Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009 – 2013)
Đề Tài
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Mạc Giáng Châu
Dương Vương
Bộ môn Luật Tư Pháp
MSSV: 5095679
Lớp: Tư Pháp 1 - K35
Cần Thơ, 11/2012
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
Người tiến hành tố tụng
Tòa án nhân dân
Thành phố
Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân
Vụ án hình sự
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
2
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.......................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
4
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gọi chung là
người bị tình nghi là những đối tượng bị buộc tội bởi cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Họ tham gia trong từng giai đoạn tố tụng và tư cách xuất
hiện của họ trong từng giai đoạn cũng khác nhau. Tuy họ xuất hiện tư cách khác
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
5
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
quyết vụ án khách quan, dân chủ, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta trong vấn đề xử lý người bị tình nghi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được hoàn thành dựa trên kiến thức đã học, thu thập và tổng
hợp từ các tài liệu, các văn bản pháp luật, một số tạp chí chuyên ngành có liên quan
tới đề tài, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc
quy định liên quan đến người bị tình nghi. Đồng thời, người viết còn sử dụng
phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích luật viết để hoàn thành đề tài.
5. Bố cục đề tài
Chương 1. Khái quát chung về người bị tình nghi trong tố tụng hình sự
Chương 2. Các quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tình nghi trong
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành
Chương 3. Một số tồn tại và giải pháp của chế định về người bị tình nghi
Nghiên cứu đề tài này là một phần đóng góp của người viết góp phần để
các vụ án khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không xử
oan người vô tội và cũng không bỏ lọt tội phạm.
Mặc dù, được sự tận tình hướng dẫn của cô Mạc Giáng Châu và sự nổ lực
của bản thân. Nhưng do nguồn tài liệu tham khảo và năng lực bản thân còn hạn chế
nên đề tài khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của quý thầy cô để đề tài.
1.1.1. Khái niệm người bị tạm giữ
Người bị tạm giữ được xem là người bị tình nghi bị CQTHTT nghi ngờ cho
thực hiện một việc liên quan đến vụ án. Đây là người đầu tiên mà cơ quan tiến hành
tố tụng điều tra xem xét người đó có phạm tội hay không cũng như mức độ phạm tội
của người tạm giữ có thể bị CQĐT khởi tố hay không. Tuy nhiên, trong giai đoạn
này người bị tạm giữ có thể là người có liên quan đến vụ án hoặc không có liên
quan đến vụ án, mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa xác định được mức độ phạm tội
hoặc chưa có đầy đủ chứng cứ để khởi tố người bị tạm giữ cũng chính vì chưa xác
định chính xác có liên quan đến vụ án hay không cũng như chứng cứ buộc tội chưa
đầy đủ cho nên người bị tạm giữ vẫn có thể được xem là người bị tình nghi cũng
như mức độ và phạm tội của người tạm giữ thấp hơn so với hai chủ thể bị can, bị
cáo.
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
7
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì:
“Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,
người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với
họ đã có quyết định tạm giữ”1.
Tạm giữ là một biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi
cản trở việc điều tra khám phá tội phạm, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền
đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thể đưa ra quyết định khởi tố vụ án
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
8
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
các giai đoạn này chủ yếu vẫn còn xác định, tìm kiếm thông tin chứng minh, các
chứng cứ liên quan đến sự buộc tội của CQTHTT đối với bị can. Cho nên bị can
vẫn được xem là người bị tình nghi trong vụ án ở vị trí cao so với người bị tạm giữ.
Đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Vì theo quy định của BLTTHS năm năm 2003 thì:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật”.2 Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 thì3: “Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”. Quy định
này được hiểu rằng, khi một người đã thực hiện hoặc cho là đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, và
có đủ các căn cứ để khởi tố hình sự thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khởi tố
hình sự và khi đó họ đã trở thành bị can. Bị can tham gia tố tụng từ khi có quyết
định khởi tố đối với họ. Bị can tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và giai
đoạn xét xử. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình chỉ
vụ án; Viện kiểm sát đình chỉ vụ án; Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử vụ án) đối với bị can; hoặc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị can là
người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can.
Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử
sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình chỉ điều
tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử đối với bị can hoặc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Với những phân
VKS. Cũng như, chưa có bản án của Tòa án là có tội và bản án quyết định của Tòa
án đó chưa có hiệu lực. Vì thế, bị cáo có thể vẫn được xem là người bi tình nghi trừ
khi bản án của Tòa án đó có hiệu lực thì người bị tình nghi không còn là người bị
tình nghi nữa mà trở thành người có tội và chịu hình phạt.
Theo quy định của BLTTHS năm 1988 thì “Bị cáo là người đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử”4. Kế thừa những quy định của BLTTHS năm 1988, khái
niệm bị cáo cũng được BLTTHS năm 2003 quy định như sau: “Bị cáo là người đã
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”5. Sau khi Cơ quan điều tra thấy rằng có đủ
chứng cứ để khẳng định bị can đã phạm tội do BLHS quy định thì đề nghị VKS truy
tố. Trong quá trình chuẩn bị xét xử nếu thẩm phán được phân công chủ tọa phiên
tòa thấy rằng có đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không trả hồ sơ cho Viện
kiểm sát để điều tra bổ sung, hoặc không có căn cứ đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án
ra xét xử. Thì kể từ thời điểm này, tư cách bị can của người đó mất đi và thay vào
đó là tư cách bị cáo.
Khái niệm bị cáo là khái niệm mang tính hình thức căn cứ vào văn kiện tố
tụng áp dụng đối với người đó. Bị cáo là người bị đưa ra xét xử, là người bị tình
nghi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự trong vụ án nhưng điều đó không
đồng nghĩa với việc xác định bị cáo là người có tội theo quy định tại Điều 72 Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)“không ai bị coi là có tội và phải chịu
hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều này
cũng khẳng định lại tại Điều 9 của BLTTHS năm 2003. Mặc dù bị cáo là người đã
thực hiện tội phạm dẫn đến hậu quả phải đưa ra xét xử công khai nhưng chưa có bản
án của Tòa án có hiệu lực vẫn xem bị cáo là người bị tình nghi không thể xem một
người từ ngay khi có tư cách bị cáo là người có tội.
Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
đến khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và nếu chưa có
bản án của Tòa án có hiệu lực thì mặc nhiên có thể hiểu rằng bị cáo vẫn là đối tượng
bị tình nghi cao nhất của vụ án so với tạm giữ và bị can.
1.2. Một số nguyên tắc tố tụng cơ bản liên quan đến người bị tình nghi trong tố
tụng hình sự
tụng có thể hành động tùy ý mà không bị ràng buộc bởi những quy định của pháp
luật. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo các nguyên tắc của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người
tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự.
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc quan
trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân bao gồm các quyền lợi ích chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội...Các quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ bằng pháp luật nói chung và pháp luật tố
tụng hình sự nói riêng. Vì vậy, “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm
sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi
trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp
đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi
phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”6. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ
bản của công dân nhằm đáp ứng yêu cầu bảo đảm và đầy đủ các quyền dân chủ cơ
bản của công dân đã được quy định tại chương V Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2001) đã nghi nhận những quyền cơ bản của công dân. Cụ thể một số
quyền như: (Quyền bình đẳng trước pháp luật Điều 52, quyền tham gia quản lý xã
6
Điều 4, BLTTHS năm 2003.
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
11
2001) như sau: “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Nguyên tắc này
nhằm đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh pháp luật đối với mọi công dân, không phân
biệt nam nữ, dân tộc, tính ngưỡng, tôn giáo, thành phần địa vị xã hội… Nhà nước
phải đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng hình sự được hiểu
là khi một người đã phạm tội và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự năm1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì không phân biệt họ là ai, dân tộc nào, có tính
7
Điều 5, BLTTHS năm 2003.
