nghiên cứu - trao đổi
54 Tạp chí luật học số 3/2011 PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn *
uyn con ngi l thc o quan trng
v c th hin trờn nhiu lnh vc,
trong ú cú lnh vc chớnh tr, lnh vc phỏp
lớ. Lm cho quyn con ngi tr thnh hin
thc l quỏ trỡnh mang li tin b cho xó hi.
Trong t tng hỡnh s, vic bo v quyn con
ngi c xuyờn sut trong cỏc giai on ca
quỏ trỡnh gii quyt v ỏn. Quyn con ngi
trong t tng hỡnh s c bit l i vi ngi
b bt, ngi b tm gi, tm giam l vn
nhy cm v phc tp, nú khụng ch dng li
vn lớ lun m cũn l vn thc tin
ca khoa hc phỏp lut t tng hỡnh s.
Quyn con ngi ca ngi b bt, ngi
b tm gi, ngi b tm giam trong t tng
hỡnh s c th hin c th trong cỏc quyn
v ngha v t tng ca h c phỏp lut t
tng hỡnh s ghi nhn v m bo thc hin.
Trong t tng hỡnh s, ngi b bt,
ngi b tm gi, tm giam tuy h l i
tng b buc ti hoc nghi l cú ti nhng
ti phm s cú kh nng b trn nhng
bo m cho vic bt c tin hnh thn
trng, khỏch quan cng nh bo v quyn
ca ngi b bt, BLTTHS quy nh ch
c bt khi thuc mt trong ba trng hp
ti iu 81: Khi cú cn c cho rng ngi
ú ang thc hin ti phm rt nghiờm trng
hoc ti phm c bit nghiờm trng; Khi
ngi b hi hoc ngi cú mt ti ni xy ra
ti phm chớnh mt trụng thy v xỏc nhn
Q
* Ging viờn chớnh Khoa phỏp lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2011 55
đúng là người đã thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện
tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay
việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Đồng thời, khi bắt vẫn phải có lệnh của
người có thẩm quyền là: Phó thủ trưởng cơ
quan điều tra các cấp; Người chỉ huy quân
đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương,
người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và
biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển
khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên
quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.
Khác với người bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp, người phạm tội quả tang bị bắt khi
đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi
thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị
đuổi bắt. Người bị bắt trong trường hợp phạm
tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì không
cần có lệnh bắt của cơ quan có thẩm quyền và
bất cứ ai cũng có quyền bắt rồi giải ngay đến
cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc uỷ ban
nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải
lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ
quan điều tra có thẩm quyền.
Trong năm 2008 toàn quốc có 36.597 người
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và
3.855 người bi bắt theo lệnh truy nã. Năm
2009 có 32.838 người bị bắt trong trường hợp
phạm tội quả tang và 3.831 người bị bắt theo
lệnh truy nã. Trong đó có địa phương đạt tỉ lệ
khởi tố 100% như Quảng Bình, Thái Nguyên…
(2)
Ngoài kết quả trên, trong quá trình thực
hiện còn một số bất cập. BLTTHS năm 2003
quy định chung việc bắt người phạm tội quả
tang và việc bắt người đang bị truy nã trong
cùng một điều luật là không phù hợp, vì đối
tượng và thủ tục áp dụng, những việc cần
làm sau khi tiếp nhận người bị bắt trong hai
vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật,
yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, hành vi tố
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi
ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ
phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp.
Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ
hoặc không cần thiết thì viện kiểm sát ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và
người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do
ngay cho người bị tạm giữ. Quyết định tạm
giữ ghi rõ lí do tạm giữ, ngày hết hạn tạm
giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản.
Thời hạn tạm giữ không quá ba ngày kể
từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
Trong trường hợp cần thiết người ra quyết
định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng
không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc
biệt người ra quyết định tạm giữ có thể gia
hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba
ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều
phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn;
trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề
nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc
gia hạn tạm giữ, viện kiểm sát phải ra quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê
chuẩn. Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn
cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người
bị tạm giữ. Thời gian tạm giữ được trừ vào
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2011 57
Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ lệnh tạm
giữ theo khoản 3 Điều 86 BLTTHS; 129
trường hợp trả tự do khi viện kiểm sát không
phê chuẩn quyết định tạm giữ.
