Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội tại xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định - Pdf 26

vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HỘP x
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phạm vi không gian 3
1.4.2 Phạm vi thời gian 3
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Vai trò của giới trong phát triển kinh tế - xã hôi 7
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong phát triển kinh tế và xã
hội 8
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
2.2.1 Tình hình phụ nữ trên thế giới 10
2.2.2 Một vài nét về tình hình phụ nữ ở Việt Nam và vai trò của phụ nữ Việt
Nam hiện nay 13
PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 20



viii
4.2.4 Phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội và cộng đồng 76
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ tại xã 79
4.3.1 Yếu tố khách quan 79
4.3.2 Các yếu tố chủ quan 80
4.3.3 Ảnh hưởng của các bên liên quan đến vai trò của phụ nữ 82
4.4 Các giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của phụ nữ 86
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
5.1 KẾT LUẬN 88
5.2 KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92

ix
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Giao Tiến trong 3 năm 22
Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu – lao động của xã Giao Tiến trong 3 năm 25
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Giao Tiến qua 3 năm 28
Bảng 3.4: Nội dung cần thu thập thông tin 30
Bảng 4.1: Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra 36
Bảng 4.2: Thông tin chung về phụ nữ ở các hộ điều tra 38
Bảng 4.3: Vai trò kiểm soát kinh tế, tài sản hộ gia đình 40
Bảng 4.4: Vai trò trong tiếp cận thông tin 42
Bảng 4.5: Người ra quyết định trong trồng trọt phân theo tính chất nghề
nghiệp của hộ 46
Bảng 4.6: Người ra quyết định trong trồng trọt phân theo mức độ làm ngoài
của nam giới 47
Bảng 4.7: Người thực hiện các khâu trong trồng trọt phân theo tính chất nghề

Hộp 4.6: Công việc của vợ trưởng một dòng họ 72
Hộp 4.7: Tâm sự của nữ chủ tịch hội nông dân: 78 xi
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT BQ

BQ LĐ
CC
CN
CNH – HĐH
DV
ĐVT
GT
GTSX
KD – DV
HND
HPN
HTXNN
KT – XH

NN
SL
TM – DV
TTCN
TN
TNHH

Giá trị sản xuất
Kinh doanh – dịch vụ
Hội nông dân
Hội phụ nữ
Hợp tác xã nông nghiệp
Kinh tế - xã hội
Lao động
Nông nghiệp
Số lượng
Thương mại - dịch vụ
Tiểu thủ công nghiệp
Thu nhập
Trách nhiệm hữu hạn
Thu nhập bình quân
Ủy ban nhân dân

1

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong xã hội văn minh phát triển, phạm trù giới luôn được đề cập trong
mọi chương trình phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia. Giới có vai trò
rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là người phụ nữ.
Phụ nữ Việt Nam chiếm 51,48% dân số và 48% lực lượng lao động toàn xã
hội và góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày
nay nhiều phụ không chỉ tham gia sản xuất giỏi mà họ còn tham vào các hoạt
động xã hội. Họ đã khẳng định được vị trí của mình bằng những thành công
không thua kém nam giới như kinh doanh, nghiên cứu khoa học, quản lý xã
hội…. Hình ảnh người phụ nữ hiện đại, năng động, thành công đã không còn

và thợ xây là những nghề được coi là truyền thống, các ngành này đã thu hút
không ít lực lượng lao động nam tham gia. Mặt khác Giao Tiến là xã đất chật,
dân số lại đông, nông nghiêp không thu hút hết được các lao động, các ngành
nghề không đáp ứng được hết lực lượng nam làm trong xã, vì những lý do đó
họ đã đi làm xa để tạo thêm thu nhập. Xã có lực lượng nam giới đi làm ăn xa
rất đông, khoảng hơn 80%, chỉ có chị em phụ nữ ở nhà. Ngoài nông nghiệp
chị em phụ nữ trong xã còn làm thêm các công việc như thêu, đan móc, may
công nghiệp… tạo thu nhập cho gia đình và cho xã hội. Ngoài sản xuất phụ
nữ tại xã có tham gia vào các công tác đoàn thể hay không, họ có còn chịu
ảnh hưởng bởi những quan niệm cũ hay không. Chính vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế xã hội tại xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”
3

