CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
- Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm thực
hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Có nhiều yếu tố tác động
đến sự thành công của việc xây dựng nông thôn mới, trong đó lực lượng lao động ở nông
thôn là một nhân tố quan trọng.
- Thực tế đó cho thấy phụ nữ là lao động chính ở nông thôn hiện nay. Theo số liệu điều tra,
ở nước ta hiện nay trong gần 80% phụ nữ của khu vực nông thôn thì có đến 58% hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp. Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một chủ thể quan trọng mang
lại thu nhập chính cho gia đình. Họ không chỉ là người lao động chính mà còn là người góp
phần sản xuất ra phần lớn nông phẩm. Cũng như phụ nữ trong cả nước, phụ nữ ở an giang
cũng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc CNH - HĐH đất nước điển hình là phụ nữ ở
nữ xã Vĩnh Châu trong xây dựng nông thôn mới cũng như tìm ra những rào cản giúp họ
phát huy tiềm xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trong chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 thì phụ nữ xã Vĩnh Châu
cũng góp phần tăng thu nhập ở địa phương và hộ gia đình từ đó đạt được tiêu chí 10 (thu
nhập) trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nhằm đánh giá vai trò của phụ nữ xã
Vĩnh Châu trong xây dựng nông thôn mới cũng như tìm ra nhưng rào cản giúp họ phát huy
tiềm năng sáng tạo to lớn của mình. Khi phụ nữ đã làm tốt vai trò của mình sẽ có sức lan
tỏa và lôi cuốn được những lực lượng và nguồn lực khác trong xã hội tạo ra sức mạnh tổng
hợp để hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Do đó chúng
tôi chon đề tài “Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây
dựng nông thôn mới tại xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, năm 2014”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
a. Mục tiêu chung:
- Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) về xây dựng nông thôn
mới tại xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang , nhằm đánh giá vai trò và tìm
ra những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí.
b. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu thực trạng vai trò của phụ nữ xã Vĩnh Châu trong thực hiện tiêu chí 10 (thu
nhập) về xây dựng nông thôn mới.
- Giới tính chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và
không thay đổi.
- Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt đông theo các cơ chế tự nhiên, di truyền.
ví dụ người nào có cặp nhiểm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp
nhiễm sắc thể XY thuộc về nam giới.
- Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú
bằng bầu sửa mẹ. nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học nữ giới khác
với nam giới. (Tổ Chức Lao Động Quốc Tế, 2002)
2.2. Bình đẳng giới
- Bình đẳng giới được hiểu nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công
nhận và có vị thế bình đẳng trong xã hội.
- Bình đẳng giới không đơn thuần chỉ là việc phụ nữ có nhiều vai trò giống nam giới hơn
mà còn là nam giới cũng sẽ có nhiều vai trò giống phụ nữ hơn.(Trần Thị Vân Anh, không
ngày tháng).
2.3. Giới và vấn đề thu nhập
2.3.1. Thu nhập: Thu nhập là số lượng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công
ty hay một nền kinh tế nhận trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm).
2.3.2. Vai trò của phụ nữ trong thu nhập gia đình
2.3.2.1. Nguồn thu nhập của gia đình
* Thu nhập bằng tiền:
- Tiền lương: Mức thu nhập này tùy thuộc vào kết quả lao động của mỗi người và điều
kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tiền thưởng: Phần thu nhập bổ sung cho những người lao động tốt, có năng suất cao, kỉ
luật tốt.
- Tiền phúc lợi: Do cơ quan, trường học… chi cho cán bộ viên chức trong những dịp lễ tết,
thăm hỏi, hiếu hỉ… từ quỹ phúc lợi.
- Tiền bán sản phẩm.
- Tiền lãi tiết kiệm.
