
quyết VAHS được khách quan, thuận lợi và đúng pháp luật. Thực tiễn giải quyết

TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, trong quá trình nghiên cứu luận án cần
làm rõ những vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ lý luận về người TGTT và người TGTT theo nghĩa
vụ pháp lý; khái niệm, cơ sở, cơ chế, các yếu tố bảo đảm quyền của người
TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam; Vấn đề bảo đảm quyền của


3
người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý của một số nước trên thế giới.
- Khảo sát làm rõ thực trạng quy định pháp luật TTHS trong việc bảo
đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam;
- Khảo sát làm rõ thực trạng bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa
vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam;
- Nghiên cứu đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế của
pháp luật, thực tiễn bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý
trong TTHS;
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền của người
TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa
vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam gồm NLC, NGĐ, NPD.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Quy định về quyền và bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ
pháp lý trong TTHS Việt Nam (trọng tâm nghiên cứu BLTTHS 2003);
Thực tiễn bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong
TTHS Việt Nam từ năm 2005 đến 2013 (Tập trung nghiên cứu nội dung bảo
đảm quyền của NLC, NGĐ, NPD).

quan đến đề tài luận án, tác giả phân thành các nhóm như sau:
- Đề tài khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ luật học:
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: PGS, TS. Nguyễn Thái Phúc, năm
2005 với đề tài “Bảo đảm quyền con người trong TTHS Việt Nam”, nghiên
cứu vấn đề quyền con người, quyền công dân và Nhà nước pháp quyền, bảo
đảm quyền con người trong TTHS. Đề tài phát triển lý luận về quyền con
người và bảo đảm quyền con người trong hoạt động TTHS; cơ chế bảo đảm
quyền con người trong TTHS và các thành tố của cơ chế; mối quan hệ giữa
cải cách tư pháp và mở rộng quyền con người, tăng cường bảo đảm quyền con
người trong TTHS nước ta. Đề tài làm rõ thực trạng bảo đảm quyền con
người trong BLTTHS 2003 và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện BLTTHS
2003 theo hướng mở rộng quyền con người và bảo đảm quyền con người của
những chủ thể TGTT (người bị tạm giữ, bị can bị cáo, người bào chữa, NLC,
người bị hại) [13].
+ Nguyễn Huy Hoàn, năm 2004 với luận án tiến sỹ luật học “Bảo đảm
quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, luận án
nghiên cứu cơ sở lý luận đảm bảo quyền con người, lịch sử đảm bảo quyền
con người trong các triều đại phong kiến Việt Nam và trên thế giới, thực trạng
hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người ở Việt Nam, các quan
điểm, giải pháp nhằm đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp hiện
nay. Trên cơ sở phân tích lý luận, thực trạng đảm bảo quyền con người trong
hoạt động tư pháp, luận án đưa ra giải pháp nhằm đảm bảo quyền con người


6
trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay [8].
+ Lại Văn Trình, năm 2011 với luận án tiến sĩ luật học: “Bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam”. Luận
án nghiên cứu các quan niệm về nhà nước pháp quyền XHCN và các đặc trưng
của nó; các quyền con người trong nhà nước pháp quyền; các biện pháp bảo

can, bị cáo trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, một số vấn đề bảo
vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam, quyền được thông tin của người
TGTT trong TTHS Việt Nam…[12].
- Bài báo, tạp chí khoa học:
+ TS. Phan Thị Hương Thủy, năm 2006: “NLC và quyền của NLC trong
BLTTHS năm 2003 - Thực trạng và định hướng hoàn thiện”. Tác giả trình
bày khái niệm NLC trong TTHS và quyền của NLC trong BLTTHS năm
2003; khái quát thực trạng quy định quyền và bảo đảm quyền của NLC so với
người TGTT khác; nêu những bất cập của BLTTHS năm 2003 cản trở việc
NLC tham gia hoạt động TTHS; nêu một số giải pháp bảo đảm quyền của
NLC trong TTHS [20].
+ PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc, năm 2007: “Bảo vệ NLC và quyền miễn
trừ làm chứng trong TTHS”, đăng trên Tạp chí KHPL số 3(40)/2007. Tác giả
trình bày một số vấn đề cơ bản về NLC, ý nghĩa của lời khai NLC trong
TTHS; nhận thức và tầm quan trọng về bảo vệ NLC, đồng thời tác giả nêu
một số biện pháp bảo vệ NLC trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án; đặc biệt
tác giả đề cập chế định miễn trừ làm chứng [14].
+ TS. Trần Quang Tiệp, năm 2005: “Về lời khai của NLC trong VAHS”,
đăng trên Tạp chí KHPL 4/2005. Tác giả khái quát lịch sử lập pháp TTHS
quy định về lời khai của NLC từ Bộ luật Hồng Đức đến BLTTHS 2003, các
tiêu chí phân loại lời khai NLC và việc đánh giá lời khai của họ; bài viết cũng
đề cập đến quy định về lời khai của NLC trong pháp luật TTHS của một số
nước trên thế giới như Liên bang Nga, vương quốc Thái Lan, Hàn Quốc,
Cộng hòa Pháp, liên bang Malaysia, Nhật Bản [22].