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội từ đó đề xuất
một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ đồng thời góp phần phát triển
bền vững, ổn định kinh tế xã hội tại xã Giao Tiến, huyện Giao Thuỷ, tỉnh
Nam Định
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Phản ánh cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về giới trong kinh tế xã hội
(2) Phản ánh thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ ở xã Giao Tiến
huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định
(4) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của người
phụ nữ tại xã Giao Tiến huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các hoạt động thể hiện vai trò của phụ nữ trong kinh tế và trong xã hội
- Chủ thể nghiên cứu: Phụ nữ và các tổ chức liên quan đến phụ nữ

trọng phân tích sự khác biệt xã hội
* Giới và giới tính
Khái niệm giới lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh vào những năm 60 và
ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ 20 (UNDP 1997). Sự ra đời của khái
niệm này nhằm làm rõ hơn sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới ở khía cạnh
xã hội và sinh học, nhằm thực hiện sự phát triển tốt hơn các vấn đề của phụ nữ.
Theo giáo trình “Giới trong phát triển nông thôn” có định nghĩa như sau:
“Giới” là các mối quan hệ và tương quan về vai trò, trách nhiệm quyền
lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các
kiểu phân chia các nguồn lợi ích, khả năng tiếp cận tới nguồn lực.
5

“Giới tính” là sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa phụ nữ và nam giới.
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi giống. Vai
trò sinh học đó là đồng nhất, phổ biến và không thay đổi.
* Những đặc trưng cơ bản của giới
Do dạy và học mà có: Từ khi trẻ sinh ra đã được dạy dỗ để làm con gái
hay con trai theo cái chuẩn mực, khuôn mẫu trong xã hội. Cùng với thời gian,
trẻ bước đầu có nhận biết thì tự chúng bắt dầu bắt chước và hoặc học làm con
gái hay con trai.
Đa dạng: Những khác biệt trong quan niệm xã hội về nam giới và nữ
giới liên quan đến hiều mặt trong cuộc sống như công việc, vị thế, mức thù
lao, tính cách vv…
Luôn thay đổi: Những quan niệm của xã hội về phụ nữ và nam giới bị tác
động bởi nhiều yếu tố văn hóa, chính trị, kinh tế. Khi những yếu tố này thay
đổi thì một số quan niệm xã hội về giời cũng thay đổi theo.
Có thể thay đổi được: Khác với đặc trưng của giới tính là không thay đổi
được, nhưng giới có thể thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội và sự thay
đổi trong nhận thức và các chuẩn mực xã hội.
b. Giới và sự phát triển – Một số luận điểm chính

khuôn khổ nữ quyền xã hội chủ nghĩa. GAD không quan tâm đến phụ nữ một
cách riêng biệt mà chú ý tới cơ cấu xã hội theo giới và sự phân chia vai trò,
trách nhiệm và những mong đợi đặc thù giữa nam và nữ. GAD chú ý tác động
qua lại giữa nam và nữ trong quá trình phát triển. Các vấn đề phát triển được
xem tổng hòa và sự lồng ghép đảm bảo sự tham gia đầy đủ giữa nam và nữ,
không nhấn mạnh một cách biệt lập vai trò của phụ nữ trong cách tiếp cận
WID (Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003) Quan điểm GAD được thể
hiện nhiều trong việc thực hiện các chương trình và dự án phát triển nông
thôn. GAD cho rằng phụ nữ là chủ thể chủ yếu của sự đổi mới hơn là đơn
thuần là người hưởng lợi.
7

2.1.2 Vai trò của giới trong phát triển kinh tế - xã hôi
Nữ giới và nam giới đóng vai trò khác nhau trong ba mặt: Hoạt động sản
xuất tạo ra thu nhập trong gia đình; Tái sản xuất, sinh con và trách nhiệm nuôi
nấng cần thiết để đảm bảo, duy trì, tái sản xuất sức lao động; Thực hiện các
công việc quản lý cộng đồng (Trần Thị Quế,1999, Caroline Moser,1996).
a. Vai trò sản xuất
Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả nam giới và nữ giới làm
để tạo ra thu nhập và lấy tiền công. Nó còn bao gồm cả sản xuất hàng hóa có
giá trị trao đổi và sản xuất vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia đình, vừa có tính
sử dụng, nhưng cũng có giá trị trao đổi tiềm tàng. Đối với phụ nữ trong nông
nghiệp vai trò đó bao gồm công việc của những người nông đân độc lập.
Vai trò sản xuất của giới trong nông nghiệp và nông thôn cũng liên quan
đến việc quyết định sản xuất – kinh doanh (sản xuất sản phẩm và dịch vụ gì
và bao nhiêu, dùng cộng nghệ như thế nào?) quá trình tổ chức sản xuất kinh
doanh (ai điều hành lúc nào và như thế nào?), quản lý rủi ro và tận dụng cơ
hội trong kinh doanh (ai quy định điều gì? Và quyết định như thế nào khi xảy
ra rủi ro hay có cơ hội), quá trình quản lý thành quả sản xuất - kinh doanh.
b. Vai trò tái sản xuất