* Thu nhập bằng hiện vật: Tùy từng địa phương mà có mỗi hình thức thu nhập riêng phù
Vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình
Chức năng kinh tế là một chức năng đặc biệt và quan trọng nhất ở thiết chế gia
đình. Người phụ nữ có đặc trưng về sinh học: là mẹ, là vợ, họ đảm trách các công việc
thường nhật của gia đinh, tuy nhiên họ cũng còn phải đóng góp thu nhập vào kinh tế gia
đình. Có quan điểm cho rằng công việc nhà là công việc “đương nhiên” của phụ nữ. Tuy
nhiên chúng ta biết rằng sự phân công lao động theo giới là một sản phẩm xã hội. Ph.ăngghen trong tác phẩm nổi tiếng. Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước,
khi nói về sự phân công lao động theo giới trong thời kỳ bộ lạc đã cho rằng: “ Sự phân
công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, nó chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Đàn ông đi
đánh giặc, đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ
cần thiết cho việc đó. Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc, họ làm bếp và
4
may vá ( trích nguồn Các Mác và Ph.ăng-ghen, 1984:243 ). Trong kết quả điều tra gia đình
Việt Nam năm 2006, quan niệm mức độ hài lòng về hôn nhân của người phụ nữ cũng nhấn
mạnh tới chức năng kinh tế của bất hoà về ứng xử và dẫn đến rạn nứt gia đình. Có đến
46,1% đưa ra lý do khó khăn về kinh tế khi được hỏi về nguyên nhân dẫn tới bất hoà trong
gia đình ( trích nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia
đình và giới, Unicef 2008). (Nguồn: Tạp chí nghiên cứu giới và gia đình số 4 năm 2010).
Quyền quyết định của người phụ nữ trong gia đình cũng ngày càng được tăng lên.
Có nhiều người vợ quyết định cùng chồng những công việc quan trọng trong gia đình.
Trong “Kết quả điều tra gia đình năm 2006” cho thấy đến 53% số phụ nữ ở thành thị đứng
tên một giấy tờ đăng ký sản xuất kinh doanh ( trích nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và
du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới, Unicef 2008 ).
2.3.4.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Giáo dục - đào tạo: Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục và phát
triển nguồn nhân lực. ở khu vực miền núi, vùng nông thôn, sự chệnh lệch về giới trong tỷ
Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làm thường xuyên ở
thành thị thấp hơn ở nông thôn. Năm 2003, tỷ lệ nữ ở thành thị có việc làm thường xuyên
là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8%; các tỷ lệ tưng ứng ở nam là 95,8% và 96,3%. Trong
thời kỳ 2000-2003, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của nam có xu hướng giảm thì tỷ lệ thất
nghiệp nữ tăng lên, năm 2003, tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 6,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp của
nam là 4,4%. (Visocialword/nd).
Chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới: Bình đẳng giới trong lĩnh vực
lao động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và đánh giá đối với
mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Việt Nam đã quy định sự bình đẳng
giữa phụ nữ và nam giới tại điều 24 Hiến pháp Việt Nam khuyến khích cho doanh nghiệp
sử dụng đông lao động nữ như tín dụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm
cho lao động nữ. Đào tạo và chuyển lao động nữ đang làm các công việc độc hại nguy
hiểm có hại cho việc sinh con và chăm sóc con cái của phụ nữ sang các công việc khác phù
hợp hơn,cải thiện điều kiện lao động và giảm thời gian làm việc.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc làm
chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát triển của đất
nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao động nữ như chính sách
phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làm các công việc nặng nhọc, nguy
hiểm...
Nhóm các yếu tố khác: Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian lao động, khối
lượng và chất lượng công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệ thuận đối với thu nhập của
người lao động.
Xây dựng chiến lược thúc đẩy bình đẳng giới là nhiệm vụ đầy thách thức. Giáo
dục, chuyên môn và đào tạo, là những nhu cầu cần hướng tới của một nền kinh tế và một
6
xã phát triển. Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới là một điều kiện tiên quyết
quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách. Bởi các chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới
phải giải quyết những ý tưởng và định kiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ
Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới;
b) Nội dung:
7
- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống
giao thông trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn,
xóm cơ bản cứng hóa);
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm
2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa
thể thao trên địa bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến
2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên
địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt
tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã
đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn
(cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;
tế ở nông thôn.
Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế,
đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến
2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt
chuẩn. Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm
internet đạt chuẩn;
b) Nội dung:
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu
cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
- Nội dung 2: Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới.