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
12
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
ngưỡng hay là không, địa vị xã hội như thế nào đều xử lý theo quy định của pháp
luật. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật còn thể hiện ở chổ quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với mọi công dân đều được tiến hành dựa trên những
nguyên tắc và theo một trình tự, thủ tục thống nhất khi đó không có sự ưu tiên hay
hạn chế đối với bất kỳ người bị tình nghi nào vì lý do giới tính, nhân thân, dân tộc,
tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội của họ. Cũng như không phân biệt tội
phạm nào do ai thực hiện, địa vị trong xã hội là như thế nào đều phải trải qua tất cả
các giai đoạn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với người tham gia tố tụng là
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
13
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
phạm về thân thể cho họ. Cụ thể, khi áp dụng biện pháp bắt người và người bị tình
nghi sẽ bị hạn chế một số quyền trong một thời gian nhất định và có thể còn ảnh
hưởng về tâm lý, sức khỏe cho người bị tình nghi, tâm lý của người dân khi thấy
một ai đó bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt đều cho họ là tội phạm, trở nên sợ
hãi, xa lánh họ...Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cần đảm bảo nguyên tắc bảo đảm
quyền bất khả xâm phạm về thân thể cho người bị tình nghi.
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp do Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với những người đang thực hiện
hành vi phạm tội người đã bị khởi tố là bị can, người đã có quyết định đưa ra xét xử
là bị cáo. Trong đó việc bắt người là một trong những biện pháp nghiêm khắc nhất,
và không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn
của Viện kiểm sát. Việc bắt người là biện pháp ngăn chặn trực tiếp đến quyền xâm
phạm về thân thể của công dân, họ sẽ bị hạn chế quyền tự do đi lại, sinh hoạt, hoặc
tạm ngừng việc làm thu nhập của bản thân và hạn chế tiếp xúc với mọi người bên
ngoài trong một thời gian nhất định, và đôi khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe, danh
dự và tài sản của người bị bắt. Vì vậy, mà không ai có thể bị bắt nếu không có quyết
định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát trừ một số trường
hợp do luật quy định. Việc bắt và giam giữ phải tuân theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, vì những
hành vi đó đã xâm phạm đến các quyền tự do của công dân.
luật”9. Nghĩa là họ vẫn phải chịu một số biện pháp cưỡng chế nhất định, nhưng
không ai được xem là có tội và chịu bất kỳ một hình phạt nào khi chưa có bản án
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Trong giai đoạn xét xử, nguyên tắc này được
thể hiện ở chổ tuy họ đã bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án quyết định đưa vụ án ra
xét xử nhưng vẫn chưa bị coi là người có tội. Họ tham gia tố tụng với tư cách là bị
cáo, vì họ còn đầy đủ các quyền của một công dân. Vì vậy, người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng không được đối xử với họ như một kẻ có tội, ngay cả khi
Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và kết án bị cáo phạm vào một tội nào đó quy định tại
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và áp dụng hình phạt đối
với họ thì cũng không vì thế mà cho rằng họ đã là người bị coi là có tội mà chỉ khi
nào bản án có hiệu lực pháp luật thì họ mới bị coi là có tội và phải chịu hình phạt
theo bản án đã tuyên. Hình phạt là biện pháp chế tài nghiêm khắc mà pháp luật dành
cho một người khi có đủ các điều kiện luật định.
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng phải tạo điều kiện để bị can, bị cáo và người bào chữa sử dụng các biện pháp
do luật định để gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm bớt trách nhiệm bồi
thường thiệt hại và những quyền lợi khác. Có tội là khái niệm chỉ thuộc tính của chủ
thể mà ở đây là con người, là tính từ chỉ tính chất của sự vật, hiện tượng. Người có
tội hay bị coi là có tội là sự đánh giá của xã hội đối với một con người, cũng như ta
thường nói người này tốt, người kia xấu. Tuy nhiên, sự đánh giá một con người có
tội chỉ có Toà án mới có quyền, ngoài Toà án ra không một cơ quan, cá nhân nào có
quyền này. Hiện nay, còn không ít người quan niệm rằng, một người bị khởi tố, đã
bị bắt tạm giam, tạm giữ là có tội nên mọi người đối xử với họ với thái độ khinh
miệt, xa lánh, thậm chí những người thân của họ cũng khinh rẻ, hắt hủi, kể cả sau
một thời gian tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra chứng minh là họ không có hành
vi phạm tội, họ được trả tự do nhưng khi trở về với gia đình và xã hội vẫn bị mặc
cảm.Với nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội không chỉ ngăn chặn sự phân
biệt đối xử của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn có ý nghĩa đặc biệt là xoá sự mặc
cảm của gia đình và xã hội khi họ được Toà án tuyên vô tội.
tụng và người tiến hành tố tụng thì không thể đồng nhất các khái niệm này với nhau,
vì như thế sẽ dẫn đến sự vi phạm nguyên tắc trong hoạt động điều tra, truy tố và xét
xử.