Mặc dù BLTTHS đã quy định tương đối
đầy đủ nhưng trong thực tiễn thực hiện những
quy định về tạm giữ còn một số bất cập sau:
+ Về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLTTHS
thì chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có
quyền quyết định việc tạm giữ nhưng họ lại
không có quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp. Mặt khác BLTTHS
quy định tạm giữ được áp dụng đối với người
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và tất cả
những người có quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp đều có quyền ra lệnh
tạm giữ. Vậy chỉ huy trưởng vùng cảnh sát
biển có quyền quyết định việc tạm giữ trong
trường hợp nào? Điều này vẫn chưa được
giải thích một cách cụ thể.
+ Về thời hạn tạm giữ: Theo quy định tại
khoản 1 Điều 87 BLTTHS thì, thời hạn tạm giữ
được tính từ khi cơ quan điều tra nhận người
bị bắt. Tuy nhiên đối tượng tạm giữ được quy
định tại khoản 1 Điều 86 lại bao gồm cả
trường hợp người phạm tội tự thú hoặc đầu
thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố,
xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Tuy
nhiên không phải trong mọi trường hợp, khi
có căn cứ nêu trên thì bị can, bị cáo đều bị
bắt để tạm giam mà BLTTHS quy định cơ
quan có thẩm quyền có thể bắt chứ không
bắt buộc phải bắt để tạm giam.
Để bảo đảm việc bắt chỉ có căn cứ khi
pháp luật quy định và bắt đúng người cần bắt,
BLTTHS quy định những người sau đây có
thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm
giam: Viện trưởng, phó viện trưởng VKSND
và VKSQS các cấp; chánh án, phó chánh án
TAND và TAQS các cấp; thẩm phán giữ
chức vụ chánh toà, phó chánh toà phúc thẩm
TANDTC; hội đồng xét xử; thủ trưởng, phó
thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong
trường hợp thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ
quan điều tra ra lệnh thì phải được viện kiểm nghiªn cøu - trao ®æi
58 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2011
sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Khi bị bắt, bị can, bị cáo có quyền yêu
cầu người thi hành lệnh bắt đọc lệnh, giải
thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị
bắt và lập biên bản về việc bắt. Trong lệnh
phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ
của người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người
(6)
Quy
định này thể hiện việc tôn trọng quyền con
người của pháp luật ngay cả khi họ là người
bị buộc tội. Việc tôn trọng này không ảnh
hưởng đến việc điều tra, khám phá tội phạm.
Thể hiện chính sách nhân đạo, pháp luật
tố tụng hình sự quy định đối với bị can, bị
cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con
dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người
bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không
tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn
khác.
(7)
Ngoài ra, BLTTHS còn quy định
những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối
với người thân thích và tài sản của người bị
tạm giam cũng như tạm giữ tại Điều 90
BLTTHS. Khi người bị tạm giữ, tạm giam
có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc
người thân thích là người tàn tật, già yếu mà
không có người chăm sóc thì cơ quan ra
quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao
những người đó cho người thân thích chăm
nom. Nếu họ không có người thân thích thì
giao cho chính quyền sở tại chăm nom.
Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm
giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có
người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra
quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam phải áp
khiển hành vi của mình thì giám thị trại tạm
giam phải yêu cầu cơ quan đang thụ lí vụ án
trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi có
quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh của cơ quan có thẩm quyền, cơ quan
đang thụ lí vụ án phối hợp với trại tạm giam
đưa người bị tạm giam đến cơ sở chữa bệnh
nêu trong quyết định.
Trong thời gian bị tạm giam, người bị tạm
giam được cấp báo theo quy định (cứ 20
người tạm giam thì được cấp một số báo
Nhân dân hoặc báo địa phương). Giám thị trại
tạm giam tổ chức cho người bị tạm giam nghe
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đài phát
thanh hoặc truyền thanh địa phương, đọc báo
Nhân dân hoặc báo địa phương. Ngoài ra, họ
còn có thể được xem truyền hình. Nếu người
bị tạm giam là người nước ngoài thì được
nhận báo bằng tiếng nước họ mang quốc tịch
khi được cơ quan thụ lí cho phép. Người bị
tạm giam có quyền khiếu nại, tố cáo việc
tạm giam trái pháp luật. Người bị tạm giam
đã hoàn cung chờ xét xử mà chấp hành tốt
nội quy trại tạm giam có thể được xét tăng
gấp đôi số lần gặp gỡ thân nhân và tăng gấp
đôi số lần được gửi thư, nhận thư, nhận quà.