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo
cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở
và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường
sinh thái trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt
chuẩn;
b) Nội dung:
- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho
lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội
trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
c) Phân công quản lý, thực hiện:
- Bộ Công an chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các
huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện.
2.6. Thực trạng vai trò của phụ nữ ở nông thôn
Trong quá trình CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay, khi mà đa số nam
giới và phụ nữ trẻ, khỏe, có trình độ học vấn đều đi tìm kiếm việc làm ở các thị trường lao
động ngoài nông thôn, thì ở nông thôn, mặc dù đội ngũ lao động cơ bản là lao động nữ và
với chất lượng không cao nhưng họ có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội nông thôn. Điều này được thể hiện cụ thể: Phụ nữ đang là lực lượng đông
đảo nhất trong cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động nông thôn; lao động nữ có vị trí trung tâm
và đóng vai trò quyết định trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, cộng đồng ở nhiều
vùng nông thôn; phụ nữ là người đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc nội trợ gia đình,
nuôi con cái và chăm sóc người già, người ốm ở các gia đình; là người quản lý thực tế các
nguồn lực gia đình, có vai trò quan trọng cùng với chồng quyết định các đầu tư, chi tiêu
lớn trong sản xuất, kinh doanh, trong xây dựng nhà cửa và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt
đắt tiền của gia đình; là lực lượng chủ yếu trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, văn
10
hóa, tuyên truyền, lãnh đạo, quản lý cộng đồng; phụ nữ nông thôn vừa đóng vai trò xây
dựng, đào tạo nguồn nhân lực mới vừa là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào quá trình
biến đổi cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu kinh tế - xã hội
nông thôn. Vì vậy, có thể khẳng định họ là một chủ thể quan trọng tích cực thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.(Theo Nguyễn Linh Khiếu, 2011)
2.7. Vị trí vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm
11
xã hội ở nông thôn. Chính vì lẽ đó cần có những định hướng và biện pháp tích cực để phát
huy vai trò của phụ nữ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. (Nguyễn thị như quỳnh,
không ngày tháng).
2.8. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và Việt Nam
2.8.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới Tại
Châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương
Trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12 – 13 giờ và có ít thời gian
nghỉ ngơi hơn. Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công ít hơn nam giới cho
cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50% - 90% thu nhập của nam
giới. Báo cáo Bridge số 56 (năm 2000)
Phụ nữ chiếm một tỷ trong lớn trong lực lượng lao động: tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh
tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận
định đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao đóng so với 82,5%
nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phự nữ thành thị( 28,9%). Theo
nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 49, tiếp đó là các
nhóm tuổi 25 – 29, 50 – 54. Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 – 64
vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc
biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động. (Nguyễn Vân
Chi, 2007)
Trung Quốc: Nhóm tuổi phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20 – 29
tuổi, tiếp đó là nhóm tuổi 30 – 39, và giảm dần theo nhóm tuổi cao hơn. Giống như ở
Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 – 64 vẫn còn 32,53% tham gia
lực lượng lao đông, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. (Nguyễn
Vân Chi, 2007).
Trình độ chuyên môn kỷ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỷ thuật của lao
Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam
hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ
nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không
được như đội ngũ công, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức.
Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu sản xuất nông nghiệp như:
cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo…. (Borje Lujnggren, không ngày tháng)
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao nữ nông thôn những năm gần đây là
do một số nguyên nhân chính sau:
Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta
có khoảng 80 – 90 vạn người bước vào tuổi lao động trong đó: lao đông nữ chiếm 55%
(Trương Ngọc Chi, 2002).
Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các
ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không
có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
13
Do sự tan rã thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề
tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguôn tiêu thụ hàng hóa, đa số phụ nữ làm
nghề này chuyển làm nghề nông nghiệp.
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh ttranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ
công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là công nhân
chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông.
Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội: Dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quyền bình đằng của phụ nữ đã được ghi
trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ
Quốc Tuấn, 2008).
- Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền:
Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ương thấp. Năm 2008, tỷ
lệ phó chủ tịch nước là 25%, bộ trưởng 4,55%, tương đương bộ trưởng là 11,43%, thứ
trưởng 2,75%, tương đương thứ trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tương đương là 20,74%
(Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn, 2008).
Tỷ lệ nữ là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành nhiệm kỳ 1999 – 2004 chỉ có
1,64% đến nhiệm kỳ 2004 – 2009 tăng lên là 3,12%, nhưng ở cấp huyện lại có xu hướng
giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn,
2008).
- Trong các doanh nghiệp:
Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ
nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số
ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm,…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận
tải, xây dựng. khai khoáng…chiếm 20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27%
phụ nữ điều hành (Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Quốc Tuấn, 2008).
Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đơi sống xã hội, phụ nữ Việt Nam
còn luôn cố gắn làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác công việc nội trợ. Trong
hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ ăn cơm, con cái được
học hành và khỏe mạnh. Người phụ nữ còn là người giữ gìn, truyền thụ những gí trị văn
hóa tốt đẹp của dân tộc ta từ thế hệ này sang thế hệ khác, gi đình Việt Nam đến nay vẫn
giữ được truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ.
Đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ: Sinh thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ nữ. Bác nhấn mạnh: “ Nếu không
giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nữa loài người”. Người cho rằng, muốn
giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam
khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị
thế của họ trong xã hội. Thế nên, Người ta đã yêu cầu các ngành các địa phương phải tạo
điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền
Do cùng lúc phải đóng nhiều vai trò, nhất là vai trò thay thế nam giới hầu như trong
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nông thôn nên dẫn đến một số hậu quả sau:
- Lao động quá sức, không có thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức lao động đang
ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe;
- Do đời sống các gia đình nông thôn còn nghèo, phụ nữ thường là người phải hy
sinh bản thân mình trong sự nghèo khổ đó;
- Phụ nữ không có điều kiện học tập, giao lưu, thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh
thần..., vì vậy, trình độ văn hóa vốn đã thấp lại không có điều kiện bổ sung, nâng cao, sự
hiểu biết xã hội hạn chế, lạc hậu;
- Khi sức khỏe của người phụ nữ nông thôn bị suy kiệt sẽ ảnh hưởng nặng nề đến
việc thực hiện chức năng sinh sản và nuôi con của chính họ...
- Do sức khỏe kém, trình độ văn hóa thấp, sự hiểu biết xã hội hạn chế... phụ nữ nông thôn
sớm muộn sẽ rơi vào các tình trạng sau:
- Tự ti, mặc cảm, không hòa nhập được với sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã
hội, từ đó từng bước xa rời quá trình CNH, HĐH;
- Chất lượng lao động kém không đáp ứng được nhu cầu về việc làm của CNH, HĐH;
16
- Không có điều kiện, khả năng tham gia thị trường lao động ở các đô thị, các khu công
nghiệp và thị trường lao động quốc tế;
- Từng bước mất dần vai trò và vị trí của mình trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội,
hoạt động quản lý, lãnh đạo, cộng đồng ở nông thôn.
Do những thách thức nêu trên, cùng với quá trình vợ, chồng do phải bươn chải kiếm sống
thường xuyên xa nhau nên những tác động tiêu cực của xã hội trong điều kiện hiện nay có
thể dẫn đến nguy cơ ly hôn tăng cao, đời sống người phụ nữ trở nên bấp bênh, không được
bảo đảm, bản thân người phụ nữ cũng không có điều kiện chăm sóc chồng, con... Đây cũng
là một thách thức không nhỏ đối với hôn nhân và gia đình nông thôn trong giai đoạn hiện
nay. (Nguyễn Linh Khiếu, 2011)
thuật vào sản xuất và từng bước phát triển mô hình mới phù hợp với địa phương.