1.2.5. Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Theo quy định tại Điều 11 của BLTTHS năm 2003 “Người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”
Quyền này luôn luôn có hai cách thực hiện người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có thể tự mình bào chữa hoặc có quyền nhờ người khác như thuê luật sư tư vấn và
bào chữa cho mình trong quá trình tố tụng. Nguyên tắc về bào chữa có quan hệ mật
thiết với những quy định về việc cấm truy bức, dùng nhục hình hoặc đe dọa dùng vũ
lực hay các hình thức gây sức ép khác. Quyền bào chữa của người bị tình nghi nói
chung cũng gắn liền với trách nhiệm tương ứng của các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng có biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện quyền đó.
Để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tình nghi là thể hiện tôn trọng, bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố và xét xử
được khách quan, toàn diện và đầy đủ và ngăn ngừa sự phiếm diện, chủ quan.
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
16
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
Quyền bào chữa cho người bị tình nghi là quyền về tố tụng mà pháp luật giành cho
họ để chống lại buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự10 .
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác
10
11
Điều 56, BLTTHS năm 2003.
Điều 132 Hiến pháp năm 1992 (sữa đổi, bổ sung năm 2001).
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
17
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
định có tội và chứng cứ xác định không có tội, những tình tiết tăng nặng và những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tình nghi.
Bên cạnh đó thì là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan
tiến hành tố tụng. Người bị tình nghi có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng
minh là mình không có tội.
Quy định trên cơ bản thể hiện được trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc xác định sự thật, bảo đảm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án,
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc xác định người tình nghi
1.3.1. Vai trò của việc xác định người bị tình nghi trong tố tụng hình sự
Việc xác định người bị tình nghi liên quan đến vụ án có vai trò rất quan trọng
trong tố tụng hình sự bảo đảm tính dân chủ và cho việc phát hiện nhanh chóng kịp
thời mọi hành vi phạm tội hoặc chưa phạm tội của người bị tình nghi gây ra. Cụ thể
trong vụ án xác định một nghi can cướp tiệm vàng. Vụ án cướp tiệm vàng ở thôn Đỗ
đã thu thập chứng cư diễn ra nhanh chóng vụ án đã truy tìm ra được kẻ đã thực hiện
hành vi phạm tội là Lê Văn Trê 13 giết hại cô gái ở cùng nhà trọ tại phường Hiệp
Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 12/9/ 2008 chứng minh vai
trò của chứng cứ trong việc phá án. Nhờ thu thập được vật chứng của vụ án là bao
tay, dây dù, con dao mà bị cáo dùng để cắt cổ hai nạn nhân ở cùng khu nhà trọ mà
công an Quận 12 đã bắt được hung thủ. Thêm vào đó, trong thực tiễn hoạt động giải
quyết các vụ án hình sự xác định chính xác người bị tình nghi đã giúp được cơ quan
điều tra tìm ra được vật chứng nhanh chống và khởi tố, truy tố đúng người đúng tội.
Ví dụ vụ án giết người hiếp dâm ở xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, Cần Thơ Cơ
quan điều tra nhanh chống thu giữ đầy đủ các vật chứng kết hợp với các hoạt động
điều tra liên quan như giám định 14… mà Cơ quan điều tra đã truy tìm ra thủ phạm
vụ án “giết người” và “hiếp dâm” vào ngày 20/7/2012. Nhờ thu giữ được một số vật
chứng quan trọng như: một điếu thuốc lá hút dở, một sợi lông màu đen, kết hợp với
thu giữ mẫu máu nạn nhân, mẫu tinh dịch trong âm đạo khi khám nghiệm tử thi, Cơ
quan điều tra đã vạch ra hướng điều tra nên tiến hành lấy lời khai, lấy mẫu máu, lấy
lông bộ phận sinh dục của người bị tình nghi, đem giám định ADN. Kết quả,
Nguyễn Thanh Lâm sinh năm 1970 và Phạm Minh Trí sinh năm 1991 cùng trú tại
xã Phú Hữu, huyện Long Phú, Sóc Trăng và Phan Thanh Dương sinh năm 1994 xã
Xuân Thắng, huyện Thới Lai, Cần Thơ cúi đầu nhận tội.
