tóm tắt luận án quyền bào chữa của bị can ,bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 19


1
Phần 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người (QCN) là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, là một trong
những giá trị quý báu nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày nay.
Những giá trị nền tảng tạo nên QCN là: Nhân phẩm - Tự do - Bình đẳng - Nhân đạo -
Khoan dung và Trách nhiệm. Đây là những giá trị vốn có ở tất cả các nền văn hóa,
được quố
c tế hóa nhằm bảo vệ nó trong đời sống xã hội. Trong các quyền cơ bản đó,
QCN trong tố tụng hình sự (TTHS), trong đó có quyền trẻ em và việc bảo đảm quyền
trẻ em là rất quan trọng.
Việt Nam đang trong tiến trình cải cách tư pháp (CCTP) nhằm xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn bộc
lộ nhiều hạn chế, vấn đề bảo đảm QCN nhấ
t là quyền bào chữa (QBC) của bị can, bị
cáo nói chung và của bị can, bị cáo là người chưa thành niên (CTN) nói riêng còn có
hạn chế, sai sót.
Xét từ góc độ quy định pháp luật, Bộ luật TTHS năm 2003 đã dành một chương
riêng (chương XXXII) quy định về thủ tục đối với người CTN. Thực tiễn áp dụng
pháp luật cho thấy những quy định của Bộ luật TTHS 2003 đối với người CTN phạm
tội tuy đã tương
đối hoàn chỉnh, nhưng không khó để nhận thấy tính chưa chặt chẽ,
chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của các quy định này. Những bất
cập này đã dẫn đến sự tùy tiện của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và người THTT
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN. Với những vấn đề nêu trên,
quy định của pháp luậ
t TTHS đối với người CTN phạm tội đặt ra những vấn đề cần
phải hoàn thiện theo hướng cần thiết phải có những quy định cụ thể, chặt chẽ, thống
nhất hơn nữa trong Bộ luật TTHS về thủ tục tố tụng đối với bị can, bị cáo là người

định pháp luật về quyền này.
Thứ hai, xác định, phân tích được các yếu tố tạo nên tính chất đặc thù của bị can,
bị cáo là người CTN nh
ư chủ thể đặc biệt tham gia tố tụng.
Thứ ba, phân tích và đánh giá được thực trạng quy định pháp luật về QBC của bị
can, bị cáo là người CTN cũng như quy định pháp luật về cơ chế đảm bảo thực thi
quyền này.
Thứ tư, phân tích và đánh giá quy định pháp luật của một số quốc gia điển hình
về QBC của bị can, bị cáo là người CTN.
Thứ nă
m, trên cơ sở so sánh quy định pháp luật Việt Nam về QBC của bị can, bị
cáo là người CTN với kinh nghiệm của một số nước, đưa ra được các kiến nghị nâng
cao hiệu quả nhằm đảm bảo thực thi quyền này.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu có thể hiểu là đối tượng nghiên cứu được khảo sát, nghiên
cứu trong phạm vi nhất
định về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu.
Về mặt thời gian:
- Về văn bản pháp luật, luận án chủ yếu được viết trên cơ sở phân tích, đánh giá
quy định pháp luật TTHS từ năm 1998 đến nay. Bên cạnh đó để làm rõ quá trình hình
thành và phát triển của chế định QBC nói chung và QBC của bị can, bị cáo là người

3
CTN nói riêng luận án có để cập tới những nội dung chủ yếu của quy định pháp luật
về vấn đề này từ giai đoạn năm 1945.
- Về số liệu khảo sát thủ tục TTHS, luận án sẽ phân tích trên các số liệu từ trước
năm 2009 đến năm 2012.
Về mặt không gian, đối tượng nghiên cứu sẽ được phân tích và đánh giá qua quy
định pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước Cộng hòa

và thực tiễn v
ề QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong TTHS Việt Nam. Bên
cạnh đó, để có thêm tính thuyết phục cho cơ sở thực tiễn và lý luận của việc đưa ra
các kiến nghị, luận án thực hiện việc phân tích, so sánh với pháp luật tố tụng của một