8
+ PGS.TS. Trần Đình Nhã, năm 2010: “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo
vệ người tố giác, NLC, người bị hại trong VAHS”, đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp điện tử ngày 26/6/2010. Tác giả trình bày yêu cầu bảo vệ người

kiến nghị việc xây dựng, ban hành quy định về cơ quan có chức năng phiên
dịch, NPD về tư cách pháp lý, điều kiện tham gia, trách nhiệm… [5].
Trong các công trình trên, đa số các tác giả nghiên cứu về quyền con người
trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung, tuy nhiên cũng có một số công trình
nghiên cứu vấn đề quyền của người TGTT như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,
người bị hại, NLC, NPD… Nhưng nhìn chung các tác giả chưa nghiên cứu thật
đầy đủ, toàn diện và có hệ thống vấn đề bảo đảm quyền của người TGTT theo
nghĩa vụ pháp lý bao gồm NLC, NGĐ, NPD trong TTHS Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, ở trong nước chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc, toàn diện về vấn đề
“Bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt
Nam’’. Vì vậy, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong giai
đoạn hiện nay ở Việt Nam.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong khoa học pháp lý quốc tế, vấn đề bảo đảm quyền con người nói
chung, bảo đảm quyền con người trong TTHS nói riêng, đã được nhiều tác giả
nghiên cứu từ nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Qua nghiên cứu các công
trình đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án, tác giả khái quát ở hai
phương diện sau đây:
- Về bảo đảm quyền con người có một số công trình nghiên cứu như:
+ Barry M. Hager, The Rule of law: A Lexicon for Policy Makers,
Mansfield Center for Pacific Affairs, 1999. Đây là tài liệu chuyên khảo đóng
góp cho Hội thảo quốc tế tại Tokyo năm 1999 về vấn đề “Nhà nước pháp
quyền: Sự thừa nhận tại châu Á”. Tác giả đã phân tích các vấn đề về nhà nước
pháp quyền theo các khía cạnh: lịch sử hình thành và các yếu tố của khái niệm


10
“Nhà nước pháp quyền” trong đó có vấn đề về quyền con người. Theo đó, vấn
đề về quyền con người gắn với nhà nước pháp quyền đã được đề cập từ năm