và nhóm xã hội dân sự và được kinh phí tự tạo của các tổ chức đó chi trả. Dù là
nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng đồng đều được tiền trực tiếp hoặc gián
tiếp bằng tiền công hoặc tăng thêm vị thế quyền lực. Thông thường các công
việc này do nam giới đảm nhiệm. Một số ít các vai trò do nữ đảm nhiệm.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong phát triển kinh tế
và xã hội
a. Quan điểm về giới và những phong tục tập quán
Trên thế giới ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh mối quan hệ
khăng khít giữa công bằng giới và phát triển nông thôn. Bình đẳng giới sẽ
9

đảm bảo cho phép tăng trưởng kinh tế bền vững và hiệu quả, gia đình xã hội phát
triển ổn định. Quan điểm lịch sử coi nhẹ nữ giới, trong chế độ xã hội phong kiến
vai trò của phụ nữ trong xã hội không được đề cao, họ phải tuân thủ những luật
lệ phong kiến và bị lệ thuộc vào chồng và con trai. Công việc chính của họ là
chăm sóc con cái và nội trợ, các hoạt động học tập thi cử và quản lý đấy nước
đều do nam giới chi phối. Các quan niệm này ít nhiều đã ảnh hưởng đến thế hệ
sau khiến cho nữ giới ít được đối sử ngang bằng với nam giới.
Một số nước Á Đông trong đó có Việt Nam còn lưu giữ nhiều phong tục
tập quán nhất là những vùng nông thôn nơi tiếp cận với nền kinh tế thị trường
còn yếu, văn minh thường đến sau cùng nên những hủ tục có cơ hội hoành
hành cản trở con người đặc biệt là phụ nữ nông thôn tham gia hoạt động, cống
hiến cho gia đình và xã hôi. Như vậy chính quan niệm phong tập quán là một
trong những nguyên nhân cơ bản cản trở trực tiếp sự tiến bộ giới và vai trò
của họ trong phát triển kinh tế xã hội.
b. Khả năng tiếp cận nguồn lực và thông tin
Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin nhờ có nó mà hoạt
động của con người diễn ra nhanh chóng, chính xác và hỗ trợ tích cực cho
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó trở thành nhân tố không thể thiếu trong
đới sống thường nhật. Thông tin không chỉ làm cho con người mở mang tầm

đang trở thành nạn nhân đầu tiên của tình trạng thất nghiệp. Theo báo cáo mới
được công bố về các khuynh hướngkinh tế toàn cầu của tổ chức lao động
quốc tế (ILO) cho biết lao động nữ là nạn nhân lớn nhất của sự suy thoái kinh
tế: năm 2009 dự kiến có 22 triệu phụ nữ mất việc làm.
Tuy nhiên lao động tự tạo việc làm, công việc không ổn định và liên
quan đến công việc nội trợ đã mở thêm cơ hội cho phụ nữ tham gia vào lực
lượng lao động nhưng lại thiếu an toàn, thiếu lợi nhuận và thu nhập thấp.
11
Khoảng cách về giới trong giáo dục tiểu học và trung học đang được rút
ngắn nhưng phụ nữ vẫn tụt hậu so với nam giởi ở một số nước Châu Phi và
Châu Á. Phụ nữ chiếm phần lớn trong số người mù chữ trên thế giới. Số
lượng phụ nữ được học cao đã được tăng lên ở hầu hết các nước trên thế giới,
thậm trí một số nước số lượng này còn bằng và cao hơn nam giới.
Ngày nay phụ nữ ngày càng thể hiện được vai trò của mình trong nhiều
lĩnh vực. Theo báo cáo của ngân hàng thế giới đến năm 1997 hơn 40% phụ nữ
trên thế giới đã tham gai hoạt động kinh tế. Hơn hai thập kỷ qua, các nước
phương tây lực lượng lao động nữ tham gia vào các ngành kinh tế càng tăng
gấp 2 lần lực lượng nam giới. ở Canada phụ nữ chiếm 70% trong lĩnh vực
kinh tế. Ngoài ra trong lĩnh vực kinh doanh có rất nhiều phụ nữ thành đạt họ
tự sáng lập những cơ sở sản xuất riêng của mình, thành lập công ty do mình
đứng đầu. Họ dám nghĩ dám làm vượt qua mọi khó khăn thử thách để tiến đến
thành công khiến nhiều người phải thán phục. Karen Darby - một doanh nhân
tràn đầy ý tưởng người Anh, bà đã có rất nhiều ý tưởng kinh doanh đầy táo
bạo và đã thành công trong thời buổi kinh tế nước Anh gặp rất nhiều khó
khăn. Mặt khác còn rất nhiều phụ nữ thành công trong lĩnh vực kinh tế này ở
Mỹ phụ nữ cũng mở cho mình những cơ sở kinh doanh nhỏ.
Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà các lĩnh vực khác như thể thao
người phụ nữ cũng đóng góp rất nhiều họ đem lại niềm tự hào cho dân tộc của
mình. Và đặc biệt ngày nay có rất nhiều phụ nữ tham gia linh vực nghiên cứu
khoa học và dành được rất nhiều giải thưởng có giá trị.