4
số nước trên thế giới trong lĩnh vực liên quan. Việc lựa chọn hệ thống pháp luật nước
ngoài để so sánh được dựa trên các tiêu chí như tính tương đồng về các điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tính chất điển hình về cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn
của hoạt động TTHS liên quan tới đối tượng nghiên cứu của luận án.
3.2. Đối t
ượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu khoa học là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem
xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu. Đối với luận án, đối tượng nghiên cứu được
xác định là QBC của bị can, bị cáo là người CTN theo quy định của pháp luật Việt
Nam và pháp luật một số quốc gia.
4. Những điểm mới của luận án
Luận án đã làm rõ được một s
ố những vấn đề lý luận về QBC của bị can, bị cáo
là người CTN trong TTHS Việt Nam; đánh giá được vai trò của QBC và xác định rõ
những đặc điểm về nội dung và hình thức thực hiện QBC của bị can, bị cáo là người
CTN trong TTHS Việt Nam;
Luận án đã khái quát được pháp luật TTHS Việt Nam về QBC nói chung và của
bị can, bị cáo là người CTN nói riêng và làm rõ được sự hình thành, phát triển của chế
định này trong pháp luật TTHS Việt Nam, rút ra những k
ế thừa cần thiết cho việc tiếp
tục hoàn thiện chế định này;
Luận án đưa ra được những thông tin khoa học về chế định QBC của người bị
buộc tội là người CTN trong pháp luật của Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên
bang Nga và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đó là những quốc gia đại diện cho các

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu ngoài nước, có những điể
m tương
đồng với pháp luật Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực TTHS. Những quy trình TTHS
đặc biệt đối với người CTN khi tham gia vào VAHS. Những quy định đối với người
THTT là cần phải có kiến thức, sự am hiểu về tâm sinh lý đối với người CTN khi tiến
hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử người CTN phạm tội. Tuy nhiên, so với
những quy định về thủ tục TTHS đặc biệt đối vớ
i người CTN, pháp luật nước ngoài
cũng có những điểm ưu việt, nổi trội hơn. Đặc biệt, đa số các quốc gia đều có Tòa án
chuyên trách để xét xử người CTN và xây dựng riêng luật cho người CTN (Law for
parents Counselors). Để có thể đảm bảo cho người CTN thực hiện được đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, pháp luật nước ngoài cũng quy định rất chặt chẽ
các hoạt động củ
a các cơ quan THTT như cơ quan điều tra, viện công tố, tòa án và kể
cả người THTT bằng việc xây dựng các đạo luật riêng cho từng đối tượng cụ thể, như
Đạo luật Thẩm phán Tòa án và Đạo luật Cảnh sát hình sự và Chứng cứ 1984.v.v
Tuy vậy, một cách tổng quan có thể thấy các tài liệu nước ngoài chủ yếu đề cập
đến QCN nói chung và QCN trong TTHS và các quyền này đều có nền tảng từ các
quy định củ
a Công ước châu Âu về QCN. Nhiều vấn đề lý luận quan trọng như làm
thế nào để bảo đảm quyền cơ bản của công dân khi tham gia TTHS, đó là QBC; cơ
chế bảo đảm thực thi QBC theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS ra sao…còn bị bỏ ngỏ
hoặc đã được đề cập ở mức độ nhất định nhưng còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất,
chưa đầy đủ. Do vậy,
đa số các công trình chủ yếu phân tích các quy định của pháp
luật thực định, có so sánh với thực tiễn để tìm ra những bất cập, hạn chế về QBC nói
chung và của người CTN riêng trong TTHS.

hỏi cần phải có tòa án chuyên trách để xét xử những vụ án liên quan tới người CTN.
Hơn nữa, Nhà nước ta đã sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và đang nghiên cứu sửa
đổi, bổ sung Luật Tổ chức TAND và các văn bản pháp luật khác có liên quan, đồng
thời triển khai thự
c hiện Nghị quyết 49 về CCTP thì việc tổ chức, thành lập tòa án cho
người CTN là phù hợp với thực tiễn.
Điều này cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn
nữa để từng bước hoàn thiện quy định pháp luật TTHS trong giải quyết vụ án do
người CTN thực hiện là việc làm cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiệ
n
nay.
2. Mục tiêu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu

7
Mục tiêu nghiên cứu có thể hiểu là câu trả lời cho câu hỏi việc thực hiện luận án
để làm cái gì? Với cách tiếp cận này, chúng tôi xác định mục tiêu của luận án là đề
xuất các giải pháp pháp lý hoàn thiện quy định pháp luật về QBC của bị can, bị cáo là
người CTN, đặc biệt là các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế thực thi
quyền này.
2.2. Cơ sở lý thuyết
2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Nh
ằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của luận án, chúng tôi đặt ra các câu hỏi
nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, có hay không sử ảnh hưởng của lý thuyết về QBC của bị can, bị cáo
nói chung và bị can, bị cáo là người CTN nói riêng đến hiệu quả cơ chế đảm bảo thực
thi quyền này?
Thứ hai, những yếu tố nào tạo nên tính chất đặc thù của bị can, bị cáo là người
CTN như chủ thể

một giả thuyết sai vẫn còn hơn không đặt ra một giả thuyết nào vì giả thuyết nghiên
cứu sẽ giúp chúng tôi có định hướng rõ hơn trong nghiên cứu. Dựa theo các câu hỏi
nghiên cứu đã được đưa ra, chúng tôi có các giả thuyết nghiên cứu như sau:
Giả thuyết thứ nhất, lý thuyết về QBC của bị can, bị cáo nói chung và bị can, bị
cáo là người CTN nói riêng có ảnh hưởng đến hiệu quả cơ chế đảm bảo thực thi
quyền này.
Giả thuyết thứ hai, yếu tố tâm, sinh lý là những yếu tố nào tạo nên tính chất đặc
thù của bị can, bị cáo là người CTN như chủ thể đặc biệt tham gia hoạt động tố tụng.
Những yếu tố này có thay đổi theo sự thay đổi của môi trường sống (kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội…).
Giả thuyết thứ ba, tính chất đặc thù của bị can, bị cáo là người CTN như chủ thể
đặc biệt tham gia tố tụng đã chưa được thể hiện đầy đủ, rõ ràng trong quy định pháp
luật về QBC của các chủ này.
Giả thuyết thứ tư, với các nguyên nhân khách quan, chủ quan, việc áp dụng quy
định pháp luật về QBC của bị can, bị cáo là người CTN chưa có tính hiệu quả và cần
phải có những giải pháp để hạn chế sự vi phạm QBC của bị can, bị cáo là người CTN.
2.2.4. Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu
Luận án kế thừa (có chọn lọc, phân tích, đánh giá) các kết quả nghiên cứu đã
đượ
c công bố trước đó với mục đích bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan tới đối tượng nghiên cứu của luận án.
Luận án sẽ được thực hiện theo hướng gắn kết chặt chẽ pháp luật với các học
thuyết khoa học cũng như thực tế cuộc sống, thực tiễn áp dụng pháp luật. Cách tiếp
cận này sẽ cho phép đánh giá tính phù h
ợp, tính tương thích của quy định pháp luật
với lý luận và thực tiễn. Kết cấu các chương của luận án phản ánh hướng tiếp cận này.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, việc đánh giá tính phù hợp, tính tương thích
của quy định pháp luật Việt Nam về QBC của bị can, bị cáo là người CTN được tiếp
cận theo hướng không chỉ gói gọn việc nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam.
Như

Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để
làm rõ đối tượng nghiên cứu. Quá trình thực hiện luận án không thể tách rời các
nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp phân tích, so sánh đã được sử dụng khi phân tích nh
ững quy định
của Bộ luật TTHS 2003, kết quả nghiên cứu so sánh còn chỉ ra được những ưu điểm
và hạn chế, bất cập của chúng và so sánh với yêu cầu của CCTP để xác định những
định hướng hoàn thiện Bộ luật TTHS 2003. Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi
đưa ra những đánh giá về thực trạng của Bộ luật TTHS 2003 liên quan đến QBC của
người CTN phạm t
ội khi tham gia hoạt động TTHS, những kiến nghị hoàn thiện Bộ
luật TTHS 2003. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khảo sát thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử của các cơ quan THTT tại một số tỉnh, thành, nghiên cứu hồ sơ, tài
liệu các vụ án làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, phương pháp đàm thoại
cũng được tiến hành để trao đổi với các chuyên gia làm công tác thực tiễ
n như thẩm
phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư và những người làm công tác nghiên cứu về
pháp luật TTHS. Phương pháp tiếp cận được thực hiện nhằm làm rõ ý kiến của các