+ K.W. Lidstone, Human rights in the English criminal trial – Human
rights in criminal procedure, Editor: Jonh M. Andrew, United Kingdom
National Committee of Comparative Law, 1982. Bài viết nằm trong Tạp chí
Quyền con người trong TTHS của Ủy ban quốc gia về Luật so sánh của Anh
quốc phân tích về những yêu cầu nhằm đảm bảo những quyền cơ bản của con
người trong một phiên tòa hình sự tại Anh quốc như: có sự tham gia của bồi
thẩm đoàn; quyền có một bồi thẩm đoàn không thiên vị (công tâm); quyền có
một phiên tòa công bằng và thẩm phán không thiên vị; tự do báo chí tại phiên
tòa (tức báo chí phải được đưa tin một cách trung thực về diễn biến của phiên
tòa); quyền được hưởng trợ giúp pháp lý; quyền tranh luận và có người đại
diện; bị cáo phải được cho là không có tội trước khi bản án được tuyên; quyền
được giữ im lặng; quyền được kiểm tra và kiểm tra chéo với nhân chứng;
quyền kiểm tra chứng cứ và các lời buộc tội. Nhìn chung bài viết phân tích về
mặt kỹ thuật pháp lý các quyền của những người tham gia phiên tòa hình sự
đặc biệt là bị cáo [41].
+ Stephanos Stavros, The guarantees for accused persons under Article
6 of the European Convention on Human Rights, Martinus Nijhoff, 1993.
Tiến sỹ Stavros là thành viên của Hiệp hội luật sư Athens và là chuyên gia
pháp lý của Ủy ban các vấn đề về Cộng đồng chung Châu Âu thuộc Bộ Ngoại
giao Hy Lạp. Vấn đề áp dụng Điều 6 trong Công ước của Liên minh Châu Âu
về nhân quyền để bảo vệ quyền lợi của những TGTT được hưởng một phiên
tòa công bằng đã được dấy lên trong thời gian quyển sách ra đời sau hàng loạt
các tố cáo vi phạm về nhân quyền. Quyển sách phân tích một cách chuyên sâu
về các vụ án cụ thể tại các quốc gia thành viên EU và làm một phép so sánh
giữa những vụ án được xét xử dưới Công ước của Liên minh Châu Âu về
nhân quyền với những phán quyết được đưa ra dựa trên sự áp dụng của các
nước thành viên. Tác giả đã chỉ ra rằng Điều 6 đã được hiểu và vận dụng vào


12

13
giữ im lặng, quyền được xét xử một cách công bằng. Trong đó, quyền được
xét xử một cách công bằng có yêu cầu về việc phải có NLC và đề cập một số
chi tiết về quyền và lợi ích của NLC tại phiên tòa [43].
+ Traci Ellyn Sitzer, The impact of court interpreter on Juror decisionmaking, đề tài Thạc sỹ khoa học chuyên ngành Tâm lý học trường Đại học
California State University, July 2000. Đề tài đưa ra đánh giá về các yếu tố
ảnh hưởng đến bản án và sự đánh giá về bị cáo gồm: sắc tộc và sự có mặt của
NPD tại tòa. Từ đó tổng kết những ảnh hưởng quan trọng của NPD tại tòa đến
việc quyết định của Bồi thẩm đoàn về bản án dành cho bị cáo [47].
+ Morris Ploscowe The Expert Witness in Criminal Cases in France,
Germany, and Italy, Law and Contemporary Problems Vol. 2, No. 4, pp. 504509. Bài viết phân tích và so sánh vai trò và vị trí của NLC trong các phiên
tòa hình sự ở Pháp, Đức và Italia. Điểm chung của ba hệ thống trên là vai trò
của NLC đều được xem như là một người phụ trợ cho Thẩm phán hoặc
Chưởng lý trong quá trình điều tra, tìm ra sự thật vụ án [42].
+ Bas de Wilde A Fundamental Review of the ECHR Right to Examine
Witnesses in Criminal Cases, International Journal Evidence & Proof, Vol. 17,
pp. 157-182, 2013. Đây là bài viết đánh giá về việc thực thi Công ước về Nhân
quyền của Liên minh châu Âu trong việc thực thi quyền của NLC ở các phiên
tòa hình sự. Bài viết phân tích việc thực thi quyền lợi của NLC ở hai phiên tòa
điển hình của Vương quốc Anh xử vụ Al-Khawaja và Tahery và vụ Tòa án
Nhân quyền của Liên minh châu Âu phán xử vụ Ellis, Simm và Martin. Trong
cả hai phiên tòa, quyền lợi của NLC và quyền chỉ định NLC đã bị xâm phạm
nghiêm trọng khi tòa không cho phép bị cáo được lựa chọn NLC cho mình
cũng như không chấp nhận lời chứng của NLC ẩn danh (nặc danh) [34].
+ Richard J. Bonnie and Christopher Slobogin, The Role of Mental
Health Professionals in the Criminal Process: The Case for Informed
Speculation, Virginia Law Review, Vol. 66, No. 3, pp. 427-522, April 1980.