có nữ Tổng thống đầu tiên, Yo Swinson - nghị sĩ trẻ nhất trong Hạ viện Anh,
Campuchia có nữ phó thủ tướng đầu tiên, Nhật Bản có nữ ứng cử viên thủ
tướng đầu tiên, Rwanda: Quốc gia đầu tiên có 55% đại biểu Quốc hội là nữ.
Như vậy chúng ta thấy phụ nữ ngaỳy nay rất năng động họ có thể khẳng định
13
vai trò của mình ở bất kỳ lĩnh vực nào. Riêng ở Trung quốc, theo bà Bà Mạnh
Hiểu Tứ cho biết, trong số các nhà lãnh đạo Nhà nước Trung Quốc hiện nay,
có 8 nhà lãnh đạo là nữ. Ngoài ra, Trung Quốc còn có hơn 230 nữ lãnh đạo
cấp bộ và 670 nữ Vụ trưởng, Vụ phó tại hơn 600 thành phố của cả nước. Tỷ lệ
nữ trong đội ngũ công chức của Trung Quốc cũng tăng đáng kể, từ chưa đầy
1/3 trong năm 1995, tăng lên trên 40% như hiện nay. Như vậy ta thấy phụ nữ
ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trên tất cả mọi lĩnh vực, từ các
ngành mang tính chất xã hội đến các ngành mang tính chất khoa học, từ công
kinh doanh đến các công việc nghiên cứu đều có phụ nũ tham gia, không chỉ
đảm việc nhà mà công việc xã hội người phụ nữ cũng hoàn thành tốt các công
việc khác. Một lần nữa người phụ nữ muốn khẳng định mình trong xã hội.
2.2.2 Một vài nét về tình hình phụ nữ ở Việt Nam và vai trò của phụ nữ
Việt Nam hiện nay
Trong những thập kỷ gần đây, Việt Nam đạt được những thành tựu nổi
bật trong việc cải thiện đời sống nhân dân và giảm chênh lệch giới. Phản ánh
những nỗ lực đáng kể của đất nước trong xóa đói giảm nghèo và cam kết của
chính phủ tiến tới bình đẳng giới. Có được những kết quả này ngoài sự can
thiệp của xã hội của các ngành các cấp còn có sự nỗ lực không ngừng của bản
thân người phụ nữ.
Phụ nữ trong giáo dục: Giáo dục luôn là vấn đề then chốt của Việt
Nam, Với sự đầu tư vao giáo dục khá cao bù lại ngành giáo dục của chúng ta
đã đạt được những thành tựu đáng kể trong vấn đề nâng cao trình độ cho
người phụ nữ nói chung. Cụ thể số nữ sinh trung học phổ thông 2003-2004
gần bằng số học sinh nam và hơn cả nước ta đã đạt mục tiêu 30% só người có
trình độ sau đại học là nữ.