10
đối tượng được hỏi ý kiến về những nội dung cụ thể làm cơ sở cho việc đánh giá, đề
xuất những kiến nghị cụ thể. Như vậy có thể nói luận án được thực hiện trên sự kết
hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.
Phần 3
NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤ
N ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. Khái niệm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên


11
Sau đó, những bản Hiến pháp tiếp theo đều quy định nội dung này. Cụ thể, tại Hiến
pháp năm 1959 quy định tại Điều 101 như sau: “Quyền bào chữa của người bị cáo
được bảo đảm”. Tiếp đến, Hiến pháp năm 1980 (Điều 133) – Hiến pháp năm 1992
tiếp tục khẳng định QBC được bảo đảm. Tại Điều 132 – Hiến pháp năm 1992 quy
định: “Quy
ền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các
đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa”. Kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 quy
định rõ hơn về QBC của công dân. T
ại khoản 4, Điều 31 Hiến pháp 2013 đã quy định
rất cụ thể: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền
tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Như vậy, có thể
thấy Hiến pháp mới đã mở rộng phạm vi các đối tượng được đảm bảo QBC, không
chỉ bị cáo mới có QBC như các Hiến pháp cũ quy định, mà ngay từ khi một người bị
bắt đã phát sinh quyền tự bào chữa, hoặc nhờ luật sư bào chữa đối với họ, được đảm
bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Điều này cũng hoàn toàn
phù hợp, thể chế hóa ở một mức độ cao hơn đối với các quy định về đả
m bảo QBC
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Bộ luật TTHS 2003. Cụ thể tại các Điều 48, 49,
50 Bộ luật TTHS đều quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền: “tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Đồng thời được cụ thể hóa tại Thông tư 70/TT-
BCA ngày 10-10-2011 về đảm bảo QBC trong giai đoạn điều tra VAHS.
Điều 4 của
Thông tư quy định: “Khi giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, quyết định
khởi tố cho bị can, Điều tra viên phải đọc và giải thích cho họ biết rõ về quyền, nghĩa
vụ của người bị tạm giữ, bị can theo quy định tại Điều 48, 49 Bộ luật tố tụng hình sự
và lập biên bản giao nhận quyết

1.2.2.1 .Các hình thức thực hiệ
n quyền bào chữa
Về quyền tự bào chữa
Tự bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù được pháp luật ghi nhận và bảo đảm
cho phép bị can, bị cáo tự thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng nhằm minh
oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS của mình. Tự bào chữa là một trong
những hình thức thực hiện QBC của bị can, bị cáo và là nộ
i dung quan trọng của QBC
trong TTHS. Pháp luật cho phép họ được tự mình thực hiện các hành vi tố tụng, như
dùng lý lẽ đưa ra chứng cứ và những yêu cầu có lợi cho mình khi tham gia tố tụng mà
không nhất thiết phải có sự tham gia của NBC.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm tự bào chữa cho
bị can, bị cáo là người CTN như sau:“ Tự bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù
được pháp luật ghi nhận và b
ảo đảm cho phép bị can, bị cáo là người chưa thành
niên tự mình có thể thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng nhằm bác bỏ sự
buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình”.
Về quyền nhờ người khác bào chữa
Quyền nhờ người khác bào chữa là hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư hay
những người khác theo quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ
cho bị can, bị cáo thực
hiện QBC của mình khi họ không đủ khả năng tự mình thực hiện hoặc trong những
trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có NBC nhằm bảo đảm tính khách quan
và tính hợp pháp của các hoạt động TTHS. Quyền nhờ người khác bào chữa là một
phần QBC và là một đảm bảo quan trọng để bị can, bị cáo thực hiện các quyền tố tụng
khác mà pháp luật quy đị
nh để bào chữa trước sự buộc tội của cơ quan THTT.