(Ủy Ban Nhân Dân Xã Vĩnh Châu, 2011)
4.1.1.2. Tình hình kinh tế xã hội
- Nông Nghiệp:
Tình hình sản xuất trong 9 tháng đầu năm đạt kết quả khả quan, toàn xã có 1.909 ha
đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, tổng diện tích xuống giống 3.747,6 ha, thu hoạch vụ
Đông Xuân – Hè Thu ước sản lượng đạt 26.292 tấn với năng suất bình quân từ 6 - 8 tấn/ha,
giá lúa dao động từ 4.600 - 5.000 đ/kg. Vụ Thu đông xuống giống được 1.834 ha. Lúa từ
tiểu vùng K4- Tha La phát triển tốt, các loại bệnh như đạo ôn cổ bông, rầy nâu xuất hiện
rãi rác với mật độ thấp, được giám sát chặt chẽ. Công tác chỉ đạo sản xuất được triển khai
đồng bộ, chặt chẽ phù hợp với điều kiện sản xuất của từng tiểu vùng; các tiến bộ kỹ thuật
được tiếp tục triển khai như: chương trình 01 phải 5 giảm, cơ giới hóa trong sản xuất lúa,
mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa, hội thảo về xử lý các dịch bệnh trên cây lúa..... được
nông dân tiếp thu và áp dụng vào sản xuất đạt kết quả tốt.
Tổng diện tích gieo trồng màu 111,95 ha thu hoạch ước đạt 21.270,5 tạ, năng suất
bình quân 180-200 tạ/ha với các loại khác nhau như: khổ qua, ớt, đậu xanh, nụ dưa… giá
các sản phẩm rau màu dao động tùy theo từng mặt hàng, nhìn chung người dân vẫn có lãi.
Cánh đồng mẫu: Phối hợp với công ty Phước Tiếng thực hiện cách đồng lớn tại
tiểu vùng kênh 4- kênh 7. Vận động tham gia cánh đồng mẫu được 55 hộ với 87,4 ha thực
hiện vụ Thu đông.
Thành lập hợp tác xã: Triển khai và thực hiện kế hoạch thành lập hợp tác xã. Phối
hợp phòng Kinh tế thành phố chọn thành viên thành lập ban sáng lập hợp tác xã. Trao đổi
kinh nghiệm với Liên minh hợp tác xã về công việc chuẩn bị thành lập hợp tác xã.
- Chăn nuôi:
Tình hình giá thức ăn tăng, thị trường giá cả không ổn định, dịch bệnh vẫn còn
nguy cơ xảy ra, đã ảnh hưởng đến tâm lý phát triển chăn nuôi của người dân, do đó tổng
đàn gia súc, gia cầm không biến động nhiều so với cùng kỳ năm 2013. Theo thống kê số
lượng đàn gia súc gia cầm toàn xã 15.626 con (bò 170 hộ 568 con; heo 45 hộ 182 con; vịt
19
Thực hiện dặm vá đường Kênh 4 đạt 97%, đường cộ nội đồng 97% ( còn lại 600
mét do vướng nhà ông Dũng).
Hoàn thành các công trình: Dặm vá đường Kênh Đào (đoạn K4-K7), láng nhựa
đường Huỳnh Văn Thu, đường Bờ Đông kênh 7, quãng trường và lót gạch vĩa hè công
viên. Điện ánh sáng khu Trung tâm hành chính, chợ, đường Kinh đào (đoạn K7-K10). Lắp
đặt đồng hồ nước tuyến kinh 8, kinh 10.
Theo dõi các công trình do Ban Quản lý dự án thành phố làm chủ đầu tư: hoàn
thành các phòng chức năng và khu hành chính trường Tiểu học, THCS; công trình xây
dựng hàng rào, khuôn viên sân trường trường Tiểu học và THCS. Sở VHTT-DL tỉnh đầu
tư nâng cấp các phòng chức năng nhà văn xã và cải tạo sửa chữa nhà văn hóa liên ấp tổng
kinh phí 350 triệu đồng, tiến độ đạt 90%. Phối hợp phòng kinh tế, Xí nghiệp điện nước
thành phố, Công ty điện nước An Giang khởi công xây dựng các danh mục công trình điện
nước trên địa bàn xã.
