Vai trò của thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI VĂN LƯƠNG
VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
2.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng
hình sự năm 1988
31
2.3. Vai trò thẩm phán theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
36
2.4. Quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
từ năm 1988 đến nay về vai trò của thẩm phán
43
Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về vai
trò của thẩm phán trong TTHS và một số kiến nghị
52
3.1. Vai trò của thẩm phán trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự
52
3.2. Một số kiến nghị về hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự
77
3.3. Một số kiến nghị về mặt tổ chức nhằm nâng cao vai trò của
thẩm phán trong tố tụng hình sự
81
Kết luận
85
Danh mục tài liệu tham khảo
87

1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

đích là “nhằm bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
Toà án, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào việc xét xử đồng thời
giám sát hoạt động xét xử của Toà án; tổ chức lại hệ thống Toà án nhân dân
gọn nhẹ, thống nhất, có hiệu quả” [39, tr. 11]. Vào tháng 4 năm 1958 Quốc
hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao, tách Toà án ra khỏi Bộ
Tƣ pháp, sau đó ban hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960. Đây
đƣợc xem nhƣ cuộc cải cách tƣ pháp lần thứ hai. Thời kỳ này ngành Toà án
đã góp phần cải tạo các quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hoạt động của Toà án đã mang lại nhiều kinh
nghiệm để Nhà nƣớc ta xây dựng các đạo luật trong những năm gần đây.
Trong thời kỳ đổi mới đất nƣớc, Toà án nhân dân đƣợc mở rộng thẩm
quyền giải quyết các loại án, góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội,
ổn định môi trƣờng đầu tƣ cho doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc.
Từ năm 2002 thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới, các Toà án đã
tiến hành các phiên toà hình sự theo hƣớng nâng cao vai trò tranh tụng, đảm
bảo quyền của bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng. Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định rõ những nhiệm vụ cải
cách tƣ pháp đến năm 2020, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lƣợng hoạt
động của các cơ quan tƣ pháp, chất lƣợng tranh tụng tại tất cả các phiên toà
xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tƣ pháp; tăng quyền hạn, trách
nhiệm tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực
thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trong hoạt động tố
tụng.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngành Toà án Việt Nam đang thực sự
đổi mới về tổ chức và hoạt động, tăng cƣờng quản lý và nâng cao năng lực 3
của đội ngũ thẩm phán để đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp trong xu thế hội

nói riêng đã đƣợc đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu, bài viết
đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành, nhƣ Thông tin khoa học xét xử
của Toà án nhân dân tối cao, Tạp chí Toà án nhân dân, luận án tiến sĩ của
nghiên cứu sinh Đỗ Gia Thƣ về cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ
thẩm phán ở Việt Nam hiện nay. Năm 2001 Bộ Tƣ pháp đã nghiệm thu công
trình nghiên cứu cấp Bộ với đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn góp
phần xây dựng Quy chế thẩm phán”. Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi soạn
thảo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã nghiên cứu tổng thể luật tố tụng
của một số quốc gia có nền tƣ pháp phát triển trên thế giới, trong đó có các
quy định về vai trò của thẩm phán.
Tuy nhiên, các công trình và bài viết đó mới nhằm đến những khía cạnh
nhất định của chế định thẩm phán, chủ yếu dƣới góc độ tổ chức và quản lý,
chƣa nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về địa vị pháp lý của thẩm
phán trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong công cuộc xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là khi thực hiện Chiến lƣợc Cải cách tƣ
pháp đến năm 2020, vấn đề này cần đƣợc làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và
thực tiễn làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vai trò của
thẩm phán trong tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp mà Đảng
cộng sản Việt Nam đặt ra.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Mục đích: Nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
vai trò của thẩm phán trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao chất lƣợng xét
xử của thẩm phán.
Nhiệm vụ:
- Phân tích những đặc điểm của tố tụng hình sự, các mô hình tố tụng
hình sự, vai trò của thẩm phán trong tố tụng hình sự. 5
- Đánh giá, phân tích thực trạng việc áp dụng các quy định pháp luật

TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ CÁC MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Nghiên cứu đặc điểm của tố tụng hình sự và các mô hình tố tụng hình
sự là nhằm làm rõ sự tác động và chi phối của các mô hình này đối với vị trí,
vai trò của thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự.
Theo từ điển Tiếng Việt, “tố” là nói về những sai phạm, tội lỗi của
ngƣời khác một cách công khai trƣớc ngƣời có thẩm quyền hoặc nhiều ngƣời
[30, tr. 797]; “tố tụng” là tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử các vụ án hình sự [27, tr. 1008]. Theo giáo trình luật tố tụng hình sự của
Khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng và cá nhân, cơ
quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện,
nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật [14, tr. 13].
Tố tụng hình sự là trình tự hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng,
ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng và mối quan hệ giữa họ trong
quá trình giải quyết một vụ án hình sự, từ khi khởi tố vụ án đến khi xét xử và
thi hành án đối với ngƣời có hành vi phạm tội. Mục đích của tố tụng hình sự
là phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, chính xác mọi tội phạm.
Khi xuất hiện một hành vi tội phạm, bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng có
thể thông tin cho cơ quan có thẩm quyền. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì cơ
quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án để làm căn cứ tiến hành điều tra và
truy tố trƣớc Toà án. Hàng loạt hành vi đó đƣợc nối tiếp nhau theo một trình
tự chặt chẽ do Luật tố tụng hình sự quy định.
Hoạt động tố tụng hình sự đƣợc bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền
nhận đƣợc tin báo về tội phạm, trải qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử và 7
thi hành án. Ngƣời bị kết án chấp hành xong phần hình sự của bản án thì các
hoạt động tố tụng hình sự đối với vụ án cũng chấm dứt.

phạm vi tác động của nó.
Tố tụng hình sự thể hiện tính giai cấp sâu sắc. Nhà nƣớc phong kiến vì
muốn bảo vệ cơ sở xã hội của mình nên có những quy định nhằm bảo vệ lễ
giáo phong kiến, bằng việc cấm ngƣời bị giam tố cáo ngƣời khác, hạn chế
việc kiện ông bà, cha mẹ hay anh chị em kiện nhau; lời khai của những ngƣời
có địa vị trong xã hội có giá trị chứng cứ cao hơn lời khai của thƣờng dân.
Nhà nƣớc tƣ sản vì muốn lật đổ giai cấp phong kiến độc quyền đã đƣa vào tố
tụng hình sự những quy định thể hiện tính dân chủ, đó là việc phân tách quyền
tƣ pháp ra khỏi quyền lập pháp và hành pháp, quy định rất chặt chẽ trình tự
điều tra và xét xử vụ án. Vì đặc biệt coi trọng quyền tƣ hữu nên Nhà nƣớc tƣ
sản đề cao quyền tƣ tố, các cá nhân khi bị tội phạm xâm hại đều có thể đứng
ra khởi kiện ngƣời phạm tội trƣớc Toà án, đồng thời cho phép “thoả thuận thú
tội” giữa các bên. Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa công khai tuyên bố nhiệm vụ
của tố tụng hình sự bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình, đó là việc góp phần
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
giáo dục mọi ngƣời tuân theo ý thức pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm (Điều 1 Bộ luật TTHS năm 2003 của Việt Nam).
Thứ ba, tố tụng hình sự là sự thống nhất và nhất quán giữa các giai đoạn.
Hoạt động tố tụng hình sự xuất hiện khi có hành vi có tính chất tội phạm xảy ra
trên thực tế, kết thúc khi ngƣời thực hiện hành vi đƣợc kết luận là không phạm
tội, hoặc nếu bị kết án thì phải thi hành án xong. Hàng loạt hoạt động của các
cơ quan và những ngƣời tiến hành tố tụng nối tiếp nhau theo một trình tự nhất
định, đƣợc pháp luật quy định chặt chẽ, giai đoạn trƣớc là tiền đề của giai đoạn
sau. Những hành vi có tính chất gần giống nhau đƣợc liên kết lại thành một
nhóm gọi là giai đoạn, đƣợc thực hiện bởi những ngƣời hoặc cơ quan khác
nhau. Thông thƣờng có các giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử, thi hành án. 9