13
1.2.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện QBC của bị can, bị cáo CTN trong

tra chủ yếu thuộc về CQĐT. Để bảo đảm QBC, CQĐT phải tạo những điều kiện cho
bị can tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác thực hiện QBC, đặc biệt là đối với
người CTN.
Trách nhiệm của cơ quan Viện kiểm sát
Trách nhiệm của cơ quan THTT trong đó có Viện kiểm sát đảm b
ảo cho bị can,
bị cáo nói chung thực hiện QBC là một bộ phận hợp thành nội dung của nguyên tắc
bảo đảm QBC của bị can, bị cáo. Viện kiểm sát phải tạo những khả năng thực tế,
những điều kiện cần thiết và những biện pháp do pháp luật quy định để bị can, bị cáo

14
là người CTN có thể hưởng những quyền mà pháp luật quy định cho họ; đồng thời tạo
điều kiện cho NBC có thể tham gia tích cực vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể đặc biệt này. Thêm vào đó, bằng chức năng, hoạt động của
mình, Viện kiểm sát phải ngăn ngừa, hạn chế và xử lý kịp thời các hành vi gây cản trở
hoặc xâm hại
đến QBC của bị can, bị cáo là người CTN. Trách nhiệm của Viện kiểm
sát thể hiện qua các hoạt động của kiểm sát viên. Kiểm sát viên trong VAHS vừa thực
hiện chức năng buộc tội, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động TTHS. Chính vì lẽ đó, kiểm sát viên phải rất khách quan và thận
trọng trong hoạt động của mình. Trong các giai đoạn TTHS từ khởi tố, đ
iều tra, xét xử
có nhiều chủ thể tham gia vào mỗi giai đoạn cụ thể, trong đó Viện kiểm sát là cơ quan
duy nhất tham gia trong tất cả các giai đoạn của TTHS. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát
trong việc bảo đảm QBC của bị can, bị cáo là người CTN được thể hiện ở những hoạt
động sau: kiểm sát việc khởi tố, điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặ
n của các
cơ quan THTT; đảm bảo QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong giai đoạn hồ sơ
chuyển sang Viện kiểm sát và giai đoạn xét xử.
Trách nhiệm của cơ quan Tòa án

t.
Đó không phải là gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử như một số người
THTT thường nghĩ. Khi giải quyết VAHS, cơ quan THTT phải nhận thức rằng:
-Là người trực tiếp giải quyết VAHS, hơn ai hết người THTT phải am hiểu thấu
đáo những quy định của pháp luật về QBC của bị can, bị cáo là người CTN. Họ có
nghĩa vụ phải giải thích cho bị can, bị
cáo là người CTN hiểu rõ QBC, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi để những chủ thể này và NBC thực hiện QBC. Muốn vậy, ngoài
việc nâng cao năng lực chuyên môn những người THTT phải có ý thức tuân thủ và
nhận thức một cách nghiêm túc và đúng đắn về vấn đề này;
-Sự tham gia của NBC là yếu tố khách quan để vụ án giải quyết được đúng đắn.
NBC có vai trò quan trọng trong việc đưa ra nh
ững chứng cứ và đánh giá chúng giúp
cơ quan THTT tránh được thiếu sót đáng tiếc có thể xảy ra khi giải quyết vụ án. Về
phía NBC, họ là những người am hiểu pháp luật cùng với việc tham gia tố tụng để
bảo vệ bị can, bị cáo là người CTN họ còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật vì thế, hơn ai
hết, NBC nhận thức rất đầy đủ về vấn đề này. Bảo vệ
bị can, bị cáo là người CTN
không có nghĩa là giúp họ lẩn tránh hoặc thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật đối
với hành vi phạm tội mà bị can, bị cáo là người CTN đã gây ra, mà phải trên cơ sở
của pháp luật bảo đảm nguyên tắc không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Cùng với trình độ chuyên môn và kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa thành thạo
với tinh thần trách nhiệm đạ
o đức nghề nghiệp, khi đã nhận thức đúng đắn bản chất
của việc bào chữa thì chắc chắn NBC sẽ thành công trong việc bào chữa và giúp bị
can, bị cáo là người CTN thực hiện tốt hơn QBC của họ.
Việc tham gia tố tụng của NBC không chỉ bảo vệ bị can, bị cáo mà còn là một
hình thức giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan THTT. Sự có mặt của NBC
trong một số
trường hợp góp phần vào việc phòng chống các hiện tượng bức cung,