Nếu không thực hiện các hoạt động xác định là người bị tình nghi một cách
chính xác và không xác minh các nguồn tin về người tình nghi thiếu khách quan mà
tiến hành ngay các hoạt động điều tra, truy tố, kể cả áp dụng biện pháp cưỡng chế tố
tụng sẽ dẫn đến nhiều trường hợp bất lợi, sau một thời gian điều tra không xác định
được dấu hiệu của phạm tội của người bị tình nghi, không chứng minh được là
người phạm tội mà cơ quan tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế dẫn đến tình
trạng kết thúc điều tra và truy tố thiếu chính xác cho đến xét xử sẽ dẫn đến người bị
tình nghi bị oan hoặc trong quá trình xét xử phát hiện ra thì phải quyết định đình chỉ
tố tụng hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
1.3.2. Ý nghĩa của việc quy xác định về người bị tình nghi
Trong việc xác định là người bị tình nghi nó có vai trò rất lớn trong hoạt
án hình sự bảo đảm cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội. Bởi vì,
chỉ có thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh kịp thời các nguồn tin về tội
phạm mới có điều kiện làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không.
Nếu hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án không được tiến hành khẩn
trương, đầy đủ sẽ có thể không phát hiệu ra dấu hiệu tội phạm, dẫn đến việc ra quyết
định không khởi tố vụ án, bỏ lọt tội phạm. Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu
cho các hoạt động điều tra. Chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt
động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt. Khởi tố vụ án tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Sau khi đã khởi tố vụ án, hoạt động điều tra
không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấu hiệu tội phạm nữa mà chỉ tập
trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm.
Khởi tố vụ án góp phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân được
pháp luật bảo hộ. Nếu không thực hiện các hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin
về tội phạm mà tiến hành ngay các hoạt động điều tra, kể cả áp dụng biện pháp
cưỡng chế tố tụng sẽ dẫn đến nhiều trường hợp sau một thời gian điều tra không xác
định được dấu hiệu của tội phạm, không chứng minh được người bị áp dụng biện
pháp cưỡng chế có hành vi nguy hiểm cho xã hội nên phải quyết định đình chỉ tố
tụng thì người này đã bị xâm phạm quyền tự do thân thể. Để xác định dấu hiệu của
tội phạm trong giai đoạn khởi tố vụ án không áp dụng biện pháp cưỡng chế nên bảo
đảm quyền tự do dân chủ của công dân.
Như vậy, việc xác định chính xác người bị tình nghi có ý nghĩa trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự là tạo điều kiện thuận lợi cho các CQTHTT và hoạt động
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
20
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
quả điều tra là cơ sở để Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc
quyết định đình chỉ vụ án. Khi kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định tội phạm và
bị can, Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Viện kiểm sát chỉ
có thể quyết định truy tố bị can khi vụ án đã được điều tra, có bản kết luận điều tra
kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án. Nếu vụ án chưa được điều tra hoặc điều tra không
đầy đủ mà Viện kiểm sát không có khả năng bổ sung thì không thể quyết định truy
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
21
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
tố bị can và hồ sơ vụ án phải được trả lại để điều tra bổ sung. Kết quả điều tra là cơ
sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội.
Tòa án chỉ có thể xét xử vụ án trên cơ sở vụ án đã được điều tra, lập hồ sơ và
có quyết định truy tố bằng bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Thiếu hoạt động điều
tra, không có hồ sơ vụ án, Tòa án không có cơ sở để xét xử. Kết quả của hoạt động
điều tra càng cụ thể, chính xác, càng thu thập được đầy đủ các chứng cứ bao gồm cả
chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình
tiết khác của vụ án thì càng tạo điều kiện cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật. Nếu điều tra chưa thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập
chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Tòa án không thể đưa
vụ án ra xét xử mà phải trả lại hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung.