10
các bên đƣa ra tại phiên toà và không có quyền biết đến các chứng cứ đó
trƣớc khi phiên toà diễn ra [39, tr. 3].
Mô hình tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là tố tụng thẩm cứu) đƣợc áp
dụng phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống luật châu Âu lục địa từ cuối
thế kỷ thứ XV. Nét đặc trƣng nhất của tố tụng xét hỏi là đề cao vai trò của
Thẩm phán. Thẩm phán là ngƣời đƣa ra quyết định điều tra, có trách nhiệm
tìm ra sự thật trên cơ sở các sự việc, chứng cứ ; là ngƣời chỉ đạo toàn bộ quá
trình tố tụng, kể cả giai đoạn điều tra [39, tr. 4]. Trong tố tụng thẩm vấn thì
cuộc điều tra về căn bản đã đƣợc hoàn tất trƣớc khi Toà án xét xử vụ án,
những chứng cứ viết có ý nghĩa quan trọng. Tại phiên toà Viện công tố có
quyền hạn rất lớn, thẩm phán có vai trò chủ động trong việc tiến hành phiên
toà và cùng với công tố viên có trách nhiệm tìm ra sự thật của vụ án, các bên
tham gia không có nghĩa vụ chứng minh.
Giữa hai mô hình trên có những điểm tương đồng:
Thứ nhất, về mục đích, cả hai loại hình tố tụng đều nhằm tìm ra sự thật
của vụ án, đó là hành vi của con ngƣời đã đƣợc thực hiện, đƣợc những ngƣời
và cơ quan có thẩm quyền nhận diện rồi mang đối chiếu với pháp luật hình
sự, từ đó có căn cứ khẳng định ngƣời thực hiện hành vi có tội hay không có
tội.
Thứ hai, về phƣơng pháp tiến hành, cả hai loại hình đều có những bƣớc
(giai đoạn) tiến hành theo một trình tự nhất định. Khi xảy ra hành vi vi phạm
pháp luật hình sự thì những ngƣời có thẩm quyền theo luật định phải xác
minh làm rõ sự thật, nếu có dấu hiệu tội phạm thì tiến hành điều tra xác định
tội phạm và ngƣời phạm tội. Khi cuộc điều tra hoàn thành thì vụ án đƣợc
chuyển cho Viện công tố xem xét truy tố can phạm trƣớc Toà án. Khẳng định
một ngƣời có tội hay không bao giờ cũng do Toà án với một thẩm phán hay
một Hội đồng xét xử thực hiện.