huyện liên bang, thì bất kỳ người nào dưới 18 tuổi được coi là người CTN. Trong một
số tiểu bang khác như New York, Connecticut và North Carolina, một người CTN là
độ tuổi từ 16 tuổi hoặc ít hơn, và trong Georgia, Illinois, Louisiana, Massachusetts,
Michigan, Missouri, New Hampshire, South Carolina, Texas và Wisconsin thì người
đủ 17 tuổi hoặc ít hơn thì được coi là người CTN.
- QBC của bị can là người CTN trong giai đoạn điều tra: pháp luật TTHS củ
a
Hoa Kỳ quy định rất rõ ràng các trình tự khi bắt giữ, tạm giam một người CTN. Trong
quá trình tiếp nhận điều tra, người CTN phạm tội có các quyền như sau: quyền được
đọc lời cảnh báo Miranda; quyền từ chối trả lời cảnh sát khi chưa có cha mẹ hoặc luật
sư (quyền im lặng); quyền được tham khảo với một luật sư và có một luật sư trước khi
bắt
đầu cuộc thẩm vấn chính thức; quyền được gọi cho cha mẹ khi bị tạm giữ; quyền
được cử luật sư để đại diện (đây là một quyền Hiến định).
- QBC của bị cáo là người CTN trong hoạt động xét xử. Cũng giống như Cộng
hòa Pháp, khi bị cáo là người CTN bị đưa ra xét xử trước Tòa án vị thành niên thì sự
tham gia của luật sư để bào chữa cho bị cáo là b
ắt buộc. 17
1.3.3. Trong tố tụng hình sự Liên Bang Nga
Khi nghiên cứu Bộ luật TTHS Liên Bang Nga, chúng tôi nhận thấy có nhiều nét
tương đồng giữa Bộ luật TTHS Liên Bang Nga và Bộ luật TTHS Việt Nam. Bộ luật
TTHS Liên Bang Nga đã dành hẳn một chương riêng là Chương XVI (phần thứ 4)
quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với vụ án do người CTN thực hiện. Tuy
nhiên, Điều 391 Bộ luật TTHS Liên Bang Nga quy định thủ tục c
ủa Chương XVI
được áp dụng đối với các vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi tại thời điểm
thực hiện tội phạm mà không quy định độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS.

18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của bị can, bị
cáo là người chưa thành niên
2.1.1. Quy định của pháp luật TTHS về quyền bào chữa của bị can, bị
cáo là người chưa thành niên trước khi pháp điển hóa luật TTHS (năm 1988)
Trong pháp luật TTHS Việt Nam, nh
ững bảo đảm pháp lý về QBC của người
CTN luôn gắn liền với những quy định pháp luật liên quan đến chế định về QBC của
bị can, bị cáo nói chung. Chính vì vậy, việc tìm hiểu những quy định của pháp luật
TTHS về QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong TTHS Việt Nam không thể tách
rời quá trình hình thành và phát triển chế định về QBC nói chung. Trong phần này,
việc nghiên cứu được bắt đầu với thời điểm l
ịch sử của việc ra đời nước Việt Nam
dân chủ Cộng hòa vào năm 1946. Đây là thời điểm chấm dứt sự tồn tại của chế độ
quân chủ chuyên chế qua nhiều thế kỷ, đồng thời đánh dấu sự khởi đầu của quá trình
hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam trong một thể chế
mới.
2.1.2. Quy định của pháp lu
ật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của bị
can, bị cáo là người chưa thành niên theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988
2.1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của bị
can, bị cáo là người chưa thành niên theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
2.2 Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành
niên trong t
ố tụng hình sự
Để đánh giá việc thực hiện QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong TTHS có
căn cứ và cơ sở khoa học nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế bảo đảm QBC của bị can,