Theo thống kê, năm 2005 toàn quốc có
92.368 người bị tạm giam. Viện kiểm sát
không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 327
trường hợp và không phê chuẩn lệnh tạm
pháp luật tố tụng hình sự đối với người bị
bắt để tạm giam cũng như thực tiễn thực
hiện cho thấy:
+ Nhiều quy định của pháp luật có liên
quan đến việc bảo vệ quyền của người bị bắt, nghiªn cøu - trao ®æi
60 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2011
người bị tạm giam khó thực hiện có hiệu quả.
Nguyên nhân trước hết vẫn là các quy định
của pháp luật chưa đồng bộ, chưa cụ thể rõ
ràng, chưa đầy đủ như khoản 2 Điều 88
BLTTHS quy định: “ người già yếu,… mà
có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà
áp dụng biện pháp ngăn chặn khác trừ
trường hợp luật quy định” nhưng không có
giải thích lứa tuổi nào là già yếu, do vậy,
trong thực tiễn thường bị phủ nhận bởi ý chí
chủ quan của người tiến hành tố tụng.
BLTTHS không quy định căn cứ cụ thể bắt
bị can, bị cáo để tạm giam nên việc bắt thường
dựa vào căn cứ tạm giam dẫn đến việc áp
dụng pháp luật không thống nhất.
+ Mặc dù xu thế hiện nay là giảm thiểu
việc tạm giam và BLTTHS cũng chỉ quy
định có thể tạm giam chứ không bắt buộc
phải tạm giam nhưng trong thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử hầu hết những người
phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt
nằm tối thiểu của người bị tạm giam không
đảm bảo. Việc cấp phát các đồ dùng sinh hoạt
thiết yếu ở một số nơi còn thiếu
(10)
Bảo vệ quyền con người trong tố tụng
hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc thực
hiện pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh cải
cách tư pháp và trong xu thế hội nhập quốc tế
hiện nay. Để bảo đảm tốt hơn nữa quyền của
người bị bắt, người bị tạm giữ và người bị
tạm giam trong tố tụng hình sự, trước hết cần
phải hoàn thiện một số quy định liên quan
như đã phân tích ở trên, cụ thể như sau:
- Bổ sung khoản 2 Điều 81 BLTTHS
theo hướng chỉ huy trưởng vùng cảnh sát
biển có quyền ra lệnh bắt người trong trường
hợp khẩn cấp để phù hợp với thẩm quyền ra
lệnh tạm giữ quy định tại Điều 86 BLTTHS.
Theo đó, khoản 2 Điều 81 sẽ là: Những
người sau đây có quyền ra lệnh bắt người
trong trường hợp khẩn cấp:
a) Giữ nguyên
b) Giữ nguyên
c) Giữ nguyên
d) Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển.
- Sửa đổi khoản 4 Điều 81 BLTTHS theo
hướng trong trường hợp người chỉ huy tàu
bay, tàu biển ra lệnh bắt khẩn cấp khi tàu bay,
luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội,
2006, tr. 47.
(7). Trường hợp bị can, bị cáo là đối tượng nêu trên
nhưng bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị
cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng
tiếp tục phạm tội hoặc cố ý cản trở nghiêm trọng đến
việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội
xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng
nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại
đến an ninh quốc gia vẫn bị tạm giam.
(8). Theo Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1/1/2010), phạm vi
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố
tụng hình sự gồm 6 trường hợp:
- Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ
quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật;
- Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong
hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù
chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi
hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ
quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự
xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án
không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có
thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định
người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
(10). Báo cáo tổng kết công tác việc tạm giữ, tạm
giam quản lí và giáo dục người chấp hành hình phạt
tù năm 2009 của Vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản nghiªn cøu - trao ®æi
62 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2011
lí giáo dục người chấp hành hình phạt tù - VKSNDTC.