12
Phiên toà trong tố tụng thẩm vấn là sự tiếp tục điều tra, các bên có nghĩa vụ
cung cấp tất cả các chứng cứ thích hợp cho Toà án, công tố viên đại diện cho
Nhà nƣớc chứng minh tội trạng của bị cáo. Phiên toà trong tố tụng tranh tụng
là sự cạnh tranh giữa hai bên đối lập nhau, các bên đƣa ra chứng cứ và tìm
mọi cách bảo vệ chứng cứ đó.
Trong tố tụng tranh tụng, thẩm phán đóng vai trò của ngƣời trọng tài,
trung lập, chủ yếu là điều hành hoạt động của phiên toà, công tố viên và luật
sƣ cùng bị cáo trình bầy các tình tiết buộc tội và gỡ tội để sau đó Toà quyết
định về vụ án. Thẩm phán trong tố tụng thẩm vấn đóng vai trò một thẩm tra
viên đồng thời có quyền quyết định vụ án. Thẩm phán hỏi phần lớn các câu
hỏi để làm rõ sự thật, sau đó đại diện của bên buộc tội và bên gỡ tội tranh luận
để bổ sung cho sự thật. Tố tụng tranh tụng tìm kiếm sự thật khách quan của
vụ án bằng việc tranh luận tự do giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, các bên có
quyền đƣa ra những chứng cứ để bác bỏ ý kiến của nhau, có quyền đặt câu hỏi
trực tiếp cho bên kia cũng nhƣ cho nhân chứng và giám định viên. Đó là một
quá trình cọ xát giữa những ý kiến mâu thuẫn nhau. Vì sự phức tạp của quy
trình tố tụng, các bên thƣờng phải dựa vào luật sƣ để bảo vệ quyền lợi của
mình trƣớc Toà.
Trong tố tụng tranh tụng, quy trình tố tụng chỉ chính thức bắt đầu từ khi
mở phiên toà xét xử, còn các hoạt động điều tra trƣớc đó đƣợc coi là bí mật.
Tại phiên toà các bên có thể cung cấp chứng cứ, tài liệu, nếu chứng minh
đƣợc tính hợp lý sẽ đƣợc Toà chấp nhận làm chứng cứ của vụ án. Trong tố
tụng thẩm vấn quy trình tố tụng bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, các hoạt động
điều tra hợp lệ đều mang lại những giá trị chứng minh, phiên toà chủ yếu là
kiểm tra lại các chứng cứ đã đƣợc thu thập ở giai đoạn trƣớc. Nếu xuất hiện
chứng cứ mới quan trọng thì hồ sơ phải chuyển lại cho Viện công tố để điều
tra lại chứ không thể quyết định ngay tại phiên toà.

14
bị coi là đi ngƣợc lại nguyên tắc vô tƣ, khách quan, đôi khi thẩm phán có sẵn
trong đầu quyết định xét xử trƣớc khi diễn ra giai đoạn xét xử, dƣới góc độ đó
việc tranh luận trở nên vô nghĩa [39, tr. 4].
Đối với Việt Nam, trong lịch sử tƣ pháp việc xét xử các vụ án hình sự
đƣợc tiến hành theo thủ tục thẩm vấn nhiều hơn. Dƣới thời phong kiến xây
dựng quốc gia độc lập, theo Bộ Lê triều hình luật, khi điều tra vụ án quan
xét án tra hỏi tù thì trƣớc theo sự việc mà suy xét kỹ lời lẽ của họ khai, xét
nhiều lần còn chƣa quyết định sự việc thì cần phải hỏi thêm, lập hội đồng
quan án rồi mới khảo hỏi; khảo tù không đƣợc quá ba lần. Nếu tang chứng
đã phơi bày, tình lý không còn nghi ngờ gì nữa, dù kẻ phạm cố chối cũng
căn cứ sự việc mà quyết định bản án [4, tr. 343]. Thời nhà Nguyễn, từ 1802
đến 1858 theo Bộ luật Gia Long đƣợc ban hành năm 1815, thủ tục tố tụng
hình sự về cơ bản mô phỏng Bộ luật của nhà Thanh và có tham khảo Lê triều
hình luật. Từ năm 1858 bắt đầu chịu ảnh hƣởng luật châu Âu lục địa thông
qua sự đô hộ của thực dân Pháp. Thời kỳ này nƣớc ta bị chia cắt thành ba
kỳ: Nam kỳ là thuộc địa, Trung kỳ và Bắc kỳ là xứ bảo hộ của Pháp. Nam kỳ
áp dụng Bộ hình luật Pháp và do Toà án Pháp xét xử , Bắc kỳ thực hiện hai
hệ thống Toà án: Toà án Tây xử ngƣời Âu, Toà án Nam xử ngƣời bản xứ,
Trung kỳ áp dụng Bộ luật Gia Long nhƣng phải thay đổi một số quy định có
lợi cho thực dân Pháp [13, tr. 110].
Sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, trong khi chƣa ban hành
đƣợc pháp luật mới Nhà nƣớc ta tạm thời sử dụng các luật lệ cũ không gây
phƣơng hại cho nền độc lập và không trái với chính thể dân chủ cộng hoà. Hệ
thống toà án thực dân phong kiến bị xoá bỏ, Toà án nhân dân đƣợc thiết lập và
hoạt động theo những thủ tục dân chủ, hoạt động tố tụng hình sự theo mô
hình tố tụng xét hỏi. Từ năm 1950 bắt đầu công cuộc cải cách tƣ pháp, nhƣng
tố tụng hình sự vẫn mang đậm sắc thái loại hình tố tụng thẩm vấn. Năm 1974