a thành niên ở Việt Nam hiện nay
Hiến pháp 2013 đã khẳng định Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Điều
2). Có thể nói cùng với sự khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, vấn
đề QCN đã được nâng lên tầm cao mới. Về mặt nhận thức chỉ đến năm 1994 tại Hội
nghị đại biểu toàn quốc c
ủa Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII khái niệm “Nhà nước pháp
quyền” mới chính thức được nêu lên. Hiện nay trong khoa học pháp lý thế giới và ở
nước ta còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh các dấu hiệu đặc trưng của nhà
nước pháp quyền. Có thể thấy rằng bên cạnh một số khác biệt thì điểm giống nhau
giữa các quan điểm này vẫn là sự khẳng định một trong nhữ
ng dấu hiệu đặc trưng của
nhà nước pháp quyền là vấn đề tôn trọng và bảo đảm toàn diện QCN, quyền công dân.
Tư tưởng hòa hợp giữa lợi ích cá nhân và nhà nước là một trong những nội dung của
học thuyết về nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền hiện nay là nấc thang phát
triển cao nhất của tự do và là sự phản ánh của tự do trong các văn bản pháp lý. Nhà
nước pháp quyền là hình thức hạn chế
quyền lực bằng tự do và QCN. Tự do và quyền
của cá nhân là đối trọng quan trọng của quyền lực nhà nước. Vì vậy, tính ưu tiên của
QCN trong quan hệ với nhà nước là nền tảng để xác định những dấu hiệu tiếp theo
của nhà nước pháp quyền. Căn cứ vào những đặc trưng đó của Nhà nước pháp quyền,
có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay là ph
ải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện

20
hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh. Do đó, yêu cầu “cải cách tổ
chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp” là một trong
những đòi hỏi bức xúc hiện nay, là một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ
XHCN ở nước ta.
3.1.2 Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành

nhất, về điều tra, truy tố và xét xử. Chúng ta cần phải có những hoạt động
hệ thống, củng cố lại các quy phạm pháp luật và cơ chế thực hiện QBC của bị can, bị
cáo là người CTN đang tồn tại để phát hiện những cản trở, thiếu sót đang tồn tại mà
tìm ra giải pháp khắc phục kịp thời, như xác định những văn bản pháp luậ
t hiện hành
trong đó có quy định những thủ tục, quy trình tố tụng, yêu cầu về chứng cứ, hoặc
trách nhiệm báo cáo có thể gây khó khăn hoặc cản trở thái quá cho những trẻ em là

21
người CTN vi phạm pháp luật; rà soát lại công tác điều tra hiện tại, các chính sách
quản lý trường hợp và báo cáo trường hợp để đảm bảo rằng các hoạt động và chính
sách này được xây dựng, hướng dẫn rõ ràng và thiết thực về phương pháp tiến hành
các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo hướng nhạy cảm đối với các chủ thể này,
và sửa đổi những chính sách đó nếu cần thiế
t;
Thứ nhì, về trình tự, thủ tục tham gia tố tụng của NBC. Để thực hiện tốt nhiệm
vụ đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như nhằm bảo đảm QBC của bị can, bị cáo
nói chung, có thể nói rằng, Bộ luật TTHS 2003 và Luật Luật sư đã tạo ra một cơ chế
pháp lý tương đối hoàn chỉnh bảo đảm việc tham gia tố tụng của NBC một cách th
ực
chất và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để cơ chế pháp lý đó thực sự đi vào cuộc sống và
phát huy tích cực hiệu quả của nó, trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân của
sự vi phạm các bảo đảm, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
3.2.2 Các giải pháp về tổ chức
3.2.3 Các giải pháp khác
KẾT LUẬN
Hiện nay, QCN luôn được cộng đồng quốc tế và mỗi qu
ốc gia coi trọng và xem
đó như một thành tựu của nền văn minh và là thước đo của sự tiến bộ xã hội. Vì vậy,
nghiên cứu về QCN trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xây dựng các cơ chế đảm