sự đồng cảm mà thậm chí họ còn bị đánh đập. Để hạn chế điều này không ai
hết chính người phụ nữ phải bảo vệ mình, phải biết đúng lên tìm hạnh phúc.
15
Bên cạnh đó những người thân trong gia đình đặc biệt là người chồng phải có
cái nhìn đúng đắn về người vợ của mình, cần phải nhận thức được vai trò của
họ trong xã hội.
Những bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại
* Chủ hộ gia đình thường là nam giới
Hiện nay, kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò trọng yếu trong những
thành công của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều chính sách nhằm thúc
đẩy sự phát triển kinh tế hộ gia đình luôn hướng vào chủ hộ - thường là nam
giới, do vậy, nam giới ở nông thôn trên thực tế đã thụ hưởng được nhiều
thành quả của việc trao quyền trong quá trình cải cách kinh tế hơn hẳn phụ
nữ. Một kết quả của quá trình này là hầu hết là các chủ trang trại nông nghiệp
và lâm nghiệp đều là nam giới. Mặc dù bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường
ở điểm xuất phát tương tự như nam giới, xong có rất ít phụ nữ trở thành chủ
trang trại hoặc chủ doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn.
* Đại diện của phụ nữ ở các cấp ra quyết định trong toàn ngành còn rất ít
Hiện có quá ít cán bộ chủ chốt là nữ trong toàn ngành NN & PTNT.
Tính chung tất cả các Cục, Vụ, Viện, Tổng Công ty và các trường trong
ngành chỉ có 5,7% cán bộ lãnh đạo ( cấp phó và tương đương)là nữ. Trên toàn
quốc phụ nữ chỉ chiếm 4,5% lãnh đạo các UBND xã; 4,9% lãnh đạo UBND
huyện và 6,4% lãnh đạo UBND tỉnh. Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ
trong việc ra quyết định là yếu và chưa tương xứng với khối lượng công việc
và trách nhiệm mà họ gánh vác.
*Bất bình đẳng trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu
Trong thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình
cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ hộ là nam giới
chiếm đại đa số. Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế
chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc

công ở cấp cơ sở là nam giới và họ cũng thường coi các nông dân nam ( chủ
hộ gia đình) là đối tượng mục tiêu của các hoạt động khuyến nông.
17
Thiếu việc làm vẫn đang là vấn đề bức xúc ở nông thôn. Tỷ lệ phụ nữ
nông thôn thiếu việc làm đã tăng lần trong giai đoạn 1996 – 2002, đặc biệt
khó cạnh tranh để kiếm việc làm thêm do họ thiếu kỹ năng lao động cần thiết
cũng như thiếu vốn để đa dạng hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Và hiển
nhiên trong thời buổi hội nhập vấn đề này càng gặp khó khăn hơn, khi mà chỉ
có 9,2% lực lượng lao động nữ ở nông thôn từng được đào tạo kỹ thuật, trong
khi tỷ lệ này ở nam giới là 15,2%.
Nguyên nhân chính của những bất bình đẳng giới trong NN & PTNT
hiện nay là do nhận thức và quan niệm truyền thống về các vấn đề giới còn
hạn chế và chưa đầy đủ như: cách ứng xử của xã hội vẫn còn ảnh hưởng khá
rõ rệt của chế độ phụ hệ; nếp gia trưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các
quan hệ gia đình, đặc biệt là ở nông thôn. Nói chung, đa số phụ nữ giữ một
vai trò thứ yếu so với nam giới trong gia đình suốt cuộc đời họ.
Thay đổi quan niệm và cách ứng xử của xã hội là một quá trình lâu dài
và phức tạp, song nó là quá trình mang tính chất nền tảng để tạo ra và duy trì
sự thay đổi thái độ của các cá nhân, tổ chức và trong toàn cộng đồng, thiết
nghĩ cần có những giải pháp tích cực và đồng bộ hơn nữa để xích dần khoảng
cách này trong thực tế.
 Sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với phụ nữ
Chăm lo quyền lợi của phụ nữ và đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ
nữ là quan điểm xuyên suốt lịch sử 79 năm hoạt động của Đảng và 61 năm
hoạt động của nhà nước và xuyên suốt cả cuộc đời của bác Hồ. Luận cương
chính trị năm 1930 của Đảng đã khảng định “vấn đề giải phóng phụ nữ và sự
nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong mười nhiệm vụ quan trọng của Đảng”.
Năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, tại điều 9 của hiến pháp nêu rõ: “phụ nữ bình đẳng với nam giới trên
mọi phương diện và được hưởng mọi quyền tự do của công dân”. Các hiến

Đảng và nhà nước về sự bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.
Đảng và nhà nước ta đã thúc đẩy và theo sát những bước tiến của phụ
nữ. Luôn ý thức “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Đảng cũng đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của phụ nữ nông thôn,
thúc đẩy hơn để họ trở thành nòng cốt thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội trong
khu vực nông thôn Việt Nam.

Trích đoạn ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Tình hình dân số và lao động của xã Tình hình sản xuất kinh doanh của xã Ảnh hưởng của các bên liên quan đến vai trò của phụ nữ Các giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của phụ nữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status