14

15
để đảm bảo quyền lợi hợp pháp và sự tham gia của NPD trong quá trình
tranh tụng tại tòa [49].
+ Susan Berk-Seligson, “The bilingual courtroom: Court interpreters in
the judicial proccess”. Tác giả đề cập từ những năm 1960, hệ thống tư pháp
Hoa Kỳ đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đa dạng ngôn ngữ
trong xã hội Hoa Kỳ đặc biệt là tại phiên tòa nên đã có một số cải cách trong
vấn đề nhận thức về NPD tại phiên tòa. NPD đã có vị trí pháp lý trong quá
trình tranh tụng tại phiên tòa hơn là một công việc được trả công hoặc với tư
cách là NLC. Nội dung của quyển sách này là nhằm đánh giá sự thay đổi của
phiên tòa khi có sự tham gia NPD với tư cách pháp lý riêng và sự thay đổi này
tác động như thế nào đến quá trình pháp lý tại phiên tòa các cấp: Liên bang,
bang và thành phố [46].
+ Kathy Laster và Veronica L. Taylor, Interpreters and the legal system.
Tác giả nêu lên thực trạng của Australia là nước có nền văn hóa đa dạng
với nhiều tiếng nói của nhiều dân tộc khác nhau, do đó vai trò của NPD rất
quan trọng, đặc biệt là trong hệ thống pháp lý; đồng thời phân tích thực trạng
việc sử dụng NPD tại Australia trong thời điểm nghiên cứu. Quyển sách tập
trung phân tích vai trò và quyền lợi của NPD trong quy trình pháp lý như quá
trình điều tra vụ án, quá trình tranh tụng tại tòa; đồng thời nêu lên những trách
nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của NPD cần có để đạt được sự chuyên nghiệp
hóa của NPD pháp lý [40].
+ Ikuko Nakane, Partial Non-use of Interpreters in Japanese Criminal
Court Proceedings, Japanese Studies, Vol. 30, No. 3, p.p 443-459, The
University of Melbourne – Australia, 2010. Bài viết nghiên cứu về quá trình
xét xử của phiên tòa hình sự Nhật Bản với sự có mặt của NPD (hay vai trò của
NPD trong phiên tòa hình sự ở Nhật Bản). Trong những năm trở lại đây, các
phiên tòa hình sự của Nhật Bản cũng đối mặt với vấn đề về gia tăng tỉ lệ bị cáo
là người nước ngoài, người không nói được tiếng Nhật. Trọng tâm nghiên cứu



17
người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS về mặt lý luận để từ đó phân
tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp
lý trong TTHS, để từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường bảo đảm quyền của
người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS Việt Nam.
Nhận thấy đây là một vấn đề khó nhưng rất quan trọng cả về lý luận và
thực tiễn, hơn nữa vấn đề này lại chưa được các công trình khoa học nghiên
cứu một cách toàn diện, hệ thống, đồng bộ và đầy đủ. Vì vậy, tác giả đã quyết
định chọn đề tài: “Bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý
trong TTHS Việt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học của mình.
2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, người TGTT được hiểu như thế nào? Có hay không có tiêu
chí phân loại người TGTT? Địa vị pháp lý của người TGTT theo nghĩa vụ
pháp lý được pháp luật TTHS quy định như thế nào?
Thứ hai, bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý được hiểu
như thế nào? Cơ chế bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý
trong hoạt động TTHS như thế nào? Cơ sở và các yếu tố bảo đảm quyền của
người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý như thế nào? Luật TTHS của một số nước
trên thế giới quy định về quyền, bảo đảm quyền của người TGTT theo nghĩa
vụ pháp lý như thế nào?
Thứ ba, thực trạng về quyền và bảo đảm quyền của người TGTT theo
nghĩa vụ pháp lý trong TTHS như thế nào? Quyền của những người này đã
được bảo đảm thực hiện có hiệu quả chưa? Quy định đến đâu? Những khoảng
trống nào cần bổ sung? Nếu quyền của những người TGTT theo nghĩa vụ
pháp lý trong TTHS không được bảo đảm thì hậu quả sẽ như thế nào?
Thứ tư, những ưu điểm, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của thực trạng bảo
đảm quyền của người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý; NLC, NGĐ, NPD khi
TGTT có được các CQĐT, VKS, TA bảo đảm quyền theo quy định của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status