cáo là người CTN trong TTHS Việt Nam; đánh giá được vai trò của QBC và xác định
rõ những đặc điểm về nội dung và hình thức thực hiện QBC của bị can, bị cáo là
người CTN trong TTHS Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề

luận và thực tiễn cũng như nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải tôn trọng và bảo
đảm QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong quá trình giải quyết VAHS đòi hỏi
phải có sự thay đổi một cách toàn diện cả về mặt lập pháp lẫn mặt nhận thức.
2. Luận án đã khái quát được pháp luật TTHS Việt Nam về QBC nói chung và
của bị can, bị cáo là người CTN nói riêng và làm rõ được s
ự hình thành, phát triển của
chế định này trong pháp luật TTHS Việt Nam, rút ra những kế thừa cần thiết cho việc
tiếp tục hoàn thiện chế định này.
3. Luận án đưa ra được những thông tin khoa học về chế định QBC của người
bị buộc tội là người CTN trong pháp luật Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên
bang Nga và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đó là những quốc gia đại diện cho các
truyền thống pháp luật khác nhau, đồng thờ
i cũng là những nước mà pháp luật Việt
Nam có những ảnh hưởng nhất định. Từ những nghiên cứu đó luận án có những so
sánh và tiếp thu có chọn lọc, từ đó kiến nghị những giải pháp về mặt pháp luật nhằm
hoàn thiện pháp luật về QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong TTHS Việt Nam.
4. Luận án đã phân tích được thực trạng pháp luật Việt Nam về QBC của bị
can, bị cáo là người CTN và làm rõ những bất cập trong quy định của pháp luật về
vấn đề này. Với những số liệu thống kê cụ thể, kết quả khảo sát và kết quả điều tra xã
hội học, về QBC của bị can, bị cáo là người CTN, luận án đã làm rõ thực trạng thực
hiện QBC của bị can, bị cáo là người CTN ở Việt Nam trong những năm gần đây, từ

đó đánh giá những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và xác định được
nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó.
5. Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ, chăm sóc đặc
biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời. Một

CTN là một giải pháp có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Việc thành lập Tòa án chuyên
trách đối với người CTN ở Việt Nam là cụ thể hóa đường lối Đảng và Nhà nước về

chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người CTN vi phạm pháp luật
nói riêng. Việc thành lập Tòa chuyên trách đối với người CTN là phù hợp với Chiến
lược CCTP đến năm 2020, trong đó có việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án,
xây dựng thêm các tòa chuyên trách, xây dựng một đội ngũ thẩm phán chuyên trách
trong lĩnh vực xét xử.
7. Luận án đã nghiên cứu và phân tích những quy định của pháp luật TTHS đối
với việc thực hiện QBC của bị can, bị cáo là người CTN và những yếu tố ảnh hưởng
đến khả năng thực thi pháp luật TTHS. Những yếu tố này cũng là nguyên nhân cơ bản
làm cho pháp luật chưa được thực thi trên thực tế sau hơn 10 năm có hiệu lực. Đó là
những hạn chế, vướng mắc của những quy định pháp luật, một số quy định về trình tự
TTHS chưa cụ thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, những hạn chế
về trách nhiệm giữa các cơ quan và người THTT, quan hệ phối hợp giữa các cơ quan,

24
người THTT, là năng lực thực thi và sự hạn chế về mặt nhận thức của một bộ phận
những người THTT…Những bất cập, hạn chế, vướng mắc vừa nêu trên đã ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan THTT trong việc giải quyết các VAHS, chưa
đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật do
người CTN gây ra nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp
của người CTN phạm tội trong tình hình mới.
8. Trên cơ sở vận dụng các quan điểm của phép duy vật biện chứng, sử dụng
các phương pháp so sánh luật học, nghiên cứu tổng hợp, phân tích…luận án đã cơ bản
giải quyết được các vấn đề lý luận về bản chất pháp lý của nh
ững quy định pháp luật
TTHS quy định về QBC của bị can, bị cáo là người CTN, xác định giới hạn và cách
thức điều chỉnh của pháp luật TTHS đối với những chủ thể đặc biệt này. Trên cơ sở
đó, tác giả mạnh dạn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS quy định về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status