20
-
Văn hóa – Xã hội:
Giáo dục đào tạo: Các trường thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp
dạy học, chất lượng giáo dục. Công tác vận động, duy trì sĩ số học sinh Năm học 2013 –
2014 được thực hiện tốt, tổ chức thành công lễ tổng kết năm học. Trong năm học qua,
trường Mẫu giáo thực hiện tốt lớp bán trú (với 19 trẻ), trường Tiểu học Vĩnh Châu duy trì
thực hiện tốt mô hình bán trú 2 ngày/tuần đối với học sinh là con hộ nghèo. Duy trì giữ
vững danh hiệu phổ cặp các cấp. Công ty Prudential hỗ trợ 12 em học sinh trường THCS
và Tiểu học 12 phần học bổng trị giá 12 triệu đồng. Tỷ lệ học sinh bỏ học trường Tiểu học
0,22%, trường THCS 7,6% (giảm so với cùng kỳ năm học 2012-2013 là 0,86%). Học sinh
tốt nghiệp THCS đạt 100% (77/77 học sinh).
trị giá 35 triệu đồng. Tổ chức thăm hỏi cơ sở y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2.
Công tác ứng trực, khám chữa bệnh phục vụ người dân đều được đảm bảo, khám
chữa bệnh 12.264 lượt người, khám chữa bệnh đông y 3.418 lượt người và phát 6.839
thang thuốc, châm cứu 952 lần. Tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh trẻ dưới 12 tháng tuổi
được 63 trẻ và dưới 18 tháng tuổi được 60 trẻ, tiêm ngừa viêm não Nhật Bản cho trẻ từ
1-2 tuổi được 65 trẻ
-
Dân số:
Chiến dịch Truyền thông dân số - chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình luôn
được quan tâm chỉ đạo. Tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn xã được 07 cuộc
có 223 lượt người dự và vận động các đối tượng thực hiện các biện pháp tránh thai hiện
đại đạt tỷ lệ như sau: vòng 23/80 đạt 28,35%, đình sản 1/4 ca đạt 25 %, thuốc viên 266 %,
thuốc tiêm 12%, capot 136%.
-
Văn hoá – TDTT:
Thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động Mừng Đảng Mừng Xuân của thành phố, UBND
xã đã tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao thiết thực Mừng Đảng,
Mừng Xuân Giáp Ngọ với các họat động như tổ chức giải việt dã, kéo co. Đồng thời tham
gia các hoạt động TDTT do thành phố tổ chức. Được sự hỗ trợ của Trung tâm văn hóa tỉnh
tổ chức chiếu phim lưu động tại xã tạo khí thế phấn khởi vui xuân trong nhân dân. Tham
gia hội thi đờn ca tài tử cấp thành phố kết quả đạt 2 giải nhất.
Kết hợp Hội nông dân xã tổ chức giải bóng đá bóng chuyền nông dân cấp xã và
tham gia cấp thành phố. Tham gia giao lưu thể dục thể thao của văn phòng HĐND-UBND
thành phố tổ chức kết quả đạt 02 giải nhì kéo co, trò chơi vận động.
Công tác bản tin địa phương được duy trì thường xuyên và không ngừng nâng cao
chất lượng, cải tiến chương trình với nhiều nội dung phong phú phản ánh kịp thời các sự
người) kinh phí 145.344.000 đồng, Bảo trợ xã hội (96 người) kinh phí 183.600.000đ
4.2. Thực trạng kết quả thực hiện tiêu chí 10 (thu nhập) trong chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới, Châu Đốc là địa phương đầu tiên trên địa bàn tỉnh nói riêng, khu vực ĐBSCL và
cả nước nói chung có 100% xã đạt chuẩn NTM. Trong đó xã Vĩnh Châu thành phố Châu
Đốc đã làm tốt nhiệm vụ thực hiện và hoàn thành 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
với tiêu chí (10) thu nhập. Yêu cầu của tiêu chí là: mức thu nhập bình quân khu vực nông
thôn năm 2013 đạt 23 triệu đồng/người/năm.
Kết quả thực hiện: Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã tập
trung chỉ đạo vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế
hộ gia đình gắn với kinh tế hợp tác, xây dựng nhiều mô hình kinh tế làm ăn có hiệu quả.