(judge) là ngƣời của Toà án có nhiệm vụ điều tra, hoà giải, truy tố hay xét xử
các vụ án [30, tr. 727]. Thẩm phán là ngƣời chuyên làm công tác xét xử các 16
vụ án [27, tr. 922]. Thẩm phán là một nhân viên công quyền đƣợc bổ nhiệm
để nghe và phân xử tại toà án; Thẩm phán là ngƣời đƣợc bổ nhiệm để phân xử
các tranh chấp [26, tr. 824].
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002 quy
định: “Thẩm phán là ngƣời đƣợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm
nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm
quyền của Toà án”.
Trong tố tụng hình sự có ba chức danh tƣ pháp chủ yếu, đó là điều tra
viên, công tố viên và thẩm phán. Những ngƣời này quyết định toàn bộ quy
trình tố tụng của một vụ án hình sự, pháp luật của các quốc gia đều giao cho
họ những quyền độc lập khi giải quyết vụ án. Trong số này thì thẩm phán có
vai trò quan trọng, vì duy nhất thẩm phán mới có quyền tuyên bố một ngƣời
là đã phạm tội và ấn định hình phạt cũng nhƣ các nghĩa vụ khác cho ngƣời đó.
Khi nói xét xử sơ thẩm là trung tâm của tố tụng hình sự thì thẩm phán chính
là trung tâm của giai đoạn xét xử. Về thực chất, Toà án là cơ quan thực thi
quyền lực tƣ pháp, là nơi thể hiện sản phẩm cuối cùng của toàn bộ quá trình
điều tra và xét xử. Thông qua hoạt động của Toà án - quyền lực tƣ pháp mà
pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội. Đây không phải là phƣơng tiện
duy nhất nhƣng lại là chủ yếu nhất trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp
trong xã hội nhằm đƣa xã hội vào trạng thái ổn định để phát triển [40, tr. 15].
Thẩm phán ngoài việc mang quyền lực nhà nƣớc, khi tiến hành xét xử
còn thể hiện ở mức độ nhất định là ngƣời trọng tài đứng giữa bên buộc tội là
công tố viên, ngƣời bị hại và bên gỡ tội là bị cáo và ngƣời bào chữa của bị
cáo. Với vị trí nhƣ vậy nên đòi hỏi thẩm phán phải là những ngƣời hiểu biết,
trung thực, công bằng, khách quan và phải thực sự vì công lý.