Như vậy, với vai trò của Cơ quan điều tra phân tích ở trên thì việc xác định
người bị tình nghi đúng đối tượng góp phần ý nghĩa cho việc điều tra một cách dễ
nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra vụ án thì Viện kiểm sát
quyết định trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nếu phát hiện có những căn cứ
không cho phép tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc với bị can hay trường
hợp theo quy định của pháp luật xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án để bảo vệ
quyền lợi cho bị can.
Như vậy, từ những vai trò của việc truy tố trên cho thấy được việc xác định
là người bị tình nghi hết sức quan trọng có ý nghĩa tạo tiền đề cơ sở pháp lý để Tòa
án quyết định đưa vụ án ra xét xử đồng thời quyết định truy tố của Viện kiểm sát
cũng xác định phạm tội hậu quả người bị tình nghi gây ra.
Thứ tư, ý nghĩa trong xét xử như đã biết xét xử là chức năng quan trọng nhất
của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung. Nhằm áp
dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ
của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua
trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu
cực của các cơ quan trước đó sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba
giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án
ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ
án như đã biết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của Toà án có thẩm quyền
xem xét và giải quyết vụ án hình sự để xác định một người có tội hay không có tội.
Nếu có tội thì người đó phạm tội gì, được quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật
hình sự và hình phạt áp dụng đối với người đó. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
phải tuân theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự.
Như vậy, với vai trò của giai đoạn xét xử như thế đã cho thấy được tầm quan
trọng việc xác định là người bị tình nghi trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử
người bị tình nghi xuất hiện với tư cách là bị cáo, cũng như các hoạt khởi tố, điều
tra, truy tố việc xác định người bị tình nghi có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của
từng cơ quan với ý nghĩa xác định người bị tình nghi trong giai đoạn xét xử này là
đối với việc bảo vệ và lợi ích của họ. Đôi khi một số đối tượng là người bị tình nghi
khi tham gia vào hoạt động tố tụng họ còn nhiều hạn chế về kiến thức pháp luật và
không hiểu biết pháp luật đã quy định những gì, cũng như các quyền và nghĩa vụ của
mình khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự một phần nào đó do công tác tuyên
truyền, giáo dục pháp luật của mọi người trong xã hội còn hạn chế. Nhiều nơi còn
chưa hiểu pháp luật đã quy định những gì và còn xem nhẹ nên người bị tình nghi
không nắm bắt kịp thời của pháp luật. Cụ thể, trong vụ án Vũ Tuấn Linh trú tại thôn
Tân Mai, xã Đồng Mai, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh bị CQĐT huyện Yên
Hưng khởi tố về tội “ trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS. Khi điều tra viên hỏi
về nguyên nhân hành vi thực hiện phạm tội thì Linh nói chỉ mượn vài ngày rồi trả lại
không biết lấy tài sản không hỏi chủ là vi phạm pháp luật bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Trong vụ án này một phần do anh Linh hạn chế về kiến thức pháp luật dẫn
đến những vi phạm về pháp luật, một phần nữa là do công tác tuyên truyền giáo dục
pháp luật trong xã hội còn hạn chế đối với anh Linh nói riêng và mọi người nói
chung. Có thể thấy rằng, ngay từ lúc đầu đã có sự hạn chế kiến thức về pháp luật dẫn
đến vi phạm pháp luật còn không biết. Khi tham gia vào quá trình tố tụng tất nhiên
họ sẽ không biết quyền và nghĩa vụ như thế nào. Vì vậy, các CQTHTT, NTHTT
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
24
Luận Văn Tốt Nghiệp: Quy Chế Pháp Lý Về Người Bị Tình Nghi Trong Tố Tụng Hình Sự
Việt Nam
phải đảm bảo cho họ quyền được giải thích quyền và nghĩa để họ có thể thực hiện
quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia vào quá trình tố tụng.
Về mặt xã hội, thì công tác tuyên truyền kiến thức pháp luật của địa phương,
hiện ngay từ khi một người là bị tình nghi. Theo đó, khi người bị tình nghi nói chung
sẽ được giải thích và hiểu được các quyền và nghĩa vụ của họ thì sẽ có cơ sở để họ
thực hiện các quyền tiếp theo của họ. Đây là một quyền hết sức cần thiết đối với
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu
SVTH: Dương Vương
25