Tạo các điều kiện thuận lợi cho nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng đầu tư lĩnh
vực nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, tất cả các tiểu vùng sản xuất của xã được thực hiện khép
kín từ đó diện tích sản xuất lúa tăng 02 vụ lên 3 vụ/năm; các Công ty nông nghiệp triển
khai thực hiện “ cánh đồng lớn”. Ngoài ra, nông dân còn áp dụng có hiệu quả những tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, sản xuất giống lúa chất lượng cao, thu hoạch bằng
cơ giới hóa, nhân rộng các mô hình trồng rau, hoa màu, nông dân cũng mạnh dạng đầu tư
phát triển các mô hình kinh tế vườn, chăn nuôi gia súc (bò vỗ béo, lươn, ếch,..) mang lại
23
hiệu quả cao với số tiền tham gia là 1.250 triệu đồng, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn vay tín dụng trong cải thiện phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó đã nâng mức thu
nhập bình quân đầu người của xã Vĩnh Châu lên 23 triệu đồng/người/năm, tăng bình quân
hàng năm là 16,8%.
Tổng kinh phí thực hiện là 1.750 triệu đồng trong đó: nhân dân tham gia là 1.250
triệu đồng, vốn doanh nghiệp hỗ trợ 500 triệu đồng
So sánh với Bộ tiêu chí của UBND tỉnh theo Quyết định số 2361/QĐ-UBND ngày
Qua hình cho thấy thời gian người phụ nữ làm công việc tăng thu nhập chiếm
30,63% là rất cao nhưng họ vẩn phải làm công việc nội trợ trong gia đình chiếm 14,83% ,
dạy con 0,83%, chăm sóc sức khỏe 5,42%, tuy nhiên họ cũng dành thời gian tam gia công
tác xã hội 1,45%. Kết quả trên cũng cho thấy thời gian ngũ nghỉ để phục hồi sức lao động
là tương đối cao 36,67% do họ thường có thói quen ngũ trưa và ngũ sớm vào buổi tối để
phục hồi lao động sao một ngày làm việc vất vả.
4.3.2 Vai trò của giới trong hoạt động sản xuất lúa
Từ trước đến nay, nhắc đến những công việc đồng án thì người phụ nữ luôn luôn
xuất hiện đóng một vai trò là người thực hiện hầu hết các công việc với những hình ảnh tảo
tần “một nắng hai sương”, “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời”.Vai trò của họ phần lớn là
vai trò sản xuất và tái sản xuất bao gồm thực hiện các công việc từ nội trợ đến công việc
đồng án, còn những vấn đề liên quan đến những việc lớn hơn có tính quyết định hay liên
quan đến những tài chính, tài sản trong gia đình thì hầu như họ chưa được xem trọng. Điều
đó có lẽ do một phần của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” từ xa xưa. Thế nhưng ngày nay,
xã hội ngày càng phát triển thì sự nhận thức của con người cũng đang phát triển theo chiều
hướng tích cực, đặc biệt là sự nhận thức về sự bình đẳng giữa nam và nữ không ngừng
trong gia đình và xã hội ở đô thị mà ngay cả ở những gia đình và xã hội ở vùng nông thôn
đã có sự nâng cao khá rõ rệt. Vì thế trong lĩnh vực sản xuất luôn có sự quyết định và tham
gia của nữ giới. (Theo Thị Bích Nghĩa, 2013)
Bảng 2: Tỷ lệ (%) vai trò của giới trong sản xuất lúa
ST
T
1
2
3
4
5
6
7
15
10
75
Mua thuốc
75
15
10
65
Phun thuốc
75
15
10
65
Cấy giậm
75
15
10
50
Nhổ cỏ
75
15
10
40
Thu hoạch
75
15
10
30
Giá bán
35
25
40
60
30
25
Kết quả điều tra ở bảng trên cho thấy nam ra quyết định trong các khâu sản xuất lúa
như: mua phân, bón phân, mua thuốc, phun thuốc, cấy giậm, nhổ cỏ, thu hoạch chiếm 75%
tỷ lệ này khá cao còn các khâu như giá bán chiếm 35% và giữ tiền chiếm 10%.
25