Thẩm phán là ngƣời quyết định sự tồn tại của Toà án, không có thẩm
phán thì không có Toà án. Khi giải quyết một vụ án thì bao giờ thẩm phán
cũng là ngƣời quyết định cuối cùng. Trong một Hội đồng xét xử, mặc dù thẩm 18
phán là thiểu số nhƣng lại giữ quyền điều hành phiên toà và thƣờng có ý kiến
mang tính quyết định đến đƣờng lối xét xử của vụ án.
Tuỳ theo từng loại hình tố tụng và pháp luật mỗi quốc gia mà thẩm
phán tham gia xét xử các vụ án hình sự sớm hay muộn. Có thể phân chia
thành hai giai đoạn chính là tiền xét xử và xét xử.
Tiền xét xử là giai đoạn trƣớc khi hồ sơ đƣợc chuyển đến Toà án với
bản cáo trạng của Viện công tố.
Theo hệ thống luật châu Âu lục địa, trong giai đoạn tiền xét xử, thẩm
phán phải tham gia vào những hoạt động nhằm bảo vệ quyền tự do nhân thân
của bị can khi cần phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhƣ khám xét chỗ ở,
tạm giam, bắt giữ (cảnh sát phải xin lệnh của Toà án). Sau khi bắt, ngƣời bị
tạm giữ đƣợc chuyển cho thẩm phán để tiến hành điều tra sơ bộ, thẩm phán sẽ
đƣa ra quyết định là cho áp dụng hay bãi bỏ biện pháp ngăn chặn [41, tr. 44].
Cộng hoà Pháp quy định Dự thẩm (cũng là một thẩm phán) tiến hành điều tra
trƣớc khi xét xử là bắt buộc đối với trọng tội. Liên bang Nga quy định ở giai
đoạn trƣớc khi xét xử chỉ có Toà án mới có thẩm quyền ra các quyết định áp
dụng biện pháp tạm giam và hạn chế các quyền tự do khác của công dân. Luật
pháp của một số nƣớc khác cũng quy định thẩm phán có quyền hạn đối với
một số hoạt động điều tra. Luật tố tụng của Cộng hoà liên bang Đức quy định:
“Đối với mỗi một quyền hạn chế tự do, nhƣng không dựa trên lệnh của thẩm
phán thì phải xin quyết định của thẩm phán ngay lập tức [28, tr. 3].
Theo hệ thống thông luật (tố tụng tranh tụng), trong giai đoạn tiền xét
xử thẩm phán có vai trò khá lớn. Thẩm phán là ngƣời nhận tin báo tội phạm
và xử lý tin báo, bằng cách thẩm vấn trực tiếp ngƣời báo tin để xác định sự

theo thẩm quyền xét xử; tiến hành thẩm tra sơ bộ; đƣa vụ án ra xét xử. Các
quyết định này phải ra trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ khi nhận đƣợc
hồ sơ vụ án. Phiên toà sơ thẩm ở Liên bang Nga có thể do hội đồng xét xử
hoặc do một thẩm phán tiến hành. Hội đồng xét xử có thể là 3 thẩm phán hoặc
một thẩm phán với Đoàn bồi thẩm gồm 12 thành viên. Việc tiến hành điều tra 20
tại phiên toà do bên buộc tội và bên gỡ tội thực hiện, thẩm phán chỉ đóng vai
trò trọng tài, thấy cần có thể hỏi thêm để làm rõ các tình tiết liên quan. Kết
thúc phiên toà Chủ toạ sẽ ra một trong các quyết định: Đình chỉ vụ án, ra bản
án vô tội, ra bản án kết tội và quyết định hình phạt, quyết định giải tán Bồi
thẩm đoàn và chuyển vụ án để xét xử lại. Các quyết định của Thẩm phán chủ
toạ phiên toà có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Hoặc Bộ luật Tố tụng hình sự của Cộng hoà Pháp, có sự phân chia toà sơ
thẩm thành ba loại: Toà Vi cảnh, Toà Tiểu hình, Toà Đại hình. Khi xét xử các
hành vi phạm tội vi cảnh, Toà án tiến hành theo thủ tục rút gọn chỉ gồm một
thẩm phán. Thành phần xét xử của Toà Tiểu hình gồm một thẩm phán chủ toạ
và hai thẩm phán khác làm thành viên Hội đồng xét xử; thành phần của Toà
Đại hình gồm các thẩm phán xét xử chuyên nghiệp và bồi thẩm đoàn gồm 9
thành viên. Khi xét xử, thẩm phán chủ toạ giữ gìn trật tự phiên toà, điều khiển
việc xét hỏi và tranh luận, xử lý những ngƣời vi phạm trật tự phiên toà, có
quyền bác bỏ tất cả những gì xâm hại đến sự trang nghiêm của phiên toà hoặc
kéo dài việc xét xử mà không đem lại kết quả gì chắc chắn hơn.
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định Toà án sau khi nhận hồ sơ
vụ án từ Viện kiểm sát phải tiến hành thụ lý và giao cho một thẩm phán thực
hiện các hoạt động tố tụng cần thiết, nhƣ việc xác định thẩm quyền xét xử, đề
xuất việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; trong một thời
hạn nhất định thẩm phán phải ra một trong các quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định đƣa vụ án ra xét xử.

chứng cứ liên quan. Đối tƣợng bị tình nghi đƣợc lấy khẩu cung ngay và trong
phần lớn trƣờng hợp luật sƣ bào chữa phải có mặt khi lấy khẩu cung bị can,
còn bị can thì có quyền không khai. Điều này đƣợc quy định rõ trong luật và
ngƣời tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích trƣớc khi tiến hành điều tra.
Trên thực tế bị can ít sử dụng quyền này, vì nhƣ vậy họ sẽ bỏ lỡ cơ hội trình
bày những sự kiện làm giảm nhẹ tội của mình. 22
2) Những hoạt động tố tụng ảnh hƣởng đến quyền nhân thân và quyền
tài sản của công dân, nhƣ việc bắt giam, giữ ngƣời, thu giữ thƣ tín bƣu phẩm,
kê biên tài sản đều đƣợc thực hiện một cách thận trọng và đa số trƣờng hợp
phải có lệnh của Toà án. Những quyết định này đƣợc Toà án giao thẩm quyền
ban hành cho thẩm phán chứ không cần ngƣời có chức vụ quản lý của Toà án.
3) Pháp luật tố tụng hình sự của hầu hết các nƣớc đều quy định có giai
đoạn điều tra sơ bộ, do công tố viên hay thẩm phán thực hiện. Khi kết thúc
điều tra, công tố viên hay thẩm phán phải xác định căn cứ đƣa ngƣời bị tình
nghi ra Toà xét xử. Nếu đủ chứng cứ thì thẩm phán điều tra làm bản cáo
trạng, còn công tố viên làm quyết định truy tố bị can. Luật sƣ của bị cáo có
quyền thanh tra toàn bộ hồ sơ. Trƣớc khi xét xử công tố viên, luật sƣ và các
thẩm phán chuyên nghiệp đã đƣợc nghiên cứu kỹ nội dung các tài liệu. Khi
xét xử chủ toạ phiên toà để trƣớc mặt bộ hồ sơ. Việc xét xử chủ yếu là kiểm
tra lại tính hợp pháp của các tài liệu đã đƣợc thu thập từ trƣớc. Điều này quyết
định đến việc gọi hệ thống tố tụng của châu Âu lục địa là “tố tụng thẩm tra”.
4) Thẩm phán xét xử vụ án phải đảm bảo thực sự vô tƣ khách quan,
những ngƣời đã tiến hành bất kể hoạt động tố tụng nào ở giai đoạn trƣớc thì
không đƣợc ngồi xét xử vụ án đó. Thẩm phán đồng thời là ngƣời tham gia tố
tụng hay là ngƣời thân thích của ngƣời tham gia tố tụng cũng không đƣợc tiến
hành tố tụng đối với vụ án. Trong quá trình xét xử thẩm phán không đƣợc
phép tỏ thái độ đồng tình hay phản ứng đối với bất kể lời khai của bên nào.

5) Trong tố tụng thẩm vấn thẩm phán có vai trò rất lớn trong việc tìm ra
sự thật của vụ án. Thẩm phán xác định, đánh giá và quyết định sử dụng các sự
kiện làm chứng cứ giải quyết vụ án. Trong tố tụng tranh tụng vai trò của thẩm
phán chỉ nhƣ ngƣời trọng tài, có chức năng hoà giải, giải quyết các xung đột
chắc chắn sẽ xảy ra giữa hai bên buộc tội và gỡ tội.
6) Thẩm phán trong cả hai mô hình tố tụng có nhiều quyền hạn khi điều
khiển phiên toà, đảm bảo thực thi đúng đắn các thủ tục tố tụng, nhƣ việc xử lý
ngƣời vi phạm trật tự phiên toà, buộc bị cáo rời phòng xử án và xử vắng mặt

Trích đoạn NHỮNG YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ KẾT LUẬN CHƢƠNG